Màn đêm và lũ muỗi đã xua chúng tôi khỏi khoảnh sân trong, nhưng đổi lại chúng tôi cũng không thiệt thòi gì. Phòng khách của Bridge Club là một cái kén êm ái, ánh sáng dịu nhẹ, đầy những đồ gỗ và thảm cổ, mời gọi ta yên vị trên một trong những chiếc xô pha lút êm. Mỗi lần ở trong căn phòng này, được trang trí bằng những đồ mỹ nghệ vừa lạ lùng vừa mang phong cách chiết trung, tôi đều có cảm giác mình đang là khách mời của một nhà thám hiểm người Anh vừa trở về sau chuyến viễn chinh. Chốn này có chút gì đó của Centaur Club, vốn được Blake và Mortimer rất ưa chuộng, và thư viện của Henry Higgins trong bộ phim My Fair Lady.
Théo đã lại gần lò sưởi và vừa nhặt một chiếc que cời.
— Không, không, đặt nó xuống, con yêu! Cái đó không dành cho trẻ con!
Tôi can thiệp trước khi bé tự làm mình bị thương và nhấc bổng bé lên đặt bé ngồi bên cạnh trong khi tôi nghiền ngẫm hồ sơ mà Gladys đã đưa. Tôi đã lướt qua một lượt, nhưng hình thức của chúng khiến tôi thấy ngao ngán: bản photo của các bản sao đen trắng. Những trang giấy gần như không thể đọc được, chi chít các thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh.
Tôi đi thẳng đến chi tiết khơi gợi trí tò mò của mình: bản sao lại cuộc gọi 911, số điện thoại khẩn cấp. Ngày 25 tháng Sáu năm 2005, vào lúc 3 giờ chiều, giọng một phụ nữ báo tin về “vụ tấn công bạo lực” tại số 6 đường Bilberry, nhà của Joyce. “Các anh nhanh lên cho! Có người đang giết chị ấy!” giọng nói đó cầu xin. Tôi lục tìm cả tập để lấy ra tờ giấy tương ứng với biên bản khám nghiệm tử thi của Joyce. Theo ước tính, bà chết vào khoảng 4 giờ chiều, với sai số tối thiểu là hai tiếng.
— Bố ơi xuống! Giúp con ạ!
Théo đã để cho tôi yên trong khoảng hai phút ba mươi giây - được như thế đã là nhiều rồi. Tôi giải phóng bé khỏi chiếc ghế và đọc tiếp.
Một xe cảnh sát được cử đến nhà Joyce. Vào lúc 15 giờ 10, hai cảnh sát tuần tra, sĩ quan Powell và Gomez, đã đến hiện trường. Rõ ràng là căn nhà trống không. Họ đã kiểm tra xung quanh và không thấy gì khả nghi. Qua cửa kính, họ nhìn vào bên trong phòng khách, phòng bếp, phòng tắm và phòng ngủ ở tầng trệt nhưng không nhận thấy có điều gì đáng lo ngại. Không hề có dấu vết đột nhập hay tấn công, cũng không có máu. Họ kết luận đó là trò chơi khăm cảnh sát. Một cuộc gọi ác ý giống như hàng chục cuộc gọi mà cảnh sát nhận được hồi đó, đặc biệt là ở Harlem. Được thị trưởng Rudolph Giuliani khởi xướng và người kế nhiệm ông tiếp tục theo đuổi, chính sách “không khoan nhượng” đã dẫn đến nhiều biến tướng: kiểm soát nhân thân, nhiệt tình thái quá, chính sách số lượng, mà người da đen và người Mỹ Latinh là những nạn nhân đầu tiên. Một mầm mống của thứ sau này hẳn sẽ diễn ra ở Fegusson. Bực bội trước sự quấy rối của cảnh sát, đến lượt một số người dân trong khu đã chọn cách khiến cho nhiệm vụ của lực lượng giữ trật tự càng trở nên phức tạp bằng cách gọi điện thoại quấy rối. Những hành động như thế không kéo dài, nhưng đã đạt đến cao trào vào mùa hè đó.
Mặc dù vậy, người ta vẫn lần theo dấu vết cuộc gọi. Nó xuất phát từ một ca bin điện thoại công cộng ở khu Đông Hạ Manhattan, nằm trong góc giao giữa đường Bowery và đường Bond. Nghĩa là cách Harlem già mười lăm ki lô mét…
Từ đó có thể suy ra điều gì? Rằng đó chỉ là cuộc gọi lừa đảo? Nếu không phải thế, có nghĩa là người phụ nữ đã gọi 911 dù thế nào cũng không thể là nhân chứng trực tiếp chứng kiến cái được gọi là vụ tấn công Joyce. Vậy làm sao cô ta lại biết về vụ đó? Có thể là vì Joyce đã báo cho cô ta qua điện thoại. Nhưng trong trường họp đó, tại sao Joyce không tự mình gọi cho 911? Và tại sao hai viên cảnh sát được cử gấp đến hiện trường lại không nhận thấy điều gì? Đúng là một vòng luẩn quẩn. Rõ ràng có ai đó đã không nói sự thật. Thậm chí còn nói dối rất nhiều.
Tôi ngẩng đầu lên. Con trai tôi lại đang giở bài quyến rũ với một cô gái tóc hung xinh đẹp ngồi nhấm nháp ly martini gần lò sưởi. Cô ta đưa tay phác một cử chỉ khêu gợi để ra hiệu với tôi, tôi mỉm cười lịch sự đáp lại và nghĩ đến T., một nhà văn bạn tôi, đã ly hôn, gia trưởng, người từng khẳng định rằng cậu con trai hai tuổi của anh ta là “thỏi nam châm hút phụ nữ” thực thụ và luôn dẫn cậu bé đi cùng mỗi khi muốn tán gái.
Tôi lại vùi đầu vào tập hồ sơ. Viên cảnh sát phụ trách điều tra về cái chết của Joyce hồi đó là một phụ nữ gốc Hàn Quốc: thám tử May Soo-yun. Cô đã yêu cầu phân tích chi tiết lịch sử các cuộc gọi cố định và di động của Joyce. Kết quả cho thấy rằng, trong buổi sáng trước khi qua đời, Joyce đã liên hệ với một người nào đó tên là Marvin Thomas, hai mươi bảy tuổi, đã nhiều lần bị kết án vì tội bán lại ma túy và cướp giật có sử dụng vũ lực.
Số của gã bán lẻ ma túy đó xuất hiện ba lần trong danh sách những số điện thoại được Joyce gọi đi trong hai tuần cuối cùng của cuộc đời. May Soo-yun đã ra lệnh bắt anh ta ngay thứ Hai sau đó.
Trên giấy tờ, Marvin Thomas là một thủ phạm lý tưởng: một bản lý lịch tư pháp rất dày đầy tiền sự bạo lực đã được ghi nhận. Khi bị tạm giữ, anh ta khẳng định đã bán một khối lượng đáng kể heroin cho Joyce Carlyle, nhưng lại được loại trừ khỏi mọi vụ tấn công. Thomas có chứng cứ ngoại phạm rất chắc chắn: vào giờ Joyce chết, anh ta đang ở cùng hai gã cò mồi tại tiểu bang New Jersey, thành phố Atlantic. Nhiều camera giám sát đã quay lại được bộ dạng bặm trợn của anh ta trong một khách sạn, một tiệm spa và một sòng bạc. Anh ta đã được trả tự do.
Sau đó, báo cáo khám nghiệm tử thi chính thức đã xác nhận giả thiết dùng thuốc quá liều, và do không có yếu tố mâu thuẫn nào, trung úy Soo-yun đã đề nghị xếp lại vụ việc.
Tôi đưa tay dụi mắt. Tôi không thể đứng vững nữa và thất vọng. Tôi đã biết được rất nhiều điều, nhưng những điều đó không giúp cho việc điều tra tiến triển thêm. Làm gì bây giờ? Lao vào tìm kiếm gã bán lẻ ma túy đó? Cố gắng có được những lời chứng cụ thể hơn từ hai sĩ quan Powell và Gomez? Liên hệ với May Soo-yun? Tôi thấy có vẻ như trong số đó chẳng có hướng điều tra thực sự nào. Vụ việc đã xảy ra từ mười một năm trước. Và đã nhanh chóng được khép lại. Rất ít khả năng những nhân vật chính hồi đó còn nhớ rõ các chi tiết. Chưa kể tôi đang thiếu thời gian và không hề có quyền gì để móc nối với hệ thống rối rắm của Sở cảnh sát New York.
— Bố, tu ti!
Con trai tôi đã kết thúc màn tự phụ và vừa dụi mắt vừa quay trở về với gia đình. Tôi liền lục trong các túi áo để tìm chiếc núm ti kỳ diệu, và sờ thấy chiếc chìa khóa kho gửi đồ mà Gladys đã đưa cho tôi.
Đã muộn rồi, nhưng chúng tôi đang ở thành phố không bao giờ ngủ và trên chiếc móc khóa có ghi rõ: “Kho giữ đồ tự phục vụ Coogan’s Bluff - Mở cửa 24/7”.
Vấn đề là tôi đã cho cô nàng Marieke xinh đẹp về nghỉ và không còn bảo mẫu nữa. Tôi liền cúi xuống sát Théo và thì thầm vào tai bé:
— Con biết gì không, anh bạn? Cả hai chúng ta sẽ đi dạo một chút nhé.