Ông không mảy mặn mà với vẻ đẹp của thị trấn cổ kính này là bao, bèn rời bỏ nó ngay khi thuê được một chiếc xe ngựa trạm để đến Paris mà dọc đường không phải bận tâm vì bất cứ rủi ro phiền phức nào khác. Ông thuê phòng tại một khách sạn nọ ở khu Faubourg de St. Germain, chốn tụ họp quen thuộc của mọi lữ khách tứ xứ đổ về kinh đô này; và giờ đây, ông thành tâm tự chúc mừng bản thân vì đã thoát nạn trong gang tấc khỏi đám người Hung-gari cùng những cạm bẫy của bọn cướp, lại thêm số chiến lợi phẩm thu từ cái xác chết kia, cùng chuyến hành trình thuận lợi đến Paris — nơi có đường thông thương ngắn ngủi để trở về nước Anh, chốn đang vẫy gọi ông bởi những động cơ hoàn toàn khác xa lòng hiếu thảo với quê cha đất tổ.
Ông giấu nhẹm mọi bức thư giới thiệu, vì nhận định xác đáng rằng chúng sẽ khiến ông phải chịu đựng cảnh chầu chực mệt mỏi trước cửa những kẻ thế lực, đồng thời đẩy ông vào cảnh phải cầu cạnh một chức tấu trong quân ngũ — mà chẳng có gì trái ngược với sở thích của ông hơn thế; và ông quyết định xuất hiện dưới thân phận một quý ông tự do, điều này sẽ tạo cho ông cơ hội quan sát muôn mặt cuộc sống chốn phồn hoa đô hội nhằm lựa chọn lấy một con đường mà từ đó ông có thể tiến thân một cách đắc lợi nhất. Theo đó, ông thuê tạm một người hầu phòng, và dưới cái tên Bá tước Fathom — danh xưng ông vẫn giữ từ khi bỏ trốn khỏi chỗ Renaldo, ông tới ăn tối tại một quán ăn bình dân vốn được chỉ dẫn là một chốn uy tín, lui tới bởi những lữ khách thượng lưu đủ mọi quốc gia.
Ông thấy lời chỉ dẫn này quả không sai; bởi vừa bước chân vào phòng, tai ông đã bị đập vào một thứ âm thanh hỗn độn đến kỳ lạ, trong đó ông nhận ra ngay tiếng Đức chuẩn và tiếng Đức thổ ngữ, tiếng Pháp bồi, tiếng Ý và tiếng Anh. Mừng rỡ trước cơ hội được trổ tài, ông chọn một chỗ ngồi ở một trong ba chiếc bàn dài, ngay giữa một vị bá tước người Westphalia và một hầu tước người Bologna, khéo léo hòa mình vào câu chuyện với sự tháo vát quen thuộc, và chưa đầy nửa tiếng sau, ông đã tìm cách bắt chuyện với người bản xứ của từng quốc gia bằng chính tiếng mẹ đẻ của họ.
Sự uyên bác rộng lớn ấy đã không lọt ngoài tầm mắt. Một vị tu viện trưởng người Pháp, bằng giọng địa phương, cất lời ca ngợi ông vì đã giữ được thứ phát âm chuẩn mực mà người ta chẳng thể tìm thấy trong lời ăn tiếng nói của một kẻ gốc Paris. Viên hầu tước người Bologna, lầm tưởng ông là người xứ Tuscan, liền nói: “Thưa ngài, tôi đoán ngài đến từ Florence. Tôi hy vọng dòng dõi lừng lẫy xứ Lorraine không để cho những quý ông thuộc thành phố nổi tiếng ấy phải nuối tiếc việc mất đi những vị vương công của chính mình.” Khi cung điện Versailles trở thành chủ đề tán gẫu, ngài bá tước liền quay sang hỏi ý kiến ông như một người Đức chính gốc xem nơi đây có kém cạnh lâu đài Grubenhagen về sự tráng lệ hay không. Viên sĩ quan người Hà Lan, hướng về phía Fathom, nâng ly chúc mừng sự thịnh vượng của Đất Mẹ và hỏi thăm xem có phải ngài từng phục vụ trong đồn binh ở Shenkenschans hay không; và một hiệp sĩ người Anh với vẻ đầy tự tin đã thề thốt rằng ông ta từng nhiều lần la cà cùng Fathom lúc nửa đêm giữa chốn hàng trăm quán xá ở Drury.
Với mỗi người, ông đều đáp lại một cách lịch thiệp nhưng đầy vẻ huyền bí, điều này càng làm củng cố thêm ấn tượng của họ về học thức và thân thế trọng vọng của ông; và từ lâu trước khi món tráng miệng được dọn lên, toàn bộ thực khách đều đinh ninh rằng ông là một nhân vật có máu mặt, vì một vài lý do quan trọng nào đó mà thấy thuận tiện hơn khi ẩn danh. Đã vậy, hiển nhiên là những lời chào mời ân cần đặc biệt cứ thế tuôn ra từ khắp mọi phía. Nhận thức được tâm ý của họ, ông đón nhận và khích lệ bằng cách cư xử nhã nhặn — thứ phong thái tựa như sự buông lơi đầy thu hút của một người có phẩm giá và địa vị cao sang. Sự niềm nở của ông mang tính phổ quát nhưng sự quan tâm cốt lõi lại dành cho những vị quý cơ hồ ngồi gần ông nhất trên bàn tiệc; và ngay khi ông để họ hiểu rằng mình là một kẻ hoàn toàn xa lạ tại Paris, tất cả bọn họ liền đồng lòng xin được vinh hạnh dẫn dắt ông làm quen với những kỳ quan độc đáo của chốn kinh thành này.
Ông nhận lấy sự hiếu khách của họ, cùng họ đến một quán cà phê vào buổi chiều, từ đó rảo bước tới nhà hát opera, rồi sau đó ghé vào một khách sạn nổi tiếng để tiêu nốt khoảng thời gian còn lại của buổi tối. Chính tại nơi đây, vị anh hùng của chúng ta đã củng cố vững chắc chỗ đứng mà bản thân vừa giành được trong thiện cảm của họ. Chỉ trong chớp mắt, ông thấu suốt bản chất của từng kẻ trong nhóm, và uyển chuyển chiều theo tính khí của mỗi cá nhân mà không hề đánh mất đi cái vẻ bề trên tao nhã vốn dĩ sẽ đem lại lợi thế cho ông trước mặt họ. Với vị khách người Ý, ông bàn luận về âm nhạc bằng ngôn ngữ của một kẻ sành sỏi; và quả thực ông có cơ sở chính đáng để mang danh hiệu ấy hơn đa số những kẻ thường được ban tặng nó, bởi ông hiểu rõ nghệ thuật ấy cả về mặt lý luận lẫn thực hành, và hoàn toàn có thể sánh vai cùng những nghệ sĩ biểu diễn cừ khôi nhất thời đại.
Ông thao thao bất tuyệt về nghệ thuật và thiên phú với vị tu viện trưởng — một kẻ mang trọng trách phê bình và trào lộng do chức vụ, hoặc đúng hơn là nhờ bộ y phục; bởi một gã thanh niên Pháp láu lỉnh, ngay khoảnh khắc khoác lên mình chiếc cổ áo nhỏ petit collet, đã tự coi mình là một đứa con được thần Apollo truyền cảm hứng; và bất cứ ai trong hội đoàn ấy cũng đinh ninh rằng việc khẳng định sứ mệnh thần thánh của mình là bổn phận không thể chối cãi. Nói ngắn gọn, đám tu viện trưởng ấy chẳng khác nào những kẻ thuộc hội pháp đình ở Luân Đôn. Những gã khờ từ mọi xó xỉnh, bọn bịp bợm đủ mọi thể loại, và lũ đần độn ở đủ mọi cấp bậc đều tự nhận mình thuộc về cả hai hội đoàn ấy. Kẻ tu viện trưởng, nhìn chung, là một gã ra vẻ ta đây, và gã dân luật cũng vậy; cả hai đều nổi bật bởi nét xấc láo và tự phụ, thứ nằm lửng lơ giữa sự ngạo mạn của một tay công tử bột hạng sang và niềm kiêu hãnh uyên bác của một kẻ mọt sách hách dịch. Tu viện trưởng thường được xem là đứa con trai thứ đang mưu cầu đường tiến thân trong giáo hội — còn khu pháp đình thì được coi là chốn dung thân hoặc cái nôi cho những đứa con trai thứ hướng tới con đường luật sư; thế nhưng phần lớn những kẻ thuộc hai nghề nghiệp ấy lại rẽ ngang sang những lối đi khác của cuộc đời long đong trước khi chạm tới đích đến được vạch ra. Một tu viện trưởng lắm khi hóa thành gã lính trơn; một kẻ học luật đôi khi tụt dốc thành chân sai vặt cho luật sư. Đội ngũ chèo thuyền khổ sai của Pháp nhan nhản tu viện trưởng; và ta có thể tìm thấy không ít kẻ từng học luật ở các thuộc địa châu Mỹ của chúng ta; chưa kể đến những kẻ đã có màn từ giã cõi đời một cách công khai ngay tại quê nhà. Dẫu vậy, tôi không muốn người ta nghĩ rằng miêu tả của tôi đánh đồng mọi cá nhân trong những hội đoàn ấy. Một vài học giả lỗi lạc nhất, những chính trị gia tài ba nhất, và những bộ óc trào lộng uyên bác nhất mà châu Âu từng sản sinh ra đã từng khoác lên mình tấm áo tu viện trưởng; và nhiều dòng dõi quý tộc cao quý nhất của chúng ta ở nước Anh cũng xuất nguồn từ những kẻ từng dùi mài kinh sử nơi đền pháp đình. Những người con ưu tú của mọi cộng đồng sẽ luôn được miến trừ khỏi những lời chỉ trích và chế giễu của tôi; và dẫu tôi có cười cợt sự ngớ ngẩn của một vài cá nhân đơn lẻ, tôi vẫn luôn kính trọng và tôn sùng định chế ấy.
Nhưng hãy quay trở lại với phép so sánh này — điều mà một số độc giả có thể cho là lạc lõng và kém duyên, để nhận thấy rằng vị bá tước người Westphalia, viên sĩ quan người Hà Lan, và vị hiệp sĩ người Anh đã không hề bị bỏ quên trước sự quan tâm và chú ý đặc biệt của nhà thám hiểm chúng ta. Ông nâng ly cạn chén cùng gã người Đức trong từng vại rượu đầy; nịnh hót gã người Hà Lan bằng những lời ca ngợi sự cần cù, thịnh vượng và sách lược của Bảy tỉnh liên hiệp; nhưng mũi khoan sắc bén nhất lại được ông dành riêng cho người đồng hương của mình, với giả định rằng đây là kẻ thích hợp nhất về mọi phương diện cho mưu đồ của một tay cờ bạc đang túng quẫn. Do đó, ông chăm sóc gã này bằng một sự cẩn trọng phi thường và thái độ quan sát tinh tế; vì ông sớm nhận ra gã là một kẻ có tính khí lập dị, và từ thực tế ấy, ông tiên đoán được một cách tốt đẹp cho thành công của mình. Bản tính của vị Nam tước dường như được đúc theo đúng khuôn mẫu Anh quốc truyền thống. Gã cáu kỉnh, trầm mặc, và đầy khinh miệt; chính cái vẻ ngoài của gã đã ngầm biểu lộ một sự tự mãn về khối tài sản vượt trội, và gã chẳng bao giờ hé miệng ngoại trừ để thốt ra vài lời châm chọc khô khan mang tính bài xích quốc gia. Hành vi của gã cũng không tránh khỏi cái vẻ nghi kỵ mà một người thường mang khi tự cho mình đang lọt thỏm giữa bầy móc túi, dẫu sự cảnh giác và thận trọng của gã dư sức thách thức chúng. Nói tóm lại, dẫu miệng gã không thốt lên lời nào về chuyện đó, nhưng toàn bộ cử chỉ của gã cứ liên tục gào lên rằng: “Chúng mày toàn là một lũ khốn nghèo xác xơ, đang nhăm nhe nhòm ngó túi tiền của ông đây. Đúng là ông có thể mua đứt cả tông ti họ hàng nhà chúng mày, nhưng đừng hòng mà lừa phỉnh được ông; tao thừa sức nhận ra mấy lời nịnh hót của tụi bay và luôn cảnh giác trước mọi trò bẩn thỉu của chúng mày, còn tao đến cái xóm này đơn giản chỉ vì muốn tự tiêu khiển mà thôi.”
Fathom sau khi đã dò la rõ cái tính khí kỳ quặc ấy, thay vì đối đãi với gã bằng thứ nhã ý vồn vã mà ông dành cho những quý ông khác trong nhóm, lại chọn cách giữ khoảng cách trong câu chuyện với một vẻ dè dặt đầy lịch sự xa cách, và hiếm khi đếm xỉa gì đến lời gã nói trừ phi là để phản bác hoặc đáp trả những lời châm biếm của gã. Ông ngẫm ra đây chính là phương kế tối ưu để chiếm lấy thiện cảm của gã; bởi tự khắc gã đàn ông người Anh ấy sẽ kết luận rằng ông là một kẻ hoàn toàn vô can, không hề có mưu đồ đen tối nào nhắm vào gia tài của mình, bằng không thì ông đã chọn một lối hành xử hoàn toàn khác hẳn. Quả nhiên, vị hiệp sĩ dường như đã cắn câu. Gã lắng nghe Ferdinand với sự tôn trọng bất thường; người ta thậm chí còn nghe thấy gã cất lời khen ngợi những lời nhận xét của Fathom, và cuối cùng đã nâng ly để thắt chặt thêm tình quen biết.