Ngay khi taxi vừa qua cầu Brooklyn, tôi đã gặp lại cảnh tượng bành trướng thân thuộc của Manhattan. Tôi đã không đặt chân đến đây từ khi Théo ra đời và lúc này tôi nhận ra mình nhớ bầu trời màu xám cùng những xung động có sức hấp dẫn diệu kỳ của nơi này đến mức nào.
Tôi đã biết New York từ khi mười tám tuổi. Vào mùa hè năm thi tốt nghiệp tú tài, trong một con bốc đồng, tôi đã theo một cô nàng Đan Mạch mà tôi yêu hồi đó đến tận Manhattan. Ba tuần sau khi chúng tôi đến nơi, Kirstine - khi ấy đang làm chân trông trẻ ở khu Đông Thượng Manhattan - đột nhiên quyết định rằng thiên tình sử của chúng tôi đã chấm hết. Tôi đã không chuẩn bị tính thần đón nhận chuyện này, và cảm thấy đau đớn đến xé lòng, nhưng cảm giác say sưa khi được khám phá thành phố đã nhanh chóng giúp tôi khuây khỏa trong cú thất tình đầu tiên này.
Tôi ở lại Manhattan một năm. Những tuần đầu, tôi tìm được việc làm trong một nhà hàng phục vụ bữa tối ở Đại lộ Madison, rồi làm đủ các việc vặt khác: bán kem, bồi bàn trong một nhà hàng Pháp, nhân viên trong một cửa hàng cho thuê băng đĩa, bán sách cho một cửa hàng ở khu Đông Manhattan. Một trong những thời kỳ giàu có nhất đời tôi. Ở New York, tôi đã gặp gỡ những người ghi dấu ấn trong tôi mãi mãi, và đã trải qua những sự kiện có tính quyết định góp phần tạo nên phần còn lại của cuộc đời tôi. Từ đó cho đến khi Théo ra đời, tôi quay trở lại Manhattan ít nhất hai lần mỗi năm, với cảm giác hào hứng vẫn còn nguyên vẹn.
Tôi tranh thủ mạng Wi-Fi trên máy bay để trao đổi email với bộ phận lễ tân của Bridge Club tại khách sạn TriBeCa nơi tôi luôn lưu lại từ mười năm nay, và mặc dù mang cái tên đó[1] nhưng nơi này lại chẳng chứa chấp bất cứ hội chơi bài nào. Họ hết lời ca ngợi dịch vụ trông trẻ với những nhân viên được tuyển chọn kỹ càng, và tôi đã thuê một cô để chăm sóc con trai tôi những lúc tôi phải đi điều tra. Tôi cũng đã thuê một chiếc xe đẩy và lập danh sách những thứ đồ cần mua sắm mà khách sạn đề nghị thực hiện giúp tôi: hai gói bỉm loại 12-15 kg, giấy ướt, bông, sữa tắm gội trẻ em và cả đống hộp đồ ăn giặm.
“Có vẻ con trai anh không kín tiếng cho lắm!” người phụ trách khoang hành khách đã buông ra câu đó với tôi vào lúc xuống máy bay. Đúng là một câu nói hoa mỹ: Théo đúng là không thể chịu nổi và khiến tôi phải xấu hổ. Mệt mỏi, phấn khích, bé đã gây ồn ào trong suốt chuyến bay, không ngồi yên lấy một giây, quây rầy tiếp viên và các hành khách khác trong khoang hạng thương gia. Bé chỉ ngủ thiếp đi trong chiếc taxi đưa chúng tôi đến Bridge Club.
Đến khách sạn, tôi không còn thời gian để dỡ đồ. Tôi thay quần áo cho Théo và cho bé ngủ, rồi gửi gắm bé cho cô trông trẻ Marieke, một cô gái người Đức mà hẳn bà tôi sẽ đánh giá là “quá xinh đẹp nên khó mà là người đứng đắn”.
Mười bảy giờ. Ngụp lặn trong giờ cao điểm của thành phố. Đường phố, tiếng ồn, không khí sôi động. Cuộc chiến không khoan nhượng để bắt được một chiếc taxi. Vào giờ này, đi tàu điện ngầm còn nhanh hơn. Đến phố Chambers, tôi theo tuyến tàu điện ngầm A đi về hướng Bắc, và chưa đầy nửa giờ sau, tôi đã leo lên cầu thang ở ga trên phố 125.
Tôi không biết nhiều về khu Harlem. Vào những năm 1990, trong lần đầu tiên tôi lưu lại New York, khu này quá xập xệ và nguy hiểm với bất cứ ai muốn nghỉ ở đây. Giống như tất cả các khách du lịch khác, tôi đã đặt chân đến đây chỉ để thử cảm giác sợ hãi, tham dự một buổi lễ Phúc âm và chụp ảnh những ngọn đèn nê ông ở Nhà hát Apollo, nhưng chỉ có thế.
Tôi đi vài bước trên vỉa hè, tò mò muốn biết xem khu này đã biến chuyển như thế nào. Trên máy bay, tôi đã đọc một bài báo giải thích rằng những nhà môi giới bất động sản vừa long trọng đặt lại tên cho khu này là “SOHA” (nghĩa là SOuth HArlem [2] với hy vọng rằng cái tên viết tắt ấy sẽ mang lại cho nó một vẻ mới mẻ và hiện đại. Trên thực tế, nơi này chẳng còn vẻ gì của cái chốn nguy hiểm ngày xưa, và gần như đã tương xứng với những gì được miêu tả trong các cuốn cẩm nang du lịch.
Trên phố 125 - con phố này còn có tên là Đại lộ Martin Luther King tôi gặp lại tất cả những gì tôi yêu ở Manhattan. Bầu không khí như có tích điện, khúc ca của còi xe, một cơn lốc của màu sắc, mùi vị, giọng nói. Những chiếc xe đẩy bằng kim loại của đám người bán dạo bánh quy xoắn và hot-dog, những cọc tiêu xây dựng khổng lồ, sọc cam và trắng, từ đó bốc lên nhiều cuộn khói trắng, tiếng rao liên tục không ngớt của những người bán hàng lậu đang cố tiêu thụ mấy đồ trang sức rẻ tiền dưới những chiếc dù hỏng. Tóm lại là cảm giác có một không hai và khiến ta ngây ngất của một mớ bòng bong khổng lồ rất có trật tự.
Ngay khi ta rời trục đường lớn này, khu phố trở nên yên bình hơn nhiều. Tôi phải mất vài phút để định vị được chỗ mình đang đứng và tìm ra phố Bilberry trứ danh: một con phố nhỏ độc đáo, kẹp giữa phố 131 và 132, vuông góc với Đại lộ Malcolm X.
Vào cuối chiều hè như hôm nay, một thứ ánh sáng đẹp đẽ tỏa rạng trên vỉa hè, lấp lánh trên các ô cửa sổ, run rẩy giữa đám lá dẻ. Từ hai bên đường phố mọc lên những ngôi nhà bằng gạch đỏ có cổng gỗ được chạm khắc và sơn màu, những hành lang có lan can sắt rèn bao quanh và cầu thang chạy xuống mấy khu vườn nhỏ. Đây cũng là nét nhiệm mầu của New York, lúc nào cũng khiến ta tự nhủ “Mình chẳng hề có cảm giác đang ở New York”.
Chiều nay, khi bước về phía tuổi thơ của Claire, tôi như không còn ở Harlem nữa. Tôi đang ở khu Deep South, ở Georgia hoặc ở Nam Carolina, phía Savannah hoặc Charleston.
Theo dấu cô gái Brooklyn.
❀ ❀ ❀
[1] Bridge Club (nguyên gốc tiếng Anh) là sòng bài.
[2] South Harlem nghĩa là khu Nam Harlem.