Ngôi Nhà U Ám

Lượt đọc: 602 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tại Tòa Đại Chưởng

❊ ❊ ❊

Luân Đôn. Tiết Michaelmas vừa dứt, và Ngài Đại Chưởng quan đang ngự tại Lincoln’s Inn Hall. Thời tiết tháng Mười Một thật khắc nghiệt. Bùn lầy trên phố nhiều đến nỗi cứ như thể nước lũ vừa mới rút khỏi mặt đất, và chẳng có gì lạ nếu ta bắt gặp một con Megalosaurus, dài chừng bốn mươi bộ, đang lạch bạch bò như một con thằn lằn khổng lồ trên đồi Holborn. Khói sà xuống từ những ống khói, tạo thành một cơn mưa phùn đen đặc, với những mảng muội than to bằng những bông tuyết già – như thể đang để tang cho cái chết của mặt trời vậy. Chó cún lấm lem chẳng phân biệt nổi. Ngựa cũng chẳng khá hơn; bùn bắn lên tận những tấm chắn mắt. Khách bộ hành xô đẩy dù che của nhau trong một bầu không khí cáu kỉnh lan rộng, trượt chân vấp ngã ở những góc phố, nơi hàng chục ngàn người khác đã trượt ngã từ lúc rạng đông (nếu như hôm nay thực sự có rạng đông), bồi thêm những lớp bùn mới lên lớp bùn cũ, dính chặt vào mặt đường, và tích tụ lại như lãi kép.

Sương mù khắp nơi. Sương mù trên thượng nguồn con sông, nơi nó trôi lững lờ giữa những bãi bồi xanh mướt và những đồng cỏ; sương mù nơi hạ nguồn, nơi nó cuộn chảy, vấy bẩn giữa những dãy tàu bè và những rác rưởi ven bờ của một thành phố lớn (và bẩn thỉu). Sương mù trên đầm lầy Essex, sương mù trên những cao điểm Kent. Sương mù len lỏi vào bếp của những tàu chở than; sương mù nằm vắt vẻo trên những cột buồm và lơ lửng trong dây nhợ của những con tàu lớn; sương mù sà xuống mạn sà lan và những con thuyền nhỏ. Sương mù trong mắt và cổ họng của những cựu binh Greenwich, đang khò khè bên lò sưởi trong khu của họ; sương mù trong nõ điếu thuốc buổi chiều của gã thuyền trưởng cáu kỉnh, dưới cabin chật hẹp; sương mù tàn nhẫn cấu véo tay chân của cậu bé học việc run rẩy trên boong tàu. Những người qua đường trên cầu nhìn xuống qua lan can vào một bầu trời địa ngục sương mù, với sương mù vây kín xung quanh, như thể họ đang ở trên một quả khinh khí cầu và lơ lửng trong những đám mây mù mịt.

Ánh đèn ga mờ ảo xuyên qua sương mù ở nhiều nơi trên phố, giống như mặt trời le lói nhìn từ những cánh đồng sũng nước qua mắt của người nông dân hay gã cày thuê. Hầu hết các cửa hiệu đều thắp đèn sớm hơn hai tiếng—có lẽ chính ánh đèn ga cũng biết điều đó, vì nó mang vẻ bơ phờ và miễn cưỡng.

Buổi chiều ảm đạm lại càng ảm đạm hơn, sương mù dày đặc lại càng đặc quánh, và những con phố bùn lầy lại càng lầy lội nhất ở gần cái chướng ngại vật già nua đầu óc mụ mẫm kia, một vật trang trí phù hợp cho ngưỡng cửa của một tập đoàn già nua đầu óc mụ mẫm, tức là Temple Bar. Và ngay cạnh Temple Bar, trong Lincoln’s Inn Hall, ngay tại trung tâm của màn sương, Ngài Đại Chưởng quan đang ngự trong Tòa án Tối cao Đại Chưởng.

Chẳng bao giờ có màn sương nào quá dày, chẳng bao giờ có bùn lầy nào quá sâu, để có thể xứng tầm với tình trạng mò mẫm và vùng vẫy mà Tòa án Tối cao Đại Chưởng này – kẻ tội đồ già nua gớm ghiếc nhất – đang phô bày trước mắt thiên hạ và đất trời vào ngày hôm nay.

Vào một buổi chiều như thế, nếu có nơi nào đó Ngài Đại Chưởng quan nên ngự, thì chính là đây – nơi ông đang ngồi đó – với vầng hào quang sương mù bao quanh đầu, được che chắn khéo léo bởi những tấm màn và vải nhung đỏ, đang lắng nghe một vị luật sư bệ vệ với bộ ria mép lớn, giọng nói nhỏ thó, và một bản cáo trạng dài vô tận, còn bề ngoài thì đôi mắt ông đang hướng về phía chiếc lồng đèn trên mái, nơi ông chẳng thể thấy gì ngoài sương mù. Vào buổi chiều như thế, hàng chục thành viên của đoàn luật sư Tòa án Tối cao Đại Chưởng đáng lẽ phải – và thực sự đang – bận rộn một cách mù mờ trong một trong mười ngàn giai đoạn của một vụ kiện bất tận, vấp chân nhau trên những tiền lệ trơn trượt, mò mẫm lội sâu đến đầu gối trong đống thuật ngữ kỹ thuật, đâm đầu vào những bức tường chữ nghĩa với cái đầu phủ tóc giả lông dê và lông ngựa, rồi ra vẻ công bằng với những gương mặt nghiêm nghị, như những gã diễn viên. Vào buổi chiều như thế, các luật sư trong vụ kiện, vài người trong số họ đã thừa kế vụ kiện từ cha mình, những người từng kiếm bộn tiền từ nó, đáng lẽ phải – mà chẳng phải họ đang đứng đó sao? – xếp hàng trong một cái hố dài đầy thảm (nhưng đừng hòng tìm thấy sự thật dưới đáy cái hố đó) giữa cái bàn đỏ của thư ký tòa và những chiếc áo choàng lụa, với những dự luật, đơn kiện ngược, câu trả lời, sự phản đối, lệnh cấm, bản khai, vấn đề, những chỉ dẫn cho giám định viên, báo cáo của giám định viên, những núi giấy tờ vô bổ đắt đỏ chất đống trước mặt. Chẳng trách tòa án lại mờ mịt, với những cây nến đang tàn dần đây đó; chẳng trách sương mù lại treo nặng nề trong đó, như thể nó sẽ chẳng bao giờ thoát ra; chẳng trách những ô cửa kính màu lại mất đi màu sắc và chẳng cho chút ánh sáng ban ngày nào lọt vào; chẳng trách những người chưa biết chuyện từ ngoài phố, nhìn qua những ô kính cửa, lại bị cái vẻ ngoài u ám của nó xua đuổi, cùng với giọng trì trệ vang vọng lên tận mái nhà từ cái bục có đệm nơi Ngài Đại Chưởng quan nhìn vào chiếc lồng đèn không chút ánh sáng, nơi những bộ tóc giả của đám tùy tùng đều mắc kẹt trong một đống sương mù! Đây chính là Tòa án Đại Chưởng, nơi sở hữu những ngôi nhà mục nát và những mảnh đất tàn tạ ở khắp mọi hạt, nơi giữ những kẻ điên khùng kiệt quệ trong mọi nhà thương điên và những người chết trong mọi nghĩa trang, nơi có những nguyên đơn khánh kiệt với đôi gót giày xộc xệch và quần áo sờn rách đi vay mượn và van xin khắp đám quen biết, nơi trao cho những kẻ có tiền phương tiện dư dả để làm kiệt quệ công lý, kẻ làm cạn kiệt tài chính, sự kiên nhẫn, lòng can đảm, hy vọng, kẻ phá hủy trí tuệ và tan nát trái tim, đến nỗi chẳng có người lương thiện nào trong giới hành nghề ở đây lại không đưa ra – và thường xuyên đưa ra – lời cảnh báo: "Thà chịu đựng mọi bất công còn hơn bước chân vào đây!"

Ai có mặt trong tòa của Ngài Đại Chưởng quan vào buổi chiều tối tăm này ngoài chính Ngài, các luật sư, hai hay ba vị luật sư chẳng bao giờ tham gia vụ kiện nào, và những luật sư phía dưới kể trên? Có vị thư ký dưới quyền thẩm phán, đội tóc giả và mặc áo choàng; và có hai hay ba tay cầm quyền trượng, hoặc túi đựng văn thư, hoặc ví tiền mật, hay bất cứ cái gì đó, trong trang phục pháp đình. Tất cả đều đang ngáp dài, vì chẳng có lấy một mẩu giải trí nào rơi xuống từ vụ Jarndyce và Jarndyce (vụ kiện đang diễn ra), thứ đã bị vắt kiệt từ bao nhiêu năm về trước. Những người ghi tốc ký, phóng viên tòa án, và phóng viên báo chí đều luôn bỏ chạy cùng với đám người quen thuộc mỗi khi vụ Jarndyce và Jarndyce bắt đầu. Chỗ của họ trống trơn. Đứng trên ghế ở một bên hội trường, để nhìn cho rõ hơn vào cái nơi tôn nghiêm đầy rèm che, là một bà lão điên nhỏ thó với chiếc mũ mui xe xẹp lép, người luôn có mặt tại tòa từ khi mở phiên cho đến khi tan phiên, và luôn mong chờ một phán quyết khó hiểu nào đó sẽ được đưa ra có lợi cho bà. Một vài người nói bà thực sự là, hoặc đã từng là, một bên trong vụ kiện, nhưng chẳng ai biết chắc vì chẳng ai quan tâm. Bà mang theo vài thứ lỉnh kỉnh trong một chiếc túi xách mà bà gọi là tài liệu của mình, chủ yếu gồm những que diêm giấy và hoa oải hương khô. Một tù nhân da xạm đã đến, dưới sự áp giải, lần thứ sáu để đưa ra lời thỉnh cầu cá nhân nhằm "tẩy sạch sự khinh thường tòa án" của mình – một việc mà với tư cách là người thi hành di chúc duy nhất còn sót lại, người đã rơi vào trạng thái lú lẫn về những khoản tài chính mà ông ta chẳng hề biết đến, là điều chẳng bao giờ có thể xảy ra. Trong khi đó, tương lai cuộc đời ông đã chấm dứt. Một nguyên đơn khánh kiệt khác, người định kỳ xuất hiện từ Shropshire và buông lời cố gắng thuyết phục Ngài Đại Chưởng quan vào cuối ngày làm việc, người mà không cách nào khiến ông hiểu rằng Ngài Đại Chưởng quan về mặt pháp lý không hề biết đến sự tồn tại của ông sau khi đã khiến cuộc đời ông trở nên hoang tàn suốt một phần tư thế kỷ, liền tự chiếm một chỗ ngồi tốt và để mắt đến vị thẩm phán, sẵn sàng gọi lớn "Thưa Ngài!" bằng một giọng đầy oán thán ngay khi ông đứng dậy. Một vài thư ký luật sư và những người khác biết mặt nguyên đơn này nán lại với hy vọng ông ta sẽ gây ra chút trò vui và làm không khí ảm đạm này bớt phần tẻ nhạt.

Vụ Jarndyce và Jarndyce cứ lầm rầm trôi đi. Cái vụ kiện rách nát như bù nhìn này, theo thời gian, đã trở nên phức tạp đến nỗi chẳng người sống nào biết nó có nghĩa là gì. Các bên liên quan hiểu nó ít nhất, nhưng người ta đã quan sát thấy rằng không hai luật sư Đại Chưởng nào có thể nói về nó quá năm phút mà không đi đến bất đồng hoàn toàn về mọi tiền đề. Vô số đứa trẻ đã sinh ra trong vụ kiện; vô số thanh niên đã kết hôn vào trong đó; vô số người già đã chết khi nó vẫn chưa kết thúc. Hàng chục người đã phát điên khi thấy mình trở thành bên trong vụ Jarndyce và Jarndyce mà không biết tại sao hay làm thế nào; cả những gia đình đã thừa kế mối thù truyền kiếp cùng với vụ kiện. Nguyên đơn hay bị đơn nhỏ bé nào từng được hứa một con ngựa gỗ bập bênh mới khi vụ Jarndyce và Jarndyce được giải quyết thì giờ đã lớn, sở hữu một con ngựa thật, và đã phi nước đại sang thế giới bên kia. Những người được tòa giám hộ xinh đẹp đã phai tàn thành những người mẹ, người bà; một đoàn dài các Đại Chưởng quan đã đến rồi đi; quân đoàn các bản dự luật trong vụ kiện đã biến thành những tờ cáo phó; có lẽ không còn lấy ba người họ Jarndyce trên trái đất này kể từ khi lão Tom Jarndyce trong tuyệt vọng đã tự bắn vào đầu mình tại một quán cà phê ở Chancery Lane; nhưng vụ Jarndyce và Jarndyce vẫn kéo lê chiều dài buồn thảm của nó trước tòa, vĩnh viễn tuyệt vọng.

Jarndyce và Jarndyce đã trở thành một trò đùa. Đó là điều tốt đẹp duy nhất từng đến từ nó. Nó là cái chết đối với nhiều người, nhưng lại là một trò đùa trong giới luật sư. Mọi giám định viên ở Tòa Đại Chưởng đều từng có một chỉ dẫn từ nó. Mọi Đại Chưởng quan đều từng "dính líu" vào nó, cho ai đó, khi họ còn là luật sư tập sự. Những điều thú vị đã được thốt ra về nó bởi những lão thẩm phán mũi đỏ, giày củ gừng trong các buổi tiệc rượu vang tại hội trường. Các thư ký tập sự có thói quen mài giũa trí tuệ pháp lý của mình trên nó. Vị Đại Chưởng quan gần nhất đã xử lý nó rất khéo léo, khi sửa lưng ông Blowers, vị luật sư mặc áo lụa lừng danh từng nói rằng chuyện như vậy có thể xảy ra khi trời mưa ra khoai tây, ông đã nhận xét: "hoặc khi chúng ta giải quyết xong vụ Jarndyce và Jarndyce, ông Blowers" – một lời đùa cợ đặc biệt làm đám cầm quyền trượng, túi đựng văn thư và ví tiền thích thú.

Có bao nhiêu người ngoài vụ kiện Jarndyce và Jarndyce đã bị bàn tay độc hại của nó vươn ra hủy hoại và tha hóa thì là một câu hỏi quá rộng lớn. Từ người giám định mà trên các tệp hồ sơ đâm xuyên của ông, những xấp tài liệu bụi bặm trong vụ Jarndyce và Jarndyce đã vặn vẹo một cách tàn nhẫn thành đủ hình thù, cho đến gã thư ký chép thuê ở Văn phòng Sáu Thư ký, kẻ đã chép hàng chục ngàn trang tài liệu Đại Chưởng dưới cái tiêu đề vĩnh cửu đó, chẳng ai có bản tính tốt đẹp hơn nhờ nó cả. Trong sự lừa lọc, thoái thác, trì hoãn, cướp bóc, rắc rối, dưới mọi mạo danh giả tạo, có những ảnh hưởng chẳng bao giờ dẫn đến điều tốt lành. Ngay cả đám thư ký của các luật sư, những kẻ luôn ngăn cản các nguyên đơn khốn khổ bằng cách khẳng định rằng ông Chizzle, Mizzle, hay ai đó đang đặc biệt bận rộn và có lịch hẹn cho đến tận bữa tối, cũng có thể đã tự biến mình thành những kẻ lươn lẹo và dối trá hơn từ vụ Jarndyce và Jarndyce. Người quản lý tài sản trong vụ kiện đã kiếm được một khoản tiền khá lớn nhờ nó nhưng cũng đã học được sự ngờ vực đối với chính mẹ mình và sự khinh miệt đối với đồng loại. Chizzle, Mizzle, và những kẻ khác đã rơi vào thói quen mơ hồ tự hứa với mình rằng họ sẽ xem xét vấn đề nhỏ còn tồn đọng đó và xem có thể làm gì cho Drizzle – người đã không được đối xử tử tế – khi vụ Jarndyce và Jarndyce được giải quyết xong tại văn phòng. Sự trốn tránh và mánh khóe đủ loại đã được gieo rắc khắp nơi bởi vụ kiện bất hạnh này; và ngay cả những người đã chiêm nghiệm lịch sử của nó từ vòng tròn ngoài cùng của cái ác ấy cũng đã bị cám dỗ một cách vô thức vào lối sống buông thả, mặc kệ những điều tồi tệ tự theo con đường tồi tệ của chúng, và một niềm tin lỏng lẻo rằng nếu thế giới có sai lệch thì chẳng bao giờ nó được định sẵn là sẽ đi đúng hướng.

Như vậy, giữa bùn lầy và tại trung tâm của màn sương, Ngài Đại Chưởng quan đang ngự trong Tòa án Tối cao Đại Chưởng của mình.

"Ông Tangle," Ngài Đại Chưởng quan nói, có chút bồn chồn trước tài hùng biện của vị luật sư thông thái kia.

"Thưa Ngài," ông Tangle đáp. Ông Tangle biết về vụ Jarndyce và Jarndyce nhiều hơn bất kỳ ai. Ông nổi tiếng vì điều đó – được cho là chẳng bao giờ đọc bất cứ thứ gì khác kể từ khi rời ghế nhà trường.

"Ông đã gần kết thúc lập luận của mình chưa?"

"Thưa Ngài, chưa ạ – nhiều vấn đề – cảm thấy đây là nghĩa vụ phải đệ trình – thưa Ngài," là câu trả lời trượt ra khỏi miệng ông Tangle.

"Tôi tin là vẫn còn vài thành viên của đoàn luật sư cần được lắng nghe chứ?" Ngài Đại Chưởng quan nói với một nụ cười nhẹ.

Mười tám người bạn luật sư thông thái của ông Tangle, mỗi người được trang bị một bản tóm tắt gồm một ngàn tám trăm trang, nhổm dậy như mười tám cái búa trong đàn piano, cúi đầu mười tám cái, rồi chìm vào mười tám chỗ ngồi mờ mịt của họ.

"Chúng ta sẽ tiếp tục phiên điều trần vào ngày thứ Tư hai tuần sau," Ngài Đại Chưởng quan nói. Vì vấn đề đang tranh cãi chỉ là vấn đề chi phí, một nụ hoa đơn thuần trên cái cây rừng của vụ kiện mẹ, và thực sự sẽ đi đến giải quyết vào một ngày nào đó.

Ngài Đại Chưởng quan đứng dậy; các luật sư đứng dậy; người tù bị đưa lên một cách vội vàng; người đàn ông từ Shropshire kêu lên: "Thưa Ngài!" Đám cầm quyền trượng, túi văn thư và ví tiền phẫn nộ yêu cầu im lặng và cau mày với người đàn ông từ Shropshire.

"Liên quan đến," Ngài Đại Chưởng quan tiếp tục, vẫn nói về vụ Jarndyce và Jarndyce, "cô gái trẻ –"

"Xin Ngài thứ lỗi – cậu bé ạ," ông Tangle nói trước.

"Liên quan đến," Ngài Đại Chưởng quan tiếp tục với giọng đặc biệt rõ ràng, "cô gái và cậu bé trẻ tuổi, hai người trẻ tuổi đó" – ông Tangle bị dập tắt – "mà tôi đã chỉ thị phải có mặt hôm nay và hiện đang ở trong phòng riêng của tôi, tôi sẽ gặp chúng và tự mình thỏa mãn về tính hợp lý của việc đưa ra lệnh cho chúng cư trú với chú của mình."

Ông Tangle lại đứng lên. "Xin Ngài thứ lỗi – đã chết rồi ạ."

"Với," – Ngài Đại Chưởng quan nhìn qua chiếc kính hai tròng vào đống giấy tờ trên bàn – "ông của chúng."

"Xin Ngài thứ lỗi – nạn nhân của hành động thiếu suy nghĩ – bộ não ạ."

Đột nhiên, một vị luật sư rất nhỏ thó với giọng trầm kinh khủng đứng dậy, căng phồng cả người, từ những góc tối của màn sương, và nói: "Ngài có cho phép tôi không? Tôi đại diện cho ông ta. Ông ta là một người anh em họ, cách vài đời. Hiện tại tôi chưa chuẩn bị để thông báo với tòa chính xác ông ta là người anh em họ cách mấy đời, nhưng ông ta LÀ một người anh em họ."

Để lại lời tuyên bố này (được thốt ra như một thông điệp từ nấm mồ) vang vọng trên các xà mái, vị luật sư rất nhỏ thó đó ngồi xuống, và sương mù không còn biết đến ông ta nữa. Mọi người tìm kiếm ông ta. Không ai nhìn thấy ông ta.

"Tôi sẽ nói chuyện với cả hai người trẻ tuổi," Ngài Đại Chưởng quan nói lại, "và tự mình thỏa mãn về vấn đề chúng cư trú với người anh em họ. Tôi sẽ đề cập vấn đề này vào sáng mai khi tôi ngồi vào tòa."

Ngài Đại Chưởng quan định cúi chào các luật sư thì người tù được đưa ra. Không điều gì có thể đến từ sự lú lẫn của người tù ngoại trừ việc ông ta bị đưa trở lại nhà tù, điều này được thực hiện nhanh chóng. Người đàn ông từ Shropshire định đưa ra một lời phản đối nữa "Thưa Ngài!" nhưng Ngài Đại Chưởng quan, vì đã biết rõ ông ta, đã nhanh chóng biến mất. Mọi người khác cũng nhanh chóng biến mất. Một dàn túi xanh đầy ắp các bản cáo trạng nặng nề được các thư ký mang đi; bà lão điên nhỏ thó bỏ đi với tài liệu của mình; tòa án trống rỗng bị khóa lại. Nếu tất cả những bất công mà nó đã gây ra và tất cả những đau khổ mà nó đã tạo nên có thể được khóa lại cùng với nó, và tất cả được thiêu rụi trong một giàn hỏa táng lớn – thì ôi chao, tốt biết bao cho các bên khác ngoài các bên trong vụ Jarndyce và Jarndyce!

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.