Sự thật là tôi đã không viết được dòng nào từ ba năm nay, bởi cuộc đời đã túm được tôi.
Tôi không mắc chứng tắc mạch viết mà cũng chẳng bị mất cảm hứng. Tôi tự kể chuyện trong đầu mình từ khi lên sáu, và ngay thời còn niên thiếu, viết đã trở thành trung tâm cuộc sống, là cách để thông dòng tưởng tượng đầy ắp của tôi. Hư cấu là một lối thoát. Tấm vé máy bay rẻ nhất để trốn khỏi sự ủ ê thường nhật. Trong suốt nhiều năm, viết đã choán toàn bộ thời gian và suy nghĩ của tôi. Gắn chặt với cuốn sổ ghi chép hoặc chiếc máy tính xách tay, tôi viết mọi lúc, mọi nơi: trên những băng ghế công cộng, trên ghế dài trong các quán cafe, đứng trên tàu điện ngầm. Còn khi không viết, tôi suy nghĩ về các nhân vật của mình, những nỗi niềm đau khổ của họ, tình yêu của họ. Những thứ khác đều không thực sự quan trọng. Sự tầm thường của thế giới thực ít tác động đến tôi. Lúc nào cũng tách biệt và thụt lùi với thực tế, tôi vận động trong một thế giới tưởng tượng nơi tôi là đấng tạo hóa duy nhất.
Kể từ 2003 - năm tiểu thuyết đầu tiên của tôi ra đời mỗi năm tôi xuất bản một cuốn. Chủ yếu lá trinh thám và hình sự. Trong các lần trả lời phỏng vấn, tôi có thói quen khẳng định rằng ngày nào tôi cũng làm việc chỉ trừ Noel và sinh nhật của mình - tôi đạo câu trả lời này của Stephen King. Nhưng, cũng giống như ông, tôi đã nói dối: tôi làm việc cả ngày 25 tháng Mười hai và cũng không thấy có lý do gì chấp nhận được để phải thất nghiệp vào ngày kỷ niệm việc tôi ra đời.
Bởi vì tôi hiếm khi có việc gì thú vị để làm hơn la ngồi trước màn hình để hỏi thăm tin tức các nhân vật của mình.
Tôi say mê “nghề nghiệp” của mình và cảm thấy thoải mái trong thế giới của những đợi chờ hồi hộp, những án mạng và bạo lực đó. Cũng giống như lũ trẻ - bạn hãy nhớ đến con yêu tinh trong Chú mèo đi hia, ông bố bà mẹ tội lỗi trong Chú bé tí hon, Yêu Râu Xanh hoặc con sói trong Cô bé quàng khăn đỏ người lớn cũng thích thử cảm giác sợ hãi. Họ cũng cần đến những câu chuyện cổ tích để trừ bỏ nổi kinh hoàng của chính mình.
Việc độc giả ưa chuộng thể loại trinh thám đà giúp tôi có được một thập kỷ kỳ diệu, khi tôi được gia nhập đội ngũ ít ỏi những tác giả có thể sống bằng ngòi bút.
Mỗi sáng, khi ngồi vào bàn làm việc, tôi biết rằng mình có được may mắn là nhiều người trên khắp thế giới đang chờ đợi cuốn tiểu thuyết mình sắp cho ra đời.
Nhưng cái vòng tròn kỳ diệu của thành công và sáng tạo đó đã bị ngắt quãng cách đây ba năm vì một người phụ nữ. Trong chuyến đi quảng bá sách ở Luân Đôn, trợ lý báo chí đã giới thiệu với tôi Natalie Curtis, một nhà khoa học nữ trẻ tuổi người Anh tài năng cả trong ngành sinh học lẫn trong kinh doanh. Cô là người hùn vốn vào một công ty khỏi nghiệp trong lĩnh vực y học đã chế tạo ra kính áp tròng “thông minh” có thể phát hiện nhiều căn bệnh khác nhau dựa trên tỷ lệ glucose trong thủy dịch.
Natalie làm việc mười tám giờ mỗi ngày. Với sự hoạt bát khiến người khác phải bối rối, cô thoải mái xoay xở giữa việc lập trình phần mềm, giám sát các thử nghiệm lâm sàng, lập business plansa[1] và những chuyến di chuyển qua nhiều múi giờ đưa cô đến khắp năm châu để trình bày báo cáo với các nhà đầu tư xa xôi.
Chúng tôi vận động trong hai thế giới khác nhau. Tôi là người đàn ông ưa sách vở; cô là người phụ nữ của công nghệ. Tôi kiếm sống bằng việc sáng tác ra những câu chuyện; cô kiếm sống bằng cách sáng chế ra những bộ vi xử lý chỉ nhỏ bằng sợi tóc của một em bé sơ sinh. Tôi là kiểu anh chàng học tiếng Hy Lạp ở trường trung học, yêu thơ Aragon và viết thư tình bằng bút mực. Cô là kiểu cô nàng siêu kết nối cảm thấy thoải mái trong thế giới lạnh lẽo và không biên giới của các trạm trung chuyển sân bay chẳng khác nào như đang ở nhà mình.
Dù sau này khi đã có thời gian để nhìn lại mọi việc và suy ngẫm, tôi vẫn không hiểu điều gì đẩy chúng tôi lại với nhau. Tại sao, đúng vào thời điểm đó trong cuộc đời, chúng tôi lại thuyết phục được bản thân rằng câu chuyện tình vô lý của chúng tôi có thể có tương lai?
“Con người thường thích được là những gì không phải là mình”, Albert Cohen đã viết như vậy. Phải chăng vì thế mà đôi khi ta đem lòng yêu những người chẳng có điểm gì chung với ta? Có lẽ niềm ham muốn được bổ sung cho nhau đã khiến chúng ta hy vọng có sự thay đổi, có sự biến chuyển. Như thể việc tiếp xúc với người kia sẽ biến chúng ta thành những sinh vật trọn vẹn hơn, giàu có hơn, cởi mở hơn. Trên giấy thì đúng là một ý tưởng hay ho, nhưng trong thực tế thì hiếm khi như thế.
Ảo tưởng về tình yêu lẽ ra đã nhanh chóng tan biến nếu Natalie không mang thai. Viễn cảnh xây dựng một gia đình đã khiến ảo tưởng kéo dài thêm. Ít ra cũng là về phần tôi. Tôi đã rời nước Pháp để dọn đến căn hộ mà Natalie thuê ở Luân Đôn, trong khu Belgravia, và tháp tùng cô hết mức có thể trong suốt thời gian cô bụng mang dạ chửa.
“Anh thích những tiểu thuyết nào của mình nhất?” Trong mỗi chuyến quảng bá sách, câu hỏi ấy lại được cánh phóng viên đặt ra. Trong nhiều năm, tôi đã né tránh đôi chút, chỉ trả lời ngắn gọn: “Tôi không thể lựa chọn. Với tôi, tiểu thuyết cũng giống như những đứa con, các vị biết đấy.”
Nhưng sách không phải con cái. Tôi đã có mặt trong phòng sinh khi con trai chúng tôi ra đời. Lúc bà đỡ trao cho tôi cơ thể bé nhỏ của Théo để tôi ôm con vào lòng, trong một giây tôi đã nhận ra lời khẳng định được tôi nhắc đi nhắc lại trong rất nhiều cuộc phỏng vấn đó dối trá đến mức nào.
Sách không phải con cái.
Sách có một điểm đặc thù gần như là phép thuật: chúng là tấm hộ chiếu để đi đến nơi khác, là cuộc đào tẩu vĩ đại. Chúng có thể là phương tiện giúp sức cho chúng ta đối mặt với những thử thách trong cuộc sống. Như Paul Auster từng khẳng định, sách là “nơi duy nhất trên thế giới mà hai con người xa lạ có thể gặp gỡ nhau một cách thân mật”.
Nhưng chúng không phải con cái. Không gì có thể so sánh với một đứa con.
❀ ❀ ❀
[1] Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: các kế hoạch kinh doanh.