Rời Flatiron, chúng tôi đi bộ về phía Nam, trên những vỉa hè đầy nắng của đường Broadway và quảng trường University, cho đến tận Greenwich Village. Manhattan kín đặc người. Hội nghị bầu ứng cử viên của đảng Cộng hòa đã thu hút một lượng người lớn kinh khủng: phóng viên, đại biểu, binh sĩ, những người ủng hộ. Ở đây thì không, nhưng xung quanh Vườn hoa Quảng trường Madison, nhiều con phố đã phải cấm lưu thông hoặc chỉ dành riêng cho những chiếc xe buýt làm nhiệm vụ chở người tham dự đại hội từ khách sạn đến tận nơi tổ chức sự kiện.
Tuy nhiên, theo đúng truyền thống, New York có thể là bất cứ thứ gì ngoại trừ một thành trì của đảng Cộng hòa. Tôi đã từng ở Manhattan, vào mùa xuân năm 2004, để lấy thực tế cho một cuốn tiểu thuyết. Tôi vẫn nhớ bầu không khí thù địch ngự trị nơi đây bởi những người ủng hộ G. w. Bush đã chọn thành phố này làm nơi tổ chức hội nghị của họ, với hy vọng bằng cách đó sẽ làm sống dậy nỗi xúc động trước loạt vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín. Hồi đó, New York căm thù các đảng viên Cộng hòa, đặc biệt là qua Michael Moore, hàng trăm nghìn người biểu tình chống Bush đã chiếm cứ thành phố để phản đối những lời dối trá và cuộc chiến phi pháp mà tổng thống của họ đang tiến hành tại Iraq. Manhattan như thể bị bao vây. Những cuộc biểu tình đã biến thành vô số cuộc đụng độ, kéo theo hàng trăm vụ bắt giữ. Hình ảnh những đảng viên Cộng hòa, bị vây hãm trong Vườn hoa Quảng trường Madison với rào chắn là những khối xi măng và được bảo vệ bởi hàng nghìn cảnh sát, đã được lan truyền khắp thế giới. Việc ấy cũng không ngăn được Bush tái đắc cử, nhưng đảng Vĩ đại Kỳ cựu cũng không trưởng thành hơn sau vụ đó.
Mười hai năm sau, nước chảy chân cầu. Và chiều thứ Bảy hôm nay, dù các lực lượng gìn giữ trật tự được huy động đông đảo, không khí lại có vẻ êm ả một cách ngạc nhiên. Phải nói rằng, lần đầu tiên, đảng Cộng hòa đã chọn một ứng cử viên trẻ và ôn hòa, tưởng như vừa bước ra từ một loạt chương trình truyền hình của Shonda Rhimes. Tad Copeland, thống đốc bang Pennsylvania, đang sát cánh cùng Hillary trong các bảng thống kê kết quả điều tra.
Ủng hộ phá thai, bảo vệ môi trường, ủng hộ việc kiểm soát vũ khí và bảo vệ các quyền của người đồng tính, Copeland khiến cho một phần đáng kể những người trong chính phe của ông bối rối, thậm chí bực tức. Nhưng sau cuộc đối đầu kịch liệt trong vòng bầu cử sơ bộ, ông đã gây ngạc nhiên khi hạ sát nút Donald Trump và Ted Cruz, hai ứng cử viên bảo thủ cực đoan của đảng Cộng hòa.
Hiện giờ, động thái của chiến dịch đang nghiêng về phía “Barack Obama da trắng”, biệt danh mà giới báo chí đã gán cho ông. Cũng giống như tổng thống đương nhiệm, Copeland bắt đầu sự nghiệp với vai trò là nhà hoạt động xã hội trước khi làm giảng viên luật hiến pháp tại trường Đại học Philadelphia. Xuất thân từ tầng lớp bình dân và đang sung sức ở độ tuổi xấp xỉ ngũ tuần, Copeland lôi kéo và thu hút một phần lá phiếu của nữ ứng cử viên đảng Dân chủ, già hơn và được xem như xuất thân từ một triều đại chính trị.
Tôi nhìn đồng hồ. Còn lâu mới đến cuộc hẹn tiếp theo, và tôi nhận thấy Caradec không còn nhanh nhẹn nữa mà đang lê bước được một lúc rồi.
— Một đĩa hàu chăng, ông nghĩ sao?
— Không từ chối, Marc trả lời. Tôi bắt đầu thấy hơi mệt. Tác động của lệch múi giờ…
— … và hẳn là cú sốc cảm xúc vì đã hạ Lacoste nữa.
Ông nhìn tôi, thản nhiên.
— Đừng mong tôi than khóc cho gã đó.
Tôi ngẩng đầu nhìn lên để định vị.
— Theo tôi nào!
Tôi biết một địa chỉ ở khu này. Một tiệm sò ở góc giao giữa đường Cornelia và Bleecker, nơi anh bạn Arthur Costello, một nhà văn người New York có tác phẩm được xuất bản tại cùng nhà xuất bản ở Pháp với tôi, đã dẫn tôi đến nhiều lần.
Caradec theo gót tôi và để tôi dẫn đến tận một con phố nhỏ nằm lọt giữa những tòa chung cư xây bằng gạch đỏ, hai bên là hai hàng cây rực rỡ sắc màu.
— Hello guys, join us anyivhere ai the bar![1]
Mỗi lần đẩy cánh cửa của Oyster Bar, tôi lại nhẹ người vì không phải gặp khách du lịch ở đó.
— Chỗ này dễ chịu đấy, Marc vừa nhận xét vừa ngồi xuống một trong những chiếc ghế đẩu đặt quanh quầy bar.
— Tôi biết là ông sẽ thích mà.
Tại Oyster Bar, thời gian ngưng đọng lại đâu đó ở khoảng đầu những năm 1960. Ta đang ngồi trong một nhà hàng trên bến câu cá thuộc New England, nơi nữ nhân viên phục vụ gọi bạn là “darling” [2] khi mang món khai vị là bánh quy giòn ra. Nơi chiếc radio đang phát những bài hát của Richie Valens, Johnny Mathis và Chubby Checker. Nơi ông chủ kẹp bút chì sau vành tai. Nơi dâu tây có mùi vị của dâu tây. Nơi người ta không biết đến cả sự tồn tại của Internet và Kim Kardashian.
Chúng tôi gọi một khay “Đặc biệt” kèm chai vang trắng Sancerre. Giờ đã muộn, nhưng không ngăn được chúng tôi chạm cốc, và trong khi nâng cốc, một cảm giác biết ơn mãnh liệt xâm chiếm tôi. Từ khi tôi quen ông, Caradec luôn có mặt vì tôi và vì con trai tôi. Và cả hôm nay cũng thế, ông đã không ngần ngại lên máy bay và theo tôi đến tận New York. Vì tôi, ông đã phải nổ súng và rơi vào tình thế buộc phải hạ sát một người.
Cũng phải sáng suốt thừa nhận điều này: ngoại trừ Claire và ông, tôi không còn ai trên đời này. Tôi chưa từng có điểm gì chung với em gái; mẹ tôi từ giờ về sau sẽ sống ở Tây Ban Nha, và hình như mới chỉ đến thăm cháu nội được hai lần kể từ khi bé ra đời; còn bố tôi, ông vẫn sống ở miền Nam nước Pháp, nhưng đã làm lại cuộc đời một lần nữa với một cô gái hai mươi lăm tuổi. Chính ra mà nói, tôi không giận bất kỳ người nào, nhung mối quan hệ giữa tôi với họ rất xa cách, thậm chí là chẳng có quan hệ gì. Một gia đình đáng buồn.
— Cảm ơn ông đã ở đây, Marc ạ. Tôi thật sự rất tiếc vì đã kéo ông vào vụ việc mệt mỏi này.
Ánh mắt chúng tôi giao nhau. Nháy mắt, đồng cảm, ngượng ngùng.
— Cậu đừng lo. Chúng ta sẽ kéo được cô nàng Claire Cariyle của cậu ra khỏi vụ này.
— Ông chỉ nói thế để động viên tôi thôi.
— Không, tôi thực sự nghĩ vậy. Việc điều tra đang có tiến triển. Chúng ta là một đội ăn ý.
— Thật sao?
— Ờ, cậu làm điều tra viên cũng không tồi đâu.
Cuộc gặp Alan Bridges đã nạp thêm nhiên liệu cho động cơ trong mỗi chúng tôi. Chúng tôi đã nhặt nhạnh được những chi tiết mới, nhưng tôi vẫn luôn có cảm giác đang đứng trước một cuộn len khổng lồ cần gỡ rối.
Marc đeo kính và rút từ trong túi ra một bản đồ chắc đã lấy ở sảnh khách sạn.
— Được rồi, chỉ cho tôi xem các sự kiện trong ngày Joyce chết đã xảy ra ở đâu đi.
Theo các chỉ dẫn của tôi, ông đánh dấu chữ thập ở vị trí nhà Joyce tại Harlem, rồi nhà Florence Gallo trong khu Đông Hạ Manhattan, cách đó mười lăm ki lô mét.
— Kịch bản của cậu là gì? ông vừa hỏi vừa rót thêm rượu vang.
Tôi nói ra suy nghĩ của mình:
— “Anh sẽ không tin vào tai mình đâu”: Florence đã nói thế với Alan ngay sau khi gửi cho ông ấy một email mà ông ấy khẳng định là chưa từng nhận được.
— Hừm.
— Cô ấy không nói: “Anh sẽ không bao giờ tin chuyện đó” hoặc “Anh sẽ không bao giờ tin vào mắt mình.” Cô ấy đã nói: “tai mình”. Vậy theo tôi, rõ ràng là thế này: cô ấy đã gửi cho ông ấy một tệp âm thanh.
— Đồng ý, nhưng là tài liệu gì?
— Một cuộc trò chuyện mà cô ấy vừa ghi âm lại bằng điện thoại.
Caradec bĩu môi nghi ngờ; có thể là đúng, cũng có thể sai. Nhưng tôi không để nỗi hoài nghi của ông lây sang mình.
— Ông muốn một kịch bản, vậy thì đây. Trước hết phải nói là, Florence đã không lén ghi âm Joyce.
— Điều gì cho phép cậu khẳng định như thế?
— Trước hết, đó không phải kiểu làm việc của cô ấy, và tôi vẫn luôn nghĩ rằng chính Joyce là người đã chủ động tìm gặp Florence để kể cho cô ấy nghe về chuyện của bà.
— Vậy là cậu tin rằng họ đã phối hợp với nhau để ghi âm một người thứ ba?
— Đúng, một người mà Joyce đã hẹn gặp tại nhà. Kế hoạch là như thế này: Joyce thả mồi câu để khiến người đó nói trong khi bà thực hiện một cuộc gọi bằng chiếc điện thoại dùng thẻ trả trước kia. Ở đầu dây bên kia, Florence nghe và ghi âm lại cuộc trò chuyện. Thế rồi đột nhiên…
—… cuộc trò chuyện biến thành cãi vã, Marc tiếp lời tôi, nhập vai vào trò chơi. Có thể người kia đã nhận ra là mình bị ghi âm. Dù thế nào, người đó cũng đã cư xử hung bạo và bắt đầu đánh Joyce, bà ấy liền gào lên.
— Thế là Florence phát hoảng. Cô ấy chạy xuống cabin điện thoại công cộng ở dưới nhà để gọi báo về vụ hành hung. Chính xác những gì được nêu trong các tài liệu mà Gladys đã đưa cho tôi.
Trong lúc nhà hàng mang khay hàu ra, tôi rút tập tài liệu photo từ trong túi rồi đưa cho Marc. Ông lại phải đeo kính lần nữa để đọc lướt qua bản sao lưu cuộc gọi 911.
Ngày tháng: thứ Bảy ngày 25 tháng Sáu năm 2005. Giờ: 3 giờ chiều.
“Tôi gọi để báo rằng đang có một vụ tấn công bạo lực, ở số 6 phố Bilberry, nhà của chị Joyce Carlyle. Các anh nhanh lên cho! Có người đang giết chị ấy!”
Cho đến tận đây mọi chuyện đã trùng khít với nhau một cách hoàn hảo. Chỉ trừ có một điều là sáu phút sau, cảnh sát đã đến tận nơi và không nhận thấy điều gì khả nghi. Tôi đưa mắt nhìn qua vai Marc rồi lấy bút khoanh tròn đoạn biên bản nói rõ rằng hai cảnh sát đã nhìn tường tận toàn bộ khung cảnh bên trong ngôi nhà, kể cả phòng tắm, và không hề nhận thấy bất cứ dấu vết bẻ khóa, ẩu đả nào, cũng không hề có vết máu.
— Thế nhưng đúng là thi thể Joyce được phát hiện ở đó…, Caradec thì thầm.
— Đúng thế, vào ngày hôm sau. Bà Angela, chị gái Joyce, nhìn thấy bà ấy nằm dưới chân lavabo. Bà ấy còn khẳng định với tôi là khắp nơi trong phòng đều có máu.
— Thật khó hiểu, Marc thừa nhận. Và thế là mớ lý lẽ hỗn tạp của chúng ta cũng tiêu luôn.
Tôi thở dài và nghiến răng. Rồi bực dọc đập tay xuống mặt quầy.
❀ ❀ ❀
[1] Chào hai anh, các anh có thể ngồi chỗ nào tùy ý! - tiếng Anh trong nguyên bản.
[2] Cưng - tiếng Anh trong nguyên bản.