Không thể tin được…
Tôi vặn vẹo người trên ghế. Những tư liệu lưu trữ của New York Herald giúp lần lại thông báo về cái chết của Florence dưới dạng một văn bản ngắn đăng trên số ra ngày 27 tháng Sáu năm 2005:
Chúng tôi vô cùng đau buồn thông báo về sự ra đi đột ngột của người bạn, người đồng nghiệp của chúng tôi là Florence Gallo, sau một vụ tai nạn nhảy base jump. Florence hai mươi chín tuổi. Cô là người sống vì công việc. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên lòng nhiệt huyết, sự vui vẻ, tính cách chín chắn, linh cảm sắc bén và sự quyết đoán của cô, những điều đã tạo nên một phụ nữ và một phóng viên đặc biệt.
Tất cả các thành viên trong ban biên tập đều vô cùng đau lòng. Chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia đình và người thân của cô.
Bài viết được minh họa bằng một bức ảnh lạ lùng. Mái tóc vàng rực, vẻ trẻ trung rạng rỡ, đi ủng cao và mặc quần soóc, Florence đang tạo dáng trên mô tô. Một bản sao gần như hoàn hảo của Brigitte Bardot vào cuối những năm 1960, thời của xe Harley Davidson và thời trang mang phong cách Roger Vivier.
Tôi cũng vậy, tôi cũng đang bị sốc. Trong khi tôi đang nghĩ cuối cùng đã tìm được ai đó dứt khoát có thể giúp mình, thì lại được biết người đó đã chết.
Tôi pha thêm một cốc cà phê nữa trong lúc những câu hỏi cứ dồn dập nảy ra trong đầu. Tôi lại ngồi xuống trước màn hình và mở đồng thời nhiều cửa sổ trình duyệt, để có thể cùng lúc tiến hành hàng loạt tìm kiếm. Tôi biết rằng thông tin đang ở đó, ngay trong tầm nhấp chuột.
Bước đầu, tôi thu thập đủ thông tin để phác ra phần tiểu sử của nữ phóng viên. Mang quốc tịch Thụy Sĩ, Florence đã ở trong cái nôi truyền thông từ rất sớm. Bố cô là phóng viên thể thao của tờ Buổi sáng còn mẹ cô đã có thời gian dài làm người dẫn cho một chương trình văn hóa trên sóng của đài RTS. Cô đã học trung học ở Geneva, rồi năm mười chín tuổi cô đã thực tập tại nhiều tòa soạn khác nhau, trong đó có 24 giờ, thời báo của bang Vaud. Đồng thời, cô theo học tại CRFJ, Trung tâm đào tạo phóng viên thuộc vùng nói tiếng Pháp ở Thụy Sĩ. Năm 2002, cô làm một năm ở Luân Đôn cho kênh kinh tế Bloomberg TV, rồi vượt Đại Tây Dương để đến định cư tại New York, nơi lúc đầu cô viết bài cho Prance-Amérique, tờ báo tiếng Pháp ở Mỹ, sau đó gia nhập ban biên tập New York Herald vào năm 2004.
Cửa sổ thứ hai. Google hình ảnh. Tất cả các bức ảnh của Florence hiện có trên mạng đều cho thấy một cô gái xinh đẹp, có dáng dấp thể thao, khỏe mạnh, lúc nào cũng đang hoạt động, nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Một vẻ đẹp dễ gần, không cao ngạo, gợi cảm giác dễ mến. Một cô gái trẻ gần giống với hình ảnh những bài báo cô viết. Tôi tài về cả mấy chục bài: nhiều bài viết chân dung nhân vật, những đề tài căn bản và những bài điều tra về đời sống chính trị, các vấn đề xã hội, vấn nạn xã hội. Không đao to búa lớn, ngôn từ đúng mực. Văn phong của cô trôi chảy và cân đối. Rộng lượng mà không chiều ý độc giả. Không khoan nhượng, nhưng cũng không vô liêm sỉ. Được trình bày một cách thấu đáo, những trang viết của cô vẽ nên chân dung một New York muôn hình vạn trạng, phức tạp, sinh động như một tấm kính vạn hoa. Một xã hội Mỹ đôi khi mất phương hướng và đau khổ, nhưng xuyên suốt là một nghị lực và cái nhìn hướng về tương lai. Đặc biệt, không thể phủ nhận rằng Plorence có nang khiếu gây dựng quan hệ với mọi người, cô có mối thiện cảm với chủ thể trong các bài báo của mình giống như tình cảm của một số tiểu thuyết gia dành cho các nhân vật của mình.
Đọc những bài báo của cô, tôi cố gắng đoán biết mối liên hệ gắn kết cô với Joyce. Làm thế nào mà hai người phụ nữ nầy lại quen biết nhau? Phải chăng Plorence đã liên hệ với Joyce, hay ngược lại? Linh tính của tôi hướng đến giả thiết thư hai. Sau khi con gái bị bắt cóc, nhận thấy cơ may tìm được con gái còn sống ngày càng giảm đi, Joyce đã quyết định nhờ đến báo chí giúp đỡ. Chính xác là bà có ý tưởng gì trong đầu? Tôi còn chưa biết, nhưng sẵn sàng cá rằng bà chỉ đơn giản là tìm đến người có những bài viết mà bà đánh giá cao.
Trang web mới. Tôi giữ điều này đến cuối cùng, mặc dù nó đã đập vào mắt tôi ngay lập tức. Sự thật khiến tôi bán khoăn nhất: ngày Florence chết, gần với ngày Joyce qua đời đến mức tôi khó mà tin được đó chỉ là chuyện ngẫu nhiên. Tôi vừa bắt đầu tìm kiếm thông tin chi tiết hơn, vừa lo sợ về những gì mình sắp phát hiện ra. Lúc này, đây không chỉ còn là cuộc điều tra về vụ mất tích hoặc bắt cóc cô gái tôi yêu. Mà có thể là phát hiện ra sự thật về một vụ giết người hàng loạt chưa bị trừng phạt: Joyce, Florence, và những người khác nữa, sao lại không chứ…
Tìm kỹ hơn tên trang web, tôi moi ra được một bài báo đưa tín toàn diện hơn đôi chút về cái chết của Florence Gallo. Một bài viết ngắn đăng trên tờ báo địa phương của Virginia, tờ Lafayette Tribune:
TIN VẶT
Sáng hôm qua, Chủ nhật ngày 26 tháng Sáu, xác một phụ nữ trẻ đã được phát hiện trong khu vực Công viên Sông Bạc (Tây Virginia).
Theo ban quản lý công viên, nạn nhân - cô Florence Gallo, một phóng viên người New York - có vẻ như đã nhảy hỏng cú nhảy base jump, một môn nhảy dù cảm giác mạnh theo đó người chơi nhảy từ một điểm cố định chứ không phải từ máy bay.
Những người leo núi đã tìm thấy thi thể nữ vận động viên này gần bờ sông và thông báo cho nhà chức trách. Florence Gallo biết rất rõ vùng này và là một vận động viên nhảy base jump lão luyện. Trước đây, cô đã từng thực hiện nhiều cú nhảy từ cây cầu thép này, đặc biệt là trong những buổi trình diễn nhảy base jump được tổ chức trong khuôn khổ các lễ hội của “Ngày hội cầu”. Lần này là một cú nhảy không có người xem, xảy ra bên ngoài khu vực được phép thực hiện hoạt động này. Việc điều tra được giao cho văn phòng cảnh sát trưởng quận Fayette. Lúc này, nguyên nhân tai nạn đang là hướng điều tra ưu tiên. Theo những nhận định ban đầu, dù của cô Gallo đã không mở, lý do vẫn đang tiếp tục được xác minh.
Tôi nhìn ngắm vài bức ảnh chụp cây cầu. Cầu Sông Bạc là một điểm sáng nổi tiếng trong giới thể thao cảm giác mạnh. Nằm trong dãy Appalachian, khối kiến trúc bằng thép rất ấn tượng này cao hơn ba trăm mét so với mặt nước. Nghĩ đến việc người ta có thể nhảy dù từ trên cầu xuống khiến tôi rùng mình.
Trong suốt thời gian dài, cây cầu từng là một trong những niềm tự hào của vùng này trước khi bị cấm lưu thông vào giữa những năm 1990 sau nhiều cảnh báo về an toàn. Mặc dù vậy, nó vẫn được bảo trì và mở cửa cho người đi dạo và du khách đến thăm Công viên Sông Bạc. Từ thành cầu, môn nhảy base jump vẫn được phép thực hiện, nhưng trong khuôn khổ chặt chẽ và với những biện pháp an toàn nghiêm ngặt mà rõ ràng là Florence Gallo đã không tuân thủ.
Tôi tìm kiếm trong đống tài liệu lưu trữ của tờ báo để xem việc điều tra có đưa đến kết luận gì không, nhưng không tìm thấy gì. Một trang tìm kiếm mới, theo hướng trang web của #WinterSun. Bằng cách điền thông tin vào một mẫu khai có sẵn, ta có thể gửi email cho tổng biên tập, Alan Bridges. Tôi không trông chờ điều gì đặc biệt, nhưng một lần nữa vẫn thử vận may, xin hẹn gặp để gọi nhớ những kỷ niệm của anh về Florence Gallo.
Tin nhắn vừa được gửi đi thì điện thoại di động của tôi đổ chuông. Alexandre. Ở New York lúc này đang là 9 giờ 30, tức là 15 giờ 30 ở Pháp.
— Chào Alex.
— Chào anh. Em tranh thủ giờ nghỉ để gọi lại cho anh.
— Cậu tốt quá. Tin mới tốt lành chứ?
Một tiếng thở dài buột ra ở đầu dây bên kia.
— Không, thật đáng tiếc. Điều ta lo ngại đã xảy ra. Rạng sáng nay, người ta đã chẩn đoán có một bọc máu tụ trong não Clotilde Blondel.
— Chết tiệt…
— Họ đã mổ cấp cứu cho bà ấy, chỗ chảy máu sâu và khó xác định. Bản thân ca mổ diễn ra không tệ, nhưng bạn của anh đang bị suy hô hấp. Lúc này, bà ấy vẫn đang hôn mê.
— Cậu vẫn theo dõi tiếp nhé?
— Cứ tin ở em.
Vừa gác máy, tôi đã nhận thấy hai email gần như đến cùng lúc trong hộp thư điện tử của mình. Cứ như thể May Soo-yun và Alan Bridges đã thống nhất trước với nhau: hoàn toàn trái ngược với những gì tôi chờ đợi, họ sẵn lòng dành thời gian cho tôi và đồng ý gặp khi nào tôi muốn. Tôi vừa căn giờ để hẹn với họ hai cuộc gặp nối tiếp nhau trong ngày, vừa tự hỏi về sự nhanh chóng và mức độ thành thật trong câu trở lời của họ. Theo suy diễn, không ai trong số hai nhân vật của công chúng này có lý do nào thực sự để giúp tôi. Cách giải thích duy nhất là họ đang tìm hiểu xem tôi biết được gì về vụ này…
Chín giờ ba mươi. Rõ ràng là con trai tôi đã kết thúc giấc ngủ nướng. Từ phía bên kia cánh cửa ngăn hai phòng, tôi nghe thấy tiếng bé bi bô hạnh phúc và vui vẻ. Théo đang bập bẹ tập hát nghe khá thuyết phục bài Get Back của nhóm Beatles, bài hát ưa thích của bé từ hai tuần nay. Tôi mở hai cánh cửa để đánh cắp của bé vài nụ cười trong lúc gọi cho lễ tân và đặt trước người trông trẻ. Rõ ràng là tràn đầy phong độ, Théo chuyển sang diễn lại màn Papaoutai tươi vui. Trong nửa giờ tiếp theo, tôi sẽ chỉ chăm sóc cho bé: tắm gội từ đầu đến chân bằng xà phòng Marseille, đóng bỉm, mặc bộ body, quần áo sạch thơm mùi oải hương.
— Bít ky! Bít ky!
Vừa đứng xuống đất, cái dạ dày có chân đó đã ngấp nghé hộp Oreo mà bé phát hiện ra trong chiếc giỏ đặt cạnh quầy bar mini.
— Không, không, không ăn bích quy lúc này. Bây giờ là giờ uống sữa. Nào, đi thôi! Ta sẽ uống ở dưới lầu.
— Nào, đi! bé nhắc lại.
Tôi lấy chiếc túi đựng tất cả đồ đạc của hai bố con, và trước khi đóng cửa, tôi thầm kiểm lại danh sách những thứ nhất thiết không được quên: Fifi: có! Bình sữa: có! Yếm: có! Cuốn truyện T’choupi: có! Ô tô đồ chơi: có! Bỉm để thay: có! Giấy ướt: có! Khăn giấy: có! Sáp màu Crayola: có! Vở tô màu: có!
Yên tâm, tôi bước ra hành lang. Chúng tôi chỉ vừa bước chân vào thang máy thì… “Bố, tu ti.” Chết tiệt, tôi lại quên cái núm vú đáng ghét đó.
— Con không thể nói trước được sao, hở?
Phật ý. Nước mắt cá sấu phụ họa. Về phần mình, tôi cũng không chịu sám hối:
— Thôi nào, đừng đóng kịch nữa, diễn viên tồi ạ!
Quay lại phòng, năm phút để tìm thấy núm ti (dưới gầm giường, phủ một lớp bụi), rửa núm ti, cảnh báo có mùi lạ, kiểm tra lại, khẳng định có sát khí, thở dài não nuột, lại thay bỉm, lên con đói, tâm kịch, tội lỗi, thương thuyết đủ kiểu. Mất thời gian kinh khủng. Lại thang máy. Tranh thủ chiếc gương để vuốt lại tóc. Tôi rồi đến bé. Một nụ cười và mọi thứ đều ổn. Bé và tôi.
Đã quá 10 giờ khi thang máy xuống đến sảnh. Cùng lúc đó, từ bên kia sảnh, cánh cửa ra vào nặng nề của khách sạn mở ra trước một vóc dáng đồ sộ. Khuôn mặt Théo sáng lên.
— Mac! Mac! bé hét lên và chỉ tay về phía người khách đứng giữa sảnh.
Tôi quay lại và nhíu mày. Không thể tin vào mắt mình, nhưng tôi lại cảm thấy nhẹ nhõm lạ lùng: Marc Caradec đã đến New York gặp tôi!