Đến bùng binh trên quảng trường Italia, xe chúng tôi rẽ vào đại lộ Vincent-Auriol.
— Ô tô, bố! Ô tô!
Ngồi trên đầu gối tôi ở ghế sau taxi, Théo là cậu bé hạnh phúc nhất. Hai tay dán chặt vào cửa kính, bé vui thích nhìn cảnh tượng giao thông của Paris. Về phần mình, vùi mũi vào mái tóc thơm mùi lúa mạch của bé, tôi tìm trong sự phấn khích của Théo chút lạc quan mà tôi đang rất cần.
Chúng tôi đang trên đường ra sân bay. Tôi đã thuyết phục được Marc tin vào căn cứ của tôi. Bằng vài cú nhấp chuột, tôi đã đặt được vé máy bay đi New York, rồi vứt đồ đạc của Théo lẫn của tôi vào một chiếc va li và đặt một phòng khách sạn.
Điện thoại của tôi rung lên. Tôi móc nó ra khỏi túi vừa kịp lúc để nhận cuộc gọi. Số hiển thị trên màn hình là của em họ tôi, bác sĩ tim mạch ở bệnh viện Necker.
— Chào Alexandre, cảm ơn đã gọi lại cho anh.
— Chào anh, mọi việc ổn không?
— Lúc này đang có chút phức tạp. Còn em? Sonia? Cả lũ trẻ nữa?
— Chúng lớn nhanh lắm. Có phải em đang nghe thấy Théo bi bô sau lưng anh không?
— Đúng thế, bố con anh đang ở trong xe taxi.
— Hôn bé giúp em. Nghe này, em đã có được tin tức về bạn của anh, Clotilde Blondel ấy.
— Thế nào rồi?
— Em rất tiếc, nhưng tình trạng của bà ấy rất nghiêm trọng. Gãy nhiều xương sườn, một bên chân và xương chậu, trật khớp háng, chấn thương sọ não nghiêm trọng. Khi em gọi cho bạn em ở Cochin, bà ấy vẫn đang trên bàn mổ.
— Có tiên lượng sống cao không?
— Ngay lúc này thì khó nói lắm. Anh biết đấy, với kiểu đa chấn thương như thế này, có rất nhiều rủi ro.
— Có tụ máu trong não không?
— Có, và ở tất cả những gì liên quan đến hệ hô hấp: tràn khí màng phổi, tràn máu màng phổi. Chưa kể các thương tổn có thể có ở cột sống.
Hai tiếng bíp cắt ngang câu chuyện của chúng tôi. Một số khác đang gọi vào sim số 2.
— Anh xin lỗi, Alex, có người đang gọi đến số khác của anh. Có chuyện quan trọng. Em để ý và cho anh biết diễn biến tình hình nhé?
— Được thôi, ông anh.
Tôi cảm ơn cậu ta và kết nối với cuộc gọi mới. Đúng như tôi đang hy vọng, đó là cuộc gọi của Marlène Delatour, nữ phóng viên của tờ Tây Nam đã từng điều tra về vụ Carlyle. Đêm qua, sau khi đọc bài báo của cô, tôi đã tìm được dấu vết của cô trên Internet: cô đã đổi chỗ làm và hiện đang viết cho tờ Miền Tây nước Pháp. Tôi đã gửi cho cô một bức email và giải thích với cô rằng tôi đang viết một tuyển tập về những tội ác trong thế kỷ 21 nên mong muốn được nghe những cảm nhận cũng như ký ức của cô về vụ án đó.
— Cảm ơn cô vì đã gọi cho tôi.
— Chúng ta đã gặp nhau mấy năm trước rồi. Tôi đã phỏng vấn anh trong hội sách Những lữ khách kỳ lạ vào năm 2011.
— Tất nhiên, tôi vẫn còn nhớ, tôi nói dối.
— Vậy là anh đã dừng viết tiểu thuyết để viết tiểu luận sao?
— Trong nhiều mục tin vặt, sự kinh hoàng còn vượt qua cả hư cấu.
— Tôi đồng ý với anh.
Tôi kẹp điện thoại vào hõm vai. Như thế, tôi sẽ rảnh tay để giữ con trai. Đứng trên ghế, Théo ra sức ngọ nguậy để nhìn theo đoàn xe đang vào ga trên cầu tàu điện trên không.
— Cô còn nhớ rõ vụ Carlyle không? tôi hỏi Marlène.
— Chuyện đó thì chắc chắn rồi. Nói thật với anh, hồi đó, tôi còn phần nào tự coi mình là Claire. Chúng tôi có nhiều điểm chung: không biết bố là ai, cả hai đều được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ độc thân, gốc gác bình dân, coi học hành như một cách để thăng tiến trong xã hội… Cô ấy có chút giống như em gái người Mỹ của tôi vậy.
— Cô chắc chắn Claire không biết bố mình là ai sao?
— Theo tôi, kể cả mẹ của Claire cũng không biết ai đã làm bà ấy mang thai.
— Cô chắc chứ?
Tôi nghe thấy tiếng thở dài ở đầu dây bên kia.
— Gần như là thế. Dù sao, đó cũng chính là điều bà Joyce Carlyle đã nói với tôi khi tôi hỏi bà ấy về chuyện này. Đó là khi bà ấy đến Pháp hai tuần sau khi Claire bị bắt cóc, vào thời điểm cuộc điều tra bị sa lầy. Tôi không viết chuyện này trong bài báo, nhưng tôi được biết rằng trước khi con gái ra đời, Joyce đã trải qua nhiều năm sa lầy. Cocain, heroin, ma túy đá: bà ấy đã dính vào đủ thứ. Trong hai hoặc ba năm, vào cuối những năm 1980, bà ấy còn liên tục đi khách với giá 10 đô một lượt để có tiền mua cocain.
Tiết lộ này khiến tôi buồn nôn. Do dự một lát, tôi cưỡng lại được ý muốn nói ra với người ở đầu dây bên kia là mình đang trên đường tới New York. Marlène Delatour là một phóng viên giỏi. Nếu cảm thấy tôi dấn sâu vào vụ này đến thế, chắc chắn cô ấy sẽ đánh hơi thấy tiềm năng có được một tin độc quyền đặc biệt. Sau khi đã vất vả giữ cho các vấn đề của mình không dính dáng tới cảnh sát, tôi sẽ không tự lao đầu vào miệng sói bằng cách trút bầu tâm sự với một phóng viên.
Tôi liền cố gắng lấy giọng dửng dung và hỏi:
— Kể từ hồi đó cô có liên hệ với Joyce lần nào nữa không?
Marlène im lặng ngạc nhiên rồi giải thích với tôi:
— Chắc là sẽ khó đấy: bà ấy đã chết hai tuần sau đó.
Tôi sững sờ.
— Tôi không đọc thấy tin ấy ở đâu cả.
— Tôi cũng vậy, tôi chỉ biết tin đó rất lâu sau, vào mùa hè năm 2010, khi đi nghỉ ở New York. Lúc đến thăm Harlem, tôi đã muốn tới ngó qua ngôi nhà nơi Claire sống thời niên thiếu. Tôi vẫn nhớ rõ địa chỉ: số 6 phố Bilberry. Phố Việt quất đen… Chỉ khi đến tận nơi, trong lúc nói chuyện với các chủ cửa hàng trong khu phố đó, tôi mới được biết là Joyce đã qua đời vào cuối tháng Sáu năm 2005. Chỉ bốn tuần sau khi con gái bà ấy bị bắt cóc.
Nếu thông tin này chính xác, nó sẽ thay đổi rất nhiều chuyện.
— Vì sao bà ấy chết?
— Theo anh thì vì sao? Dùng heroin quá liều, tại nhà. Bà ấy đã sạch sẽ được trong suốt mười lăm năm, nhưng thảm kịch đã khiến bà ấy lại chìm vào nó. Và sau thời gian cai nghiện dài như thế, chỉ cần một liều tương đối nhỏ cũng có thể giết chết anh.
Chiếc taxi đã qua cầu Bercy và đang chạy trên bờ kè. Phía bên kia sông Seine, cảnh vật lướt qua: bể bơi Joséphine-Baker nổi trên sông, những ngọn tháp góc cạnh của thư viện FranÇois-Mitterrand, những sà lan trôi lờ đờ và những mái vòm thấp của cây cầu Tolbiac.
— Cô còn thông tin gì khác về vụ án này không?
— Đột ngột thế này, ngay lúc này, tôi không nhớ ra nhiều lắm, nhưng tôi có thể thử tìm lại các ghi chép…
— Được thế thì rất…
Cô ngắt lời tôi:
— Chờ đã, tôi vừa nhớ ra một chuyện. Có một tin đồn dai dẳng lan truyền vào lúc diễn ra vụ điều tra: hình như Joyce đã thuê một điều tra viên để tiến hành tìm kiếm riêng cho bà ấy.
— Cô lấy thông tin đó từ đâu ra vậy?
— Hồi đó tôi đang đi lại với một gã: Richard Angeli, một tay cớm trẻ thuộc đội Trọng án Bordeaux. Nói riêng với anh, gã là kẻ ngốc hạng nhất, nhưng có tham vọng điên cuồng và đôi khi cũng cung cấp cho tôi vài gợi ý hay ho.
Tôi vặn người để lấy chiếc bút trong túi áo rồi viết tên gã cảnh sát lên thứ giấy duy nhất tôi đang có trong tay: T’choupi làm trò ngốc nghếch, cuốn sách yêu thích nhất của con trai mà tôi đã mang theo để cho bé ngồi yên đọc trong chuyến đi.
— Anh ta là người tranh tụng trong nhóm điều tra về vụ Claire Carlyle mất tích. Theo những gì anh ta kể với tôi, các đồng nghiệp của anh ta và thẩm phán đều phát điên trước viễn cảnh phải chứng kiến vụ điều tra bị một kẻ bên ngoài gây nhiễu loạn.
— Kẻ đó là ai? Một thám tử người Mỹ chăng?
— Tôi chẳng biết gì cả. Tôi có đào bới đôi chút theo hướng đó, nhưng chưa từng phát hiện ra điều gì cụ thể.
Im lặng một lát, rồi:
— Raphaёl này, nếu biết được điều gì mới, anh cho tôi hay được không?
— Tất nhiên rồi.
Tôi đoán được qua giọng nói của cô, chỉ cần vài phút là Marlène Delatour lại bị nhiễm vi rút “Claire Carlyle”.
Lúc này, chiếc taxi đã qua cửa ô Bercy và đang lao đi trên đường vành đai. Con trai tôi đã ngồi ngoan trở lại. Bé ôm chặt trong tay chú chó bông Fifi trung thành.
— Trong vụ điều tra này, người phụ nữ trẻ nói tiếp, tôi vẫn có cảm giác chúng ta đã để tuột mất điều gì đó. Cảnh sát, phóng viên, thẩm phán: tất cả mọi người đều thất bại trong vụ án này. Ngay cả sau khi phát hiện ra các dấu vết ADN ở nhà Heinz Kieffer, vụ việc vẫn có vẻ chưa kết thúc.
Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy có người phản đối kết luận chính thức.
— Chính xác thì cô định nói điều gì? Kieffer hoàn toàn khớp với phác họa chân dung.
— Một bức phác họa chân dung được dựng lên từ mô tả của một nhân chứng duy nhất, cô nhắc nhỏ tôi.
— Nhân chứng đó là cô bé Olivia Mendelshon.
— Một cô bé con mà cảnh sát chỉ có thể hỏi cung trong vòng vài giờ, bởi vì bố mẹ Olivia đã đưa cô bé về New York ngay ngày hôm sau.
— Đến đây thì tôi không hiểu ý cô. Cô đang đặt ra nghi vấn về các kết luận của…
— Không, không, cô cắt lời tôi. Tôi không có giả thiết thay thế nào, cũng không có bằng chứng khác nào, nhưng tôi vẫn thấy chuyện này kỳ lạ: chỉ có một nhân chứng duy nhất trong vụ bắt cóc, rồi sau đó là các dấu vết ADN, nhưng không có thi thể. Anh không thấy chuyện này hơi đáng ngờ sao?
Đến lượt tôi thở dài:
— Nhà báo các cô nhìn đâu cũng thấy cái xấu.
— Còn nhà văn các anh thì lúc nào cũng có vấn đề với thực tế.