Harlem. Chín giờ tối.
Chiếc taxi thả chúng tôi xuống trạm tàu điện ngầm ở Đại lộ Edgecombe. Kho giữ đồ tự phục vụ Coogan’s Bluff mà Gladys nói với tôi nằm giữa khuôn viên của những tòa tháp Polo Grounds Towers, một khu nhà cho thuê giá rẻ xây bằng gạch. Những tòa tháp cao hình chữ thập khiến ta có cảm giác chúng sinh sản phân đôi mãi không dứt trên một khoảnh đất rộng vuông vắn nằm kẹp giữa dòng sông, đường Harlem River Drive và phố 155.
Không khí nóng ẩm, cả khu không mấy sáng sủa. Tuy nhiên, nhiều cư dân đang tập trung bên ngoài nhà, ngồi túm năm tụm ba trên những bức tường thấp và thảm cỏ.
Không khí như có tích điện, nhưng không khác nhiều so với một số khu ở Essonne nơi tôi đã sống suốt thời niên thiếu. Chỉ có điều dân ở đây toàn là người da đen. Tôi tự nhủ mình đang ở trong một bộ phim của Spike Lee. Thời Spike Lee còn làm được những bộ phim hay.
Trong màn đêm ấm áp, tôi mở chiếc xe đẩy và đặt Théo vào bên trong. Để làm bé vui, tôi vừa đẩy xe vừa kêu như đang đua xe Công thức 1. Mọi người nhìn chúng tôi tò mò, nhưng vẫn để chúng tôi yên.
Sau nhiều phút dạo chơi, tôi thở hổn hển, vừa đến trước tòa nhà mình đang tìm. Tôi vào trong và tự giới thiệu. Vào giờ này, người phụ trách kho đồ là một sinh viên hơi cao ngạo đang lướt ngón tay trên chiếc MacBook. Vóc dáng cao lớn lòng khòng của cậu ta như đang bơi trong chiếc áo thun có mũ của trường đại học Columbia. Khuôn mặt khô khan đầy mụn trứng cá bị nén chặt bên dưới mái tóc cắt cua kiểu Phi và cặp kính oversize [1] có gọng dày cộp nhưng vẫn không đủ che kín đôi lông mày rậm rạp.
— Đây không hẳn là nơi dành cho trẻ con, cậu ta vừa nói vừa photocopy thẻ căn cước của tôi. Lẽ ra bé phải ở trên giường rồi chứ, đúng không?
— Bé đang đi nghỉ. Ngày mai bé không phải đi nhà trẻ.
Cậu ta ném cho tôi ánh mắt khó chịu như thể đang hỏi: “Này anh, anh định đùa tôi đấy hả?” Và đúng là như thế thật.
Bất chấp cuộc đọ súng âm thầm đó, cậu ta vẫn chỉ cho tôi vị trí của khoang tôi cần tìm trên sơ đồ.
Tôi cảm ơn cậu ta, và lại tiếp tục vừa chạy trong kho vừa bắt chước tiếng gầm của một chiếc xe đua.
— Bố, ô tô! Bố, nhăn hơn! Nhăn hơn! Théo hét lên để cổ vũ tôi.
Đến trước cửa ga ra, tôi bắt chước một cú trượt bánh trước khi dừng hẳn chiếc siêu xe lại. Rồi nhấc con trai ra khỏi xe và đẩy cửa cuốn lên.
Đương nhiên là có bụi, nhưng không nhiều như tôi tưởng tượng trước đó. Tôi bế Théo lên (còn bé thì ôm con chó bông Fifi), bật đèn và bước vào bên trong.
Ký ức về quá khứ.
Tôi phải để tâm đến bối cảnh khi tất cả những thứ này được tập hợp vào đây. Angela và Gladys đã cất những đồ đạc này sau khi Joyce chết, năm 2005. Hai năm trước khi người ta thu thập được ADN của Claire ở nhà Heinz Kieffer. Thời đó, hẳn hai chị em vẫn nuôi một hy vọng mong manh là sẽ tìm thấy cô gái và một ngày nào đó tài sản của mẹ cô sẽ trở về với cô.
Cái khoang rất rộng, nhưng lộn xộn. Tôi cùng con trai bước đi giữa nơi ngổn ngang đó, như thể đang đưa bé đi thám hiểm cái hang của Alibaba. Vốn luôn thích phiêu lưu, Théo phấn khích trước bất cứ thứ gì bé nhìn thấy: mấy món đồ gỗ được sơn màu, một chiếc xe đạp, một đôi giày trượt patanh, quần áo, đồ làm bếp.
— Bố, xuống, giúp con ạ!
Tôi đặt bé đứng xuống đất để bé tự chơi. Chắc chắn là sẽ phải tắm cho bé một chầu ra trò khi về đến khách sạn.
Tôi nghiêm túc bắt tay vào việc. Có thể ở đây có thứ gì đó đủ làm liên lụy hoặc nguy hiểm đến nỗi ai đó đã phải mạo hiểm để phóng hỏa nó.
Đĩa DVD, đĩa CD, báo chí, sách vở. Rất nhiều tiểu luận và tiểu thuyết, nhưng có chọn lọc: Lịch sử dân tộc Mỹ của Howard Zinn, Tạo dựng sự đồng thuận của Noam Chomsky, Rừng rậm của Upton Sinclair, Những người của đáy vực của Jack London, No Logo - Thế giới không phẳng hay là Mặt khuất của thương hiệu và toàn cầu hóa của Naomi Klein. Có cả các cuốn tiểu sử: Lucy Stone, Anne Braden, Bill Clinton, Malcolm X, nhóm The Little Rock Nine, César Chávez. Thậm chí tôi còn tìm được một bản tiếng Anh của cuốn Sự thống trị của nam giới của Pierre Bourdieu. Cũng giống như các chị em của mình, Joyce Carlyle là một phụ nữ có học thức rất nhạy cảm với những vấn đề nữ giới và thân với phe cực tả, điều không phổ biến lắm ở Mỹ.
Tôi cũng tìm thấy những món quần áo của bé gái hẳn là thuộc về Claire, cũng như vở bài tập của nàng. Thoáng chút xúc động, tôi lật giở những cuốn vở học sinh kín đặc nét chữ trau chuốt. Giữa các bài tập, tôi dừng lại trước một bài luận mà nàng đã viết: Tại sao tôi muốn trở thành luật sư. Lập luận bao quát viện dẫn đến cả Ralph Nader lẫn Atticus Finch (đó là vào năm 2005, rất lâu trước khi nước Mỹ phát hiện ra ông ta là một gã khốn thực sự). Trong lúc đọc những dòng này, tôi lại nhớ ra một chuyện: Marlène Delatour đã khẳng định với tôi rằng Claire muốn trở thành luật sư. Vào thời điểm nàng mất tích, ước muốn đó tưởng như đã là một dự định nghề nghiệp chín chắn và được xác định rõ ràng. Rốt cuộc, điều gì đã khiến nàng quyết định trở thành bác sĩ? Hẳn là thời gian nàng bị giam cầm. Mong muốn giúp đỡ người khác một cách cụ thể hơn. Tuy nhiên, tôi vẫn lưu lại thông tin này vào một góc trong đầu và tiếp tục tìm kiếm.
Được chừng bốn mươi lăm phút, Théo mệt nhoài. Sau khi lê la khắp nơi, bé bẩn như một con lợn con. Tới hạ phần tựa lưng của xe đẩy xuống và đặt bé nằm vào trong. Rồi ông bố tồi tệ là tôi còn khiến tình hình tệ hại hơn bằng cách bật một bộ phim hoạt hình trên chiếc điện thoại iPhone sứt sẹo của mình để dỗ cho bé ngủ.
Có lẽ tôi sẽ phải mất cả đêm ở đây, nhưng không có chuyện tôi ra về tay không. Có khối việc phải làm. Với đống giấy tờ lộn xộn này: hóa đơn, sao kê ngân hàng, biên lai, vân vân. May thay, Joyce là người ngăn nắp và đã cẩn thận sắp xếp tất cả các tài liệu lưu trữ của bà trong những túi đựng hồ sơ bìa cứng.
Trong khi con trai đang say sưa ngủ, tôi ngồi xếp bằng xuống và bắt đầu xem xét tỉ mỉ mọi thứ. Không có gì đáng chú ý lắm. Trong nhiều năm, Joyce làm văn thư tại một trường trung học trong vùng. Mẹ bà, người chủ thực sự của căn nhà, đã cho bà thuê lại với cái giá chẳng đáng là bao. Bà ít tiêu pha, không có nguồn thu nhập nào ngoài công việc. Trong đống giấy tờ có một thứ khiến tôi chú ý: một loạt những bài báo bà cắt ra từ tờ New York Herald và cất trong một cái túi đựng tài liệu bằng nhựa. Tôi đọc lướt qua các tiêu đề: “Tình trạng nợ nần quá mức của tầng lớp trung lưu”, “Bất bình đẳng đạt mức kỷ lục ở Mỹ”, “Ngày càng khó tiếp cận quyền phá thai”, “Một nửa thành viên Quốc hội Mỹ là tỉ phú”, “Wall Street chống lại Main Street”[2]. Điểm chung của những bài báo này là gì, ngoài tính chất “cấp tiến” của chúng? Sau khi đọc lướt một loạt, tôi chẳng tìm thấy bất cứ điểm chung nào.
Tôi đứng dậy để vươn vai. Phải khó khăn lắm mới không nản lòng. Có thể về phần mình, Marc đã tìm thấy gì chăng? Tôi thử gọi cho ông, nhưng ở dưới tầng hầm không có sóng.
Tôi lại chìm vào đống hồ sơ của Joyce. Một bản hướng dẫn lắp tủ Ikea, những tờ hướng dẫn sử dụng và các phiếu bảo hành: lò nướng, điện thoại di động, máy giặt, máy pha cà phê… Stop. Tôi lật lại đống phiếu. Tờ hướng dẫn sử dụng khiến tôi chú ý là của một chiếc điện thoại di động có tài khoản trả trước. Tờ phiếu thu vẫn ghim vào đó được ghi ngày 30 tháng Năm năm 2005. Hai ngày sau khi Claire bị bắt cóc!
Tôi lại đứng dậy, phấn khích đến tột độ. Trong những hồ sơ điều tra mà Gladys đã đưa, tôi nhận thấy cảnh sát đã xem xét kỹ lịch sử cuộc gọi cả từ số điện thoại cố định lẫn số điện thoại di động “chính thức” của Joyce. Nhưng rõ ràng là bà còn có một chiếc điện thoại khác. Một mẫu điện thoại không cần thuê bao, nạp thẻ trả trước, việc lần theo dấu vết sẽ phức tạp hơn nhiều. Điều đáng lo ngại nhất không phải sự tồn tại của chiếc điện thoại này, mà là việc Joyce mua nó chỉ mấy chục tiếng đồng hồ sau khi Claire bị bắt cóc. Các giả thiết chen chúc nhau trong đầu, nhưng tôi cố gắng kiềm chế. Trong trạng thái kích động, tôi lại bắt tay vào việc. May mắn này kéo theo may mắn khác.
Quần áo.
Một giai đoạn quan trọng trong thời niên thiếu của tôi đã bị đảo lộn chỉ vì một bộ com lê. Mẹ tôi, vốn nghi ngờ rằng bố tôi lừa dối bà, đã cho ra đời một hệ thống giám sát tỉ mỉ (tôi đang nói với các bạn về thời kỳ tiền sử, trước khi có Internet, Facebook, các phần mềm chỉ điểm và những trang web mai mối). Bố tôi rất cẩn thận, nhưng chỉ cần một lần thôi là đủ. Bao giờ cũng chỉ một lần là đủ. Một biên lai trở tiền khách sạn bỏ quên trong túi áo com lê. Mẹ tôi vớ được nó khi mang cả bộ đi giặt là. Vì không thể chịu đựng được cảnh sống trong dối trá, bà đã bỏ chồng, từ bỏ ngôi nhà luôn chào đón và cuộc sống êm đềm mà chúng tôi từng có tại Antibes. Bà quay trở lại Paris - hay đúng hơn là ngoại ô Paris. Còn tôi, tôi đã theo bà. Bị bắt buộc và miễn cưỡng, tôi từ bỏ bạn bè, ngôi trường trung học Roustan cũ kỹ thanh bình, cơ hội ra ngắm biển mỗi ngày, những cuộc dạo chơi trong rừng thông hoặc trên những bức tường thành. Tôi đã theo bà đến vùng Essonne xám xịt toàn bê tông. Một phần trong tôi ngưỡng mộ bà vì lựa chọn đó; phần còn lại căm ghét bà.
Tôi cũng áp dụng cách thức xử lý tương tự đối với quần áo của Joyce và lục tất cả các túi váy, túi áo khoác, túi áo vest, túi áo sơ mi và túi quần. Tôi tìm thấy một vé tàu điện ngầm, một cái bút, tiền lẻ, vài tờ biên lai mua sắm, những phiếu giảm giá, một băng vệ sinh dạng ống, một lọ aspirin, một tấm danh thiếp…
Một tấm danh thiếp chỉ có một cái tên và một số điện thoại. Tôi chăm chú quan sát:
Florence Gallo
(212) 132 - 5278
Tôi thấy cái tên này quen quen. Chắc chắn là tôi đã nhìn thấy nó, hoặc mới có người nhắc đến nó với tôi. Tôi sụp xuống vì mệt. Như thể có kiến bò khắp tứ chi, mắt cay sè vì bụi, nhưng tim tôi đập thật mạnh. Đó là một cảm giác dễ chịu. Cảm giác biết rằng mình vừa chạm tay vào thứ gì đó quan trọng và tin chắc rằng rốt cuộc sẽ tìm ra được thứ gì đó. Tôi hiểu được niềm say mê của Caradec đối với nghề nghiệp trước đây của ông.
Trời đã se lạnh. Tôi đắp áo vest cho con trai rồi rời khỏi kho giữ đồ sau khi đã nhét vào bên dưới chiếc xe đẩy càng nhiều càng tốt những túi đựng hồ sơ bìa cứng để có thể tiếp tục nghiên cứu ở khách sạn. Tôi dừng lại trong sảnh kho một lát - dưới ánh mắt vẫn thiếu thiện cảm như trước của cậu sinh viên mặt mụn - để gọi một chiếc xe thuê có lái qua ứng dụng trên điện thoại di động. Trong lúc chờ xe, tôi lại thử gọi cho Marc lần nữa, nhưng vẫn không có ai bắt máy. Nhân thể, tôi cũng thử gọi cho người có tên là Florence Gallo đó: “Số điện thoại bạn vừa gọi đã ngừng hoạt động.” Rồi một tin nhắn SMS báo rằng xe của tôi đã đến. Tôi rời khuôn viên các tòa tháp Grounds Towers và đi ra xe. Anh chàng tài xế dễ mến giúp tôi gập chiếc xe đẩy lại và xếp nó cùng đống túi hồ sơ vào trong cốp.
Tôi bế Théo ngồi vào ghế sau, cẩn thận để không đánh thức bé. Nội thất xe bằng da, nhạc cổ điển, có bố trí chai nước. Chiếc xe lướt đi trong đêm. Khu Harlem của dân nói tiếng Tây Ban Nha. Khu Đông Thượng Manhattan. Công viên Trung tâm. Đến lượt tôi nhắm mắt lại. Cảm thấy hơi thở quý giá của con trai phả vào cổ mình. Tôi vừa bắt đầu thở mình trôi theo một giấc ngủ gà gật êm dịu, thì một hình ảnh lướt qua tâm trí tôi, và tôi đột ngột bảo tài xế:
— Dừng lại! Làm ơn dừng xe lại!
Anh chàng nháy đèn và đỗ xe hàng đồi ngay dưới lòng đường, đồng thời bật đèn hiệu dừng khẩn cấp.
— Anh có thể mở cốp xe giúp tôi không?
Tôi vặn vẹo người để chui ra ngoài. Con trai tôi mở hé một bên mắt lo lắng:
— Fifi có ở đây không?
— À, có, tất nhiên là cậu ấy ở đây, tôi vừa trở lời vừa tóm lấy chú chó bông. Con ôm chặt cậu ấy đi.
Tôi lục trong cốp xe, và bằng bàn tay duy nhất còn rảnh rỗi lấy chiếc túi đựng các bài báo ra. Bây giờ, tôi đã biết Florence Gallo là ai: chính là nhà báo ký tên dưới tất cả các bài viết của tờ New York Herald mà Joyce đã cắt ra. Tôi nhìn ngày phát hành các số báo: tất cả đều được viết trong khoảng thời gian từ ngày 14 đến ngày 20 tháng Sáu năm 2005. Tương ứng với tuần lễ sau khi Joyce đến Pháp. Tôi nhớ lại hình ảnh vô cùng suy sụp của bà trong bản tin thời sự trên truyền hình. Một giả thiết điên rồ lướt qua đầu tôi: thế nếu như vụ Claire Carlyle chỉ là một đoạn tiếp nối bi thảm của vụ Joyce Carlyle thì sao? Nếu như lời nguyền dành cho gia đình Carlyle không phải bắt nguồn từ vụ bắt cóc Claire, mà từ một sự kiện khác xa xưa hơn, trực tiếp gắn liền với mẹ nàng? Dù thế nào, có một điều chắc chắn là: giống như cách những con búp bê Nga lồng vào nhau, những tìm kiếm của tôi chẳng khác nào đang mở ra một cái tủ nhiều ngăn.
Tôi lại quay vào xe với con trai. Đêm nay, tôi đã biết được nhiều điều. Đầu tiên là Joyce đã mua một chiếc điện thoại không thể lần ra dấu vết, chỉ hai ngày sau khi con gái bà bị bắt cóc. Rồi trong tuần lễ sau khi từ Gironde quay về, bà đã liên hệ với một phóng viên điều tra, hẳn là để thổ lộ với cô ta điều gì đó quan trọng.
Vài ngày sau, bà chết.
Chiếc xe lại lăn bánh trên đường. Một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng tôi.
Vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng nào, nhưng lúc này tôi tin chắc rằng Joyce Carlyle đã bị sát hại.
❀ ❀ ❀
[1] Quá khổ - trong tiếng Anh nguyên bản.
[2] Ở đây, Wall Streel ám chỉ lợi ích của tư bản, còn Main Street chỉ lời ích của lớp bình dân và tiểu thương.