Những âm thanh ầm ĩ không có chỗ ở Oyster Bar, và vài khách quen của quán đưa mắt nhìn tôi khó chịu. Tôi cố gắng kiềm chế con bực tức.
— Chính hai gã cảnh sát tuần tra đó, Powell và Gomez, chính hai gã đó đã nói dối, chắc chắn thế!
— Tôi sẽ không đánh cược về chuyện này đâu, Marc vừa trả lời vừa phết một chút bơ lên miếng bánh mì lúa mạch đen.
— Ông giải thích xem.
Ông nhún vai.
— Tại sao hai cảnh sát đó lại phải nói dối? Nhằm mục đích gì chứ?
— Có thể họ đã không hề đến tận nơi. Hồi đó, có rất nhiều cuộc gọi quấy nhiễu nên…
Ông giơ tay ra hiệu ngăn tôi lại:
— Thông tin của Florence đủ độ tin cậy để được coi là nghiêm túc. Quy trình can thiệp trong trường họp tấn công bạo lực được quy định rất rõ ràng, và sẽ không ai mạo hiểm mà bỏ qua một cuộc gọi yêu cầu hỗ trợ kiểu đó. Và kể cả trong trường hợp đi kiểm tra qua quýt, thì chắc là hai cảnh sát đó sẽ khẳng định là rèm cửa kéo kín. Như thế họ sẽ gặp ít rủi ro hơn nhiều so với khai như trong biên bản.
Bán tín bán nghi, tôi cân nhắc những lập luận đó một lát rồi hỏi:
— Vậy ông giải thích thế nào?
— Rất tiếc là tôi chẳng có cách giải thích nào cả, viên cảnh sát đáp và ăn nốt miếng bánh mì.
Rồi Marc vừa nhấm nháp món hàu vừa tiếp tục đọc các trích lục báo cáo của cảnh sát mà Gladys đã đưa cho tôi. Tiếng Anh của ông cũng tạm ổn, nhưng ông vẫn thường xuyên phải hỏi tôi về những thuật ngữ chuyên ngành hoặc những câu tối nghĩa.
Hai lần liền, ông trở đi trở lại với một chi tiết mà tôi đã không để ý, hay nói đúng hơn là không thấy có liên quan. Isaac Landis, người quản lý cửa hàng rượu nằm ở số 2E phố 132, khẳng định đã bán một chai vodka cho Joyce Carlyle vào ngày thứ Bảy 25 tháng Sáu đó, vào lúc 14 giờ 45 phút. Tôi lên tiếng:
— Vậy là ta biết chắc chắn rằng đúng là Joyce đã ở trong khu phố đó và vẫn còn sống vào thời điểm ấy, nhưng ngoài ra thì có gì không?
Caradec đưa tay phác một cử chỉ đề nghị tôi định vị cửa hàng đó trên bản đồ. Nó nằm cách số 6 phố Bilberry, nhà của mẹ Claire, khoảng gần bảy trăm mét.
— Tôi rất khó hình dung các địa điểm, ông thú nhận với tôi sau phút trầm ngâm. Cậu có biết là tôi chưa từng đặt chân đến Harlem không?
— Thật sao? Lần cuối cùng ông đến New York là khi nào?
Ông huýt sáo.
— Đó là khi tôi đi cùng với Élise và con bé, trong kỳ nghỉ Phục sinh năm 2001, vài tháng trước loạt vụ khủng bố.
Tôi đưa điện thoại cho ông, trong đó tôi đã lưu tất cả ảnh chụp khu phố chiều hôm trước, khi đến gặp Ethel Faraday và hai chị em nhà Carlyle. Ông chăm chú nhìn, sử dụng chức năng zoom của màn hình cảm ứng và đặt rất nhiều câu hỏi.
— Thế chỗ này là ở đâu?
Ông chỉ vào tấm biển nhô ra bên trên một cửa hàng. “Rượu vang và Rượu mạnh - Từ 1971”.
— Nó nằm ở đoạn giao giữa đường Lenox và Bilberry.
— Nghĩa là ngay sát nhà Joyce, đúng không?
— Đúng, cách hai chục mét.
Mắt Caradec sáng lên. Ông tin chắc là đã nắm được điều gì đó, dù tôi còn chưa rõ là gì. Ông đặt bàn tay lên cánh tay tôi.
— Nếu Joyce muốn lên dây cót tinh thần một chút, thì tại sao lại phải đi bộ gần cây số để mua rượu, trong khi có một cửa hàng rượu ở ngay trước cửa nhà mình?
Tôi thấy chi tiết này có vẻ vặt vãnh.
— Có thể cửa hàng đó đóng cửa, tôi đánh liều nói.
Ông ngước mắt lên trời.
— Vào chiều thứ Bảy ư? Cậu nói đùa chắc! Chúng ta đang ở Mỹ, không phải ở Pháp. Họ không cần phải chờ có luật Macron mới dám mở cửa hàng vào cuối tuần!
— Ờ nhỉ.
Tôi vẫn không tin lắm, nhưng Caradec không từ bỏ.
Trong khi tôi nhìn chòng chọc vào bản đồ trải hên mặt quầy, lời tâm sự của Angela Carlyle chợt trở lại trong tâm trí tôi. Dịp cuối tuần tồi tệ đó, bà và Gladys đã đến Philadelphia để thăm mẹ. Vậy là ngôi nhà vắng tanh. Một con rùng mình phấn khích chạy dọc sống lưng tôi.
— Tôi tìm ra rồi! tôi tuyên bố với Marc.
Trước vẻ ngạc nhiên của ông, tôi đưa ra giả thiết của mình: vì một lý do nào đó mà tôi còn chưa biết, Joyce đã muốn tiếp người khách kia ở nhà các chị gái thay vì nhà mình, nhưng lại thấy không cần thiết phải báo chuyện đó cho Florence. Điều này giải thích tất cả: tại sao bà lại đi mua chai vodka xa như thế và nhất là tại sao cảnh sát lại không thấy có gì khả nghi ở nhà Joyce. Chỉ đơn giản là vì cô phóng viên đã cho họ địa chỉ mà không biết địa chỉ đó là sai!
Quá đỗi phấn khích, tôi đột ngột quờ tay làm đổ ly rượu đặt trên mặt quầy.
— Tôi vụng về quá đi mất!
Chân ly đập xuống vỡ tan. Rượu bắn lên quần áo tôi, vẽ thành một vết loang ngay giữa áo sơ mi.
Tôi dấp một chiếc khăn vào chỗ đó, nhưng người tôi vẫn sặc mùi vang Sancerre.
— Tôi sẽ quay lại ngay, tôi vừa nói vừa tụt xuống khỏi ghế.
Tôi đi qua phòng ăn để vào nhà vệ sinh, nhưng vì ở đó đang có người, tôi đành đứng chờ trước cửa. Đúng lúc đó, điện thoại của tôi đổ chuông. Là Marieke. Cô hoảng hốt gọi cho tôi vì Théo đã bị ngã và đầu sưng u một cục.
— Tôi muốn báo cho ông biết trước! cô tuyên bố sau khi đã đẩy vấn đề sang cho tôi.
Ở đầu dây bên kia, tôi nghe thấy Théo rên rỉ. Tôi bảo cô cho tôi nói chuyện với bé, và trong vài giây, đã hiểu ra là anh chàng không bị gì nghiêm trọng cả.
— Nào chàng kép hát, nói đi nào!
Cậu chàng lỏi con đó chỉ tìm cách diễn trò để được cô trông trẻ cưng nựng và thơm hít thôi. Bé đã hết đau, và trong khi Théo kể cho tôi nghe hàng loạt những thứ bé đã ăn, tôi quan sát Caradec từ xa. Phải thừa nhận một phẩm chất ở viên cảnh sát này: ông có khả năng khiến người khác tin tưởng. Lúc này, như thể đã quen biết từ lâu, ông đang vui vẻ trò chuyện với người ngồi bàn bên cạnh, một sinh viên mỹ thuật đeo một cặp kính đồi mồi dày cộp, cậu ta đã ghi chép bằng bút chì vào một cuốn sổ trong suốt bữa ăn. Tôi nheo mắt. Marc vừa mượn điện thoại của cậu ta. Ông đã báo trước với tôi rằng chiếc Nokia cũ của ông không hoạt động được ở Mỹ. Viên cảnh sát không gọi cho ai cả. Ông lướt mạng. Để tìm gì nhỉ?
Cửa phòng vệ sinh mở. Tôi chui vào đó và cố gắng khắc phục thiệt hại bằng dung dịch rửa tay, nước ấm và khí nóng thổi ra từ chiếc máy sấy chạy điện. Khi ra ngoài, tôi sặc mùi hương bài Java và hơi có dáng dấp của một gã say thấm đẫm rượu vang loại tồi.
Nhưng Marc không còn ngồi ở quầy nữa.
— Người đàn ông đi cùng tôi đâu rồi? tôi hỏi cậu sinh viên.
— Tôi không biết hai người là một cặp.
Đồ ngốc!
— Ông ấy đâu rồi?
— Ông ấy vừa đi khỏi, anh chàng đeo kính trả lời.
— Cái gì?
Cậu ta chỉ vào cánh cửa kính lán của Oyster Bar. Tôi sửng sốt.
— Ông ấy để lại cái này cho anh, cậu ta vừa nói vừa mặc áo khoác.
Cậu ta kéo khóa áo và đưa cho tôi tấm bản đồ New York, ở mặt sau Caradec đã viết nguệch ngoạc vài dòng bằng thứ chữ sin sít của ông:
Raph,
Xin lỗi vì đã bỏ rơi cậu, nhưng tôi phải xác minh một chuyện. Có thể là vô lý. Nếu đó là đường cụt, tốt nhất là tôi đi một mình.
Cứ tiếp tục hướng điều tra của cậu. Cậu đã tìm ra phương pháp của mình: hãy điều tra giống như cách cậu viết văn. Hãy tiếp tục lẩn theo bóng ma, Ghost của cả nhà Carlyle.
Tôi nghĩ cậu đã nói đúng: mọi sự thật trên thế giới này đều bắt rễ trên mảnh đất thời thơ ấu.
Tôi sẽ báo cho cậu biết ngay khi có tin mới. Hôn anh bạn Théo giúp tôi.
Marc.
Thật khó tin. Trước khi anh chàng sinh viên đi khỏi, tôi túm lấy ống tay áo cậu ta.
— Tại sao ông ấy lại muốn dùng điện thoại của cậu?
Cậu nhóc móc túi lấy ra chiếc điện thoại.
— Anh tự xem đi.
Tôi bật chức năng truy cập Internet, nó mở ra trang web White Pages. Trang trắng. Danh bạ điện thoại nước Mỹ.
Marc đã tìm một số điện thoại hoặc một địa chỉ. Nhưng trang web không lưu tìm kiếm của ông.
Tôi trả lại điện thoại cho chủ nó và choáng váng mất một lúc, bất hạnh chẳng khác nào một đứa trẻ, với cảm giác mình vừa bị bỏ rơi.
Tại sao tất cả những người quan trọng trong đời tôi rốt cuộc đều xa lánh tôi?