Weird Tales, Số 1, Tập 1, Tháng 3 Năm 1923: Tạp Chí Độc Lạ

Lượt đọc: 178 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nơi Chốn Của Sự Điên Loạn

❊ ❊ ❊

Của Merlin Moore Taylor

“Vô lý hết sức. Nhà tù lập ra đâu phải để nuông chiều, cung phụng những kẻ đã phạm pháp.”

Stevenson, viên chủ tịch Ủy ban Giám sát Nhà tù, vung bàn tay núng nính mỡ về phía người tù đang đứng ở cuối bàn.

“Gã này,” ông ta tiếp tục, “bằng cách nào đó đã đánh hơi được chuyện báo chí đang nhằm vào giám thị trưởng, nên mới chộp lấy cơ hội này hòng tranh thủ chút lòng thương hại cho bản thân. Tôi thừa nhận mấy chuyện bạo hành tù nhân gã kể nghe rất lọt tai, nhưng tôi tin chắc gã đang thêm mắm dặm muối. Không thể nào có chuyện đó được. Kỷ luật ở một nơi như thế này phải được giữ vững, dẫu đôi khi buộc phải dùng đến biện pháp cứng rắn.”

“Thế nhưng chẳng có lý do gì để tàn bạo đến vậy,” người tù thốt lên, bất chấp quy định tù nhân không được cất lời khi chưa có lệnh.

Rồi phớt lờ bàn tay giơ lên xua đi của viên chủ tịch, anh nói tiếp: “Ở đây chúng tôi bị đối xử chẳng khác nào súc vật! Một kẻ chỉ cần mở miệng hỏi một câu nhã nhặn và thiết yếu, câu trả lời nhận lại sẽ là một quả đấm. Đánh rơi chiếc dao, cái nĩa hay chiếc thìa trên bàn ăn là bị phạt nhịn bữa kế tiếp. Những người ốm yếu không lê bước nổi vẫn bị báng súng thúc vào xưởng làm việc. Chỉ cần vi phạm những điều nhỏ nhặt, vụn vặt nhất là bị tống ngay vào xà lim tối, sống bằng bánh mì với nước lã.

“Các ngài có biết xà lim tối là gì không? Ở đây họ gọi nó là ‘phòng biệt giam’. Gọi là ‘địa ngục’ thì đúng hơn. Xung quanh toàn sắt thép: tường thép, cửa thép, trần thép, sàn thép. Không có lấy một manh chiếu để nằm, thậm chí không có một chiếc ghế đẩu để ngồi. Chẳng có gì ngoài sàn nhà trơ trụi. Và bóng tối! Một khi cánh cửa kia đã đóng sập lại, chẳng một tia sáng nào có thể lọt vào xà lim tối. Không chút dưỡng khí nào vào được ngoại trừ qua một lỗ thông hơi nhỏ trên nóc. Mà ngay cả ống thông hơi ấy cũng bị uốn cong chữ L để chặn đứng ánh sáng.

“Vậy thì có gì lạ khi ngay cả kẻ cứng đầu cứng cổ nhất bước ra khỏi đó cũng bị nghiền nát—nát tan cả tâm trí, thể xác lẫn linh hồn? Có những người phát điên—điên loạn hoàn toàn, mắt trợn trừng—chỉ sau vài giờ đồng hồ. Và vì cái gì chứ? Tôi đã phải chôn chân hai ngày trong ‘phòng biệt giam’ chỉ vì kiệt sức ngã gục ngay bên bàn làm việc ở xưởng đóng giày.

“Các ngài thấy vết sẹo này không?” Anh chỉ vào một vệt bầm thâm tím phía trên mắt. “Một tên cai ngục đã nện nòng súng trường vào mặt tôi, chỉ vì tôi không gượng dậy nổi để làm việc tiếp khi hắn ra lệnh. Hắn đánh tôi bất tỉnh nhân sự, đến khi tỉnh lại thì tôi đã nằm trong ‘phòng biệt giam’. Họ gọi đó là tội bất tuân lệnh. Họ giam tôi hai ngày ròng rã trong đó, vào cái lúc mà lẽ ra tôi phải được đưa vào bệnh viện. Hai ngày địa ngục và tra tấn chỉ vì tôi bị ốm. Người đời cứ ba hoa về chuyện cải tạo con người trong tù. Thực tế thì hoàn toàn trái ngược. Nơi này chỉ biến họ thành những tên tội phạm chai sạn—nếu như họ chưa kịp phát điên trước đó.”

Viên chủ tịch ngọ nguậy trên ghế, sốt ruột đằng hắng một tiếng.

“Chúng tôi đã lắng nghe anh khá lâu rồi, anh bạn à,” ông ta nói với vẻ kẻ cả, “nhưng riêng tôi thì đã quá đủ rồi. Hôm nay có hơn chục tù nhân ra làm chứng ở đây, và chẳng một ai đưa ra lời khai nào chứng thực cho những cáo buộc của anh cả.”

“Và tại sao chứ?” người tù gặng hỏi. “Bởi vì họ sợ nói ra sự thật. Họ thừa biết nếu chỉ cần hé môi về những gì mình thấy, họ sẽ bị đánh đập, bỏ đói và tước đoạt tiêu chuẩn giảm án vì hạnh kiểm tốt dưới bất kỳ lý do nào. Đằng nào thì các ngài cũng có tin họ đâu. Các ngài chẳng tin tôi, dẫu cho tôi cầm chắc sẽ phải trả giá đắt cho những gì mình vừa nói ở đây. Nhưng điều đó chẳng còn hề gì. Họ đâu thể tước thêm ngày giảm án nào của tôi nữa. Tôi phải thụ án chung thân kia mà.”

Giọng anh chùng xuống cay đắng.

“Và đó là một lý do tôi nói cặn kẽ mọi chuyện—vì bản thân tôi và vì những người khác, những kẻ vĩnh viễn không còn hy vọng bước chân ra khỏi nơi này. Luật pháp phán quyết chúng tôi phải sống và chết rục xương ở đây, nhưng luật pháp không hề bảo phải tra tấn chúng tôi.”

“Hội đồng này cam đoan bảo vệ tất cả những ai được triệu tập ra làm chứng tại đây,” viên chủ tịch đáp lời. “Chúng tôi không có ý định bao che cho bất kỳ ai trong cuộc điều tra này. Để đảm bảo phiên điều trần diễn ra hoàn toàn khách quan, từ giám thị trưởng, cấp phó cho đến đám cai ngục đều không được phép có mặt. Trừ phi anh có bằng chứng xác thực và chỉ đích danh những người có thể chứng thực lời cáo buộc của anh, bằng không anh có thể lui ra.”

“Xin đợi một chút.” Đó là thành viên hội đồng ngồi gần người tù nhất lên tiếng ngắt lời. Rồi quay sang người tù, ông hỏi: “Tôi nghe anh nói rằng chỉ cần vài giờ trong xà lim tối là đủ để khiến một người phát điên. Vậy mà anh đã ở đó suốt hai ngày. Anh đâu có phát điên, đúng không?”

“Thưa ngài, không,” người tù cung kính đáp. “Lương tâm tôi thanh thản nên tôi mới có thể chịu đựng hết ngần ấy thời gian mà không suy sụp. Nhưng nếu thêm một hai ngày nữa thì tôi cũng xong đời rồi. Ngài từng làm chứng chống lại tôi trong phiên tòa xét xử, phải không? Tôi không hề oán hận ngài vì điều đó, thưa ngài. Tôi ghi nhận ngài chỉ làm những gì ngài cho là bổn phận của mình. Lời khai của ngài đã ấn định bản án cho tôi. Thế nhưng tôi vô tội—”

Viên chủ tịch gõ mạnh tay xuống mặt bàn.

“Tôi hoàn toàn không hiểu chuyện này thì có liên quan quái gì đến vấn đề đang được điều tra,” ông ta bực dọc phản đối. “Chúng ta đâu có xét xử lại vụ án của gã này. Tòa án đã phán quyết xong xuôi rồi. Gã cũng giống hệt như lũ còn lại thôi. Đứa nào chẳng sẵn sàng đặt tay lên cả chồng Kinh Thánh mà thề rằng mình vô tội. Hãy tiếp tục cuộc điều tra đi.”

Người tù lặng lẽ cúi đầu, quay người về phía cánh cửa nơi lính gác đang đợi để dẫn giải anh về buồng giam. Một bàn tay đặt lên cánh tay giữ anh lại.

“Thưa ngài chủ tịch,” Blalock, người thành viên vừa thẩm vấn phạm nhân, lên tiếng, “tôi đề nghị cho phép người này nói tiếp những gì anh ta đang nói dở. Tôi sẽ không hỏi thêm câu nào nữa đâu. Anh vừa nói gì nhỉ”—ông gợi ý cho người đàn ông bên cạnh.

“Tôi vừa nói rằng tôi vô tội,” người tù tiếp tục. “Tôi định nói thêm rằng ngay cả một kẻ không hề vướng bận tội lỗi cũng chẳng thể nào chống chọi nổi sự kinh hoàng của phòng biệt giam trong một thời gian dài. Đơn cử như ngài đây, một bác sĩ, một người có thanh danh mẫu mực mà chưa một ai dám thốt nửa lời dị nghị. Thế nhưng tôi ngờ rằng liệu ngài có chịu nổi vài giờ trong xà lim tối hay không. Nếu ngài thử một lần, ngài sẽ tự hiểu tôi đã nói thật. Thưa các ngài, tôi cầu xin các ngài hãy làm hết sức mình để xóa bỏ xà lim tối. Sức chịu đựng của con người chỉ có hạn mà thôi, nếu các ngài chịu đào sâu tìm hiểu sự thật, các ngài sẽ thấy mười lần thì có đến chín lần các vụ bạo loạn trong tù là do những kẻ bị bẻ gãy tinh thần trong ‘phòng biệt giam’ gây ra. Tôi chỉ xin nói chừng ấy.”

Anh cung kính cúi chào rồi bước ra ngoài.

“GÃ ĐÓ KHÉO MIỆNG ĐẤY CHỨ,” viên thư ký ủy ban lên tiếng phá vỡ bầu không khí im lặng. “Gã suýt nữa làm tôi tin sái cổ. Hắn là ai thế, Blalock? Tôi nhớ chính ông đã yêu cầu triệu tập hắn mà.”

Vị bác sĩ gật đầu.

“Tôi thú thật mình triệu tập hắn phần vì tò mò chuyện cá nhân nhiều hơn là hy vọng hắn cung cấp được lời khai giá trị,” ông nói. “Sự bộc phát của hắn làm tôi bất ngờ. Đúng là một kẻ hoạt ngôn. Tên hắn là Ellis—Martin Ellis—xuất thân từ một gia đình danh giá và khá giả. Tốt nghiệp đại học và thừa khả năng tự gầy dựng một sự nghiệp rạng rỡ. Nhưng ở nhà hắn được nuông chiều như con cưng, tiền bạc tiêu xài quá mức cần thiết. Điều đó biến hắn thành một kẻ nhàn cư vi bất thiện, một công tử lông bông. Tuy vậy, làm gì hắn cũng làm công khai, và tôi chưa từng nghe thấy hắn dính líu đến chuyện gì mờ ám nghiêm trọng cho đến khi hắn bị kết án vì tội ác đưa hắn vào chốn này.”

“Chắc là tội giết người?” Stevenson, viên chủ tịch, dù không muốn cũng phải lấy làm tò mò. “Hắn vừa nói mình chịu án chung thân mà.”

“Vâng; giết một cô gái. Tên cô ta là Agnes Keller. Nhà nghèo nhưng rất được mọi người quý mến. Cô ta tích cực làm việc thiện ở nhà thờ, tham gia ca đoàn, đại loại thế. Tại phiên tòa người ta đã làm rõ—thực ra chính Ellis tự khai nhận—rằng hắn si mê cô ta và hai người qua lại với nhau rất nhiều. Dĩ nhiên là vụng trộm, bởi lão Ellis, cha hắn, mà biết thì chắc chắn sẽ lộn cạo cả lên. Mối tình này rồi cũng kết thúc như bao mối tình vụng trộm khác, nhất là khi cô gái trẻ đẹp lại nghèo hèn. Giả thuyết của bên công tố là khi phát hiện mình có thai, cô ta hoảng loạn và đòi Ellis phải cưới, bằng không cô ta sẽ đem toàn bộ sự việc đến thưa với cha hắn. Hắn bị cáo buộc đã giết cô ta để khỏi phải đưa ra lựa chọn. Bằng chứng chống lại hắn hoàn toàn chỉ là bằng chứng gián tiếp, nhưng bồi thẩm đoàn cho rằng như thế là quá đủ để kết luận.

“Trước vành móng ngựa, Ellis thừa nhận họ thường lái ô tô đi chơi đêm với nhau. Một tình tiết định tội chí mạng là người ta nhìn thấy hắn lái xe một mình, chạy rất nhanh qua con đường làng gần nơi thi thể cô gái được tìm thấy. Hắn không có chứng cứ gì để bảo vệ cho lời khai rằng mình cảm thấy khó chịu nên lái xe đi dạo cho đỡ đau đầu. Dĩ nhiên hắn phủ nhận sạch trơn chuyện mình khiến cô ta mang thai, thậm chí chối cả việc mình biết chuyện đó, nhưng bồi thẩm đoàn chỉ mất chưa đầy một giờ để nghị án. Vướng mắc duy nhất, như sau này tôi được biết, chỉ là có nên tuyên án tử hình hắn hay không mà thôi.”

“Hắn bảo ông từng làm chứng chống lại hắn. Vai trò của ông trong vụ đó là gì?” Stevenson hỏi.

“Một vai trò chẳng đặng đừng,” Blalock đáp nhanh. “Lúc đó tôi không tin Ellis có tội. Đến tận bây giờ tôi vẫn chưa hẳn tin. Nhưng với tư cách là bác sĩ riêng của cô gái, và hẳn là một trong những người cô ta tìm đến nương tựa khi gặp hoạn nạn, tôi bị thẩm vấn ngay sau khi nhân viên điều tra khám nghiệm tử thi. Tôi thừa nhận cô gái có tâm sự với tôi và tôi cũng đồng tình rằng kẻ làm việc đó phải chịu trách nhiệm cưới cô ta. Cô ấy không nói cho tôi biết tên người đàn ông đó, nhưng lời khai của tôi đã tạo thêm sức nặng cho giả thuyết rằng Ellis giết cô ta để trốn tránh việc kết hôn.”

Cánh cửa phòng bật mở, viên giám thị trưởng xuất hiện nơi ngưỡng cửa.

“Tôi vào được chứ?” ông ta hỏi. “Bữa tối gần xong rồi, tôi nghĩ mình nên báo trước cho các ngài một tiếng.”

Ông ta bước qua một chiếc ghế trống rồi ngồi xuống.

“Chúng tôi đã lấy xong lời khai từ lúc nãy rồi,” viên chủ tịch nói. “Từ lúc đó đến giờ bác sĩ Blalock đang kể cho chúng tôi nghe vụ án của cái gã Martin Ellis vừa ra làm chứng. Khá là ly kỳ đấy.”

“Vâng, viên cảnh sát trưởng áp giải hắn đến đây đã kể hết cho tôi nghe rồi,” viên giám thị trưởng đáp. “Gã đó khó bảo lắm. Cách đây ít lâu có gây sự với một tay cai ngục, chúng tôi phải kỷ luật hắn.”

“Hai ngày trong phòng biệt giam ăn bánh mì uống nước lã, phải không?” Blalock hỏi. “Hắn chẳng dành lời tốt đẹp nào cho chỗ đó đâu.”

Viên giám thị trưởng đỏ mặt.

“Mấy ai từng nếm mùi chỗ đó mà khen được,” ông ta thừa nhận. “Vấn đề là ở chỗ bị bỏ mặc một mình với những suy nghĩ và lương tâm của chính mình. Những thứ đó trừng phạt người ta tàn nhẫn hơn bất cứ hình phạt nào. Thôi, các ngài tạm nghỉ tay rồi đi dùng bữa tối nhé? Sau đó các ngài có muốn đi một vòng thanh tra nhà tù theo định kỳ không?”

“Ồ, chắc chắn rồi,” viên chủ tịch ngáp dài một tiếng. “Chẳng cần nói cũng biết mọi thứ đều ổn cả như thường lệ thôi, nhưng nếu chúng tôi bỏ qua thì lũ nhà báo lại có cớ để tru tréo lên.”

Ông ta đứng dậy, cùng các thành viên còn lại trong ủy ban lững thững bước theo sau viên giám thị trưởng đến phòng ăn.

“Nào, ta đi thanh tra cho xong việc đi,” Stevenson đề nghị khi bữa ăn kết thúc. “Đi đâu trước đây, thưa giám thị trưởng?”

“Trước hết là qua các xưởng làm việc và các khu nhà phụ, sau đó đến các buồng giam. Đi như thế các ngài sẽ kết thúc chuyến đi ở vị trí gần tòa nhà điều hành nhất, tiện quay lại hội ý mà không mất nhiều thời gian.”

Đám lính gác bận sắc phục đứng nghiêm chào răm rắp khi viên giám thị trưởng dẫn đoàn ủy ban đi qua. Những tên tù “tin cẩn” vây quanh đon đả, sốt sắng phục vụ. Những cánh cửa sắt đồ sộ nặng nề mở toang khi đoàn ủy ban đến gần, rồi đóng sầm lại vang dội sau lưng họ. Ánh nắng ban chiều rọi nghiêng qua những chấn song sắt làm vơi đi vẻ u ám của các dãy buồng giam, phơi bày quang cảnh sạch sẽ tinh tươm đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cho chuyến thị sát.

“Chà, mọi thứ có vẻ đều ổn thỏa cả,” viên chủ tịch nhận xét khi cả đoàn lại tiến gần về phía khu văn phòng. “Còn ai có ý kiến gì nữa không?”

“Có, tôi muốn tận mắt thấy xà lim tối,” viên thư ký lên tiếng. “Tôi nhớ mình chưa từng ghé qua đó bao giờ, mà cái gã Ellis kia lại làm tôi thấy tò mò. Hắn bảo nơi đó là một phiên bản thu nhỏ của Âm phủ. Nó nằm ở đâu vậy, thưa giám thị trưởng?”

Viên giám thị trưởng nở nụ cười bông đùa.

“Ngài sẽ thất vọng cho mà xem,” ông ta cảnh báo. “Nó nằm dưới tầng hầm, nơi những tù nhân nào thích thì cứ việc gào thét khản cổ cho thỏa thích mà chẳng sợ làm phiền đến ai. Hơi tối một chút, dĩ nhiên rồi, nhưng nếu với vài kẻ nó là địa ngục thì âu cũng là do chính họ tự chuốc lấy mà thôi. Nếu các ngài thực sự muốn xem thì xin mời theo tôi. Cơ mà hiện giờ không có ai bị giam dưới đó đâu.”

Ông ta không buồn nhắc đến chuyện chính mình đã thu xếp trước việc này. Giữa lúc dư luận đang ầm ĩ về cách quản lý nhà tù, thận trọng vẫn là hơn cả. Ông ta đã lường trước việc ủy ban có thể quyết định mở một cuộc điều tra thực sự, và ai mà biết được một phạm nhân sẽ ra nông nỗi nào sau vài giờ bị nhốt trong “phòng biệt giam”.

“CỦA CÁC NGÀI ĐÂY,” ông ta nói với một cái xua tay hoa mỹ sau khi một tên tù “tin cẩn” bật công tắc đèn dưới tầng hầm. “Không phải chỉ một buồng đâu, mà có đến nửa tá buồng tối đấy nhé.”

Ông ta lùi lại phía sau khi các thành viên ủy ban chen nhau bước tới, ngó nghiêng vào những hốc tối sâu hoắm. Phía trên mỗi ô cửa, một bóng đèn điện le lói tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt, quá mờ để có thể chiếu rọi vào tận các góc tường. Những cánh cửa sắt đặc dày cộp đính đầy ốc tán đang mở toang, trông sừng sững và đầy đe dọa.

“Có ngài nào muốn vào thử một phen không?” viên giám thị trưởng đứng từ phía sau lên tiếng hỏi.

“Chắc chắn rồi, cứ để Blalock thử một buồng xem sao,” viên thư ký gợi ý. “Lương tâm ông ấy hẳn là đủ trong sạch để khỏi bị dằn vặt. Vào đi bác sĩ; thử một lần rồi cho chúng tôi biết cảm giác thế nào. Tôi cũng muốn thử lắm, nhưng chẳng dám mạo hiểm với lương tâm mình đâu.”

Blalock, lúc này đang đứng ngay bên trong cửa một buồng giam, quay người lại và im lặng nhìn họ một hồi.

“Lời gợi ý của các vị dĩ nhiên chỉ là nói đùa,” ông nói. “Thế nhưng,” giọng ông bỗng dưng đanh thép hẳn lên, “tôi sẽ nhận lời thách thức này! Đừng,” ông xua tay trước hàng loạt tiếng thốt lên kinh ngạc của những người khác, “tôi đã quyết định rồi. Giám thị trưởng, tôi muốn việc này phải diễn ra chân thực nhất có thể. Xin ông cung cấp cho tôi một bộ quần áo tù nhân đúng chuẩn.”

“Trời đất, thật đúng là trò điên rồ hết chỗ nói,” viên chủ tịch thốt lên. Rồi ông ta nhún vai. “Đi lấy một bộ đồ kẻ sọc ngựa vằn lại đây, giám thị trưởng. Tôi chỉ mong chuyện này đừng có lọt ra mặt báo.”

Một tên tù “tin cẩn” được phái đi lấy bộ đồ sọc. Khi bộ đồ được mang tới, Blalock đã cởi bỏ y phục thường ngày bên ngoài giữa những lời trêu chọc của mọi người. Ông không thèm đáp lại một lời cho đến khi cài xong cúc chiếc áo khoác tù và chụp chiếc mũ sọc nhỏ lên đầu.

“Tôi nghĩ mình đã sẵn sàng,” bấy giờ ông mới lên tiếng. “Các vị đã xem thường và chế giễu cuộc thử nghiệm mà tôi sắp thực hiện. Nhưng tôi xin nói với các vị rằng tôi làm việc này hoàn toàn nghiêm túc. Tôi không tin ‘phòng biệt giam’ lại tồi tệ như những gì Ellis đã miêu tả cho chúng ta. Tôi sẽ tự mình tìm hiểu. Thưa giám thị trưởng, xin ông hãy bảo đảm rằng mọi điều kiện ở đây phải chuẩn xác y như những gì một tù nhân phải chịu đựng ở chốn này.”

Ông quay phắt người trên gót chân rồi rảo bước vào sâu bên trong buồng giam.

“Ngài muốn ở trong đó bao lâu?” viên giám thị trưởng hỏi. “Mười lăm phút hay chừng đó nhé?”

“Ellis dám chắc rằng tôi không thể chịu đựng nổi một hai giờ đồng hồ cơ mà,” tiếng đáp vọng ra từ đáy buồng giam sâu thẳm. “Cứ ấn định là hai tiếng đi. Hết thời gian đó các ông có thể quay lại mở cửa cho tôi. Nhưng không được sớm hơn dù chỉ một phút.”

“Được thôi, số 9982,” viên giám thị trưởng đáp. “Bây giờ ngài được ở một mình với lương tâm của ngài rồi đấy.”

Cánh cửa nặng trịch đóng sầm lại, một tiếng “tách” rất khẽ báo cho Blalock biết bóng đèn phía trên cửa đã bị tắt phụt. Kế đó là tiếng bước chân xa dần, xa dần, rồi tiếng cánh cửa dẫn xuống tầng hầm sập lại—và sau đó là sự im lặng. Blalock chỉ còn lại một mình.

Dùng hai tay lần mò trong bóng tối, ông lần bước tới một góc buồng giam rồi ngồi bệt xuống mặt sàn cứng ngắc, trơ trọi.

ÔNG NHẮM NGHIỀN MẮT LẠI và bắt đầu tập trung tâm trí vào một đề tài nào đó, cốt sao gạt đi cái thực tế rằng mình đang là một tù nhân—dù là tù nhân tự nguyện, nhưng rốt cuộc vẫn cứ là một tù nhân.

Ông vốn luôn tự hào về khả năng muốn xua tan mọi ý nghĩ ra khỏi đầu lúc nào cũng được, chỉ giữ lại duy nhất chủ đề mà mình mong muốn. Lúc này, ông chọn hú họa việc bắt đầu phác thảo đề cương cho một bài thuyết trình mà ông dự kiến sẽ trình bày trước hội nghị y khoa trong hai tuần tới.

Ở nhà, trong phòng làm việc của mình, Blalock vẫn quen ngả lưng thoải mái trên chiếc ghế bành êm ái, chân gác lên đẩu, đầu gối lên gối mềm. Còn ở đây, hai chân ông phải duỗi thẳng trên sàn nhà vuông góc với thân mình, lưng dựa thẳng đứng vào bức tường thép dựng đứng phía sau. Ông cố giảm bớt sự căng cứng bằng cách co đầu gối lên, nhưng mặt sàn quá trơn nhẵn chẳng có chỗ tì, khiến gót chân ông cứ trượt đi liên tục.

Bực bội, Blalock trườn người ra khỏi góc tường và thử nằm ngửa ra, mắt trừng trừng nhìn vào khoảng tối tăm mịt mùng phía trên. Ngay lập tức tư thế ấy cũng trở nên khó chịu, ông nghiêng người sang bên này rồi lại lật sang bên kia, cuối cùng đành chống tay gượng dậy dựa lưng vào tường. Ông đoán chừng mười lăm hay hai mươi phút nữa lại trôi qua theo cách ấy. Nhận thấy không tài nào tập trung tư tưởng được, ông quyết định cứ để mặc cho tâm trí mình lang thang.

Dựa vào tường chẳng mấy chốc cũng đâm ra mỏi mệt, Blalock bắt đầu đi đi lại lại quanh phạm vi chật hẹp của buồng giam. Bốn bước theo một chiều, xoay vuông góc đi hai bước, rồi lại bốn bước, rồi lại hai bước. Điều đó làm ông nhớ tới một con gấu lớn mà ông từng quan sát trong sở thú, cứ lững thững đi đi lại lại sau chấn song sắt, nhưng chẳng bao giờ dám rời xa cánh cửa ngăn cách nó với thế giới tự do bên ngoài.

Bất thình lình, Blalock nhận ra mình đã đi vòng tròn quá nhiều lần trong bóng tối đến mức mất phương hướng, chẳng còn biết cánh cửa buồng giam nằm ở phía nào nữa. Ông bắt đầu lần mò tìm kiếm, dùng những ngón tay phẫu thuật viên nhạy cảm lần theo các bức vách để tìm chỗ cánh cửa khớp vào tường buồng giam.

Sau hai vòng tìm kiếm mà vẫn không xác định được vị trí cánh cửa, ông đâm ra bực tức. Ông có thể định vị bằng cách đếm các góc tường mỗi khi chạm tới. Nhưng cánh cửa lại khít khao vào khuôn đến nỗi ông không tài nào phân biệt nổi nó với những đường rãnh ghép nối giữa các tấm thép của buồng giam.

Ngay lập tức, việc biết được cánh cửa nằm ở đâu đã trở thành điều hệ trọng nhất trên cõi đời này đối với ông. Ông nghĩ đến việc gõ vào các bức tường xem liệu có chỗ nào phát ra âm thanh khác lạ hay không, để qua đó tìm ra điều mà ông cảm thấy mình sống chết phải biết cho bằng được.

Chuyện đó giờ đây đã trở thành một nỗi ám ảnh điên cuồng. Thế là, ông bắt đầu dùng các khớp ngón tay gõ nhẹ vào vách thép, chỗ này, chỗ kia, gõ hết góc này sang góc khác. Sau đó ông lại áp tai vào khắp nơi để nghe ngóng, đôi tai vốn được trui rèn để nhận biết từng biến đổi nhỏ nhất trong nhịp đập của trái tim con người ngay cả khi không có ống nghe trợ giúp, nay áp sát vào những vách tường lạnh ngắt.

Nhưng một lần nữa ông lại chịu thất bại. Mọi điểm gõ vào đều phát ra thứ âm thanh rỗng tuếch, trơ lỳ như nhau.

Nổi cơn tam bành, Blalock tung một cú đá độc địa vào tấm thép vô tri vô giác. Cơn đau nhói buốt ở những ngón chân bị hành hạ là phần thưởng thích đáng cho ông; thốt lên một tiếng rên rỉ đau đớn, ông ngã thụp xuống sàn, ôm lấy bàn chân bị thương tích.

Đoạn ông nhận thấy hai bàn tay mình nhơm nhớp ướt, và khi phát hiện các khớp ngón tay đã bị tróc da tứa máu toe toét, ông hiểu đó chính là máu của mình. Ông tuyệt vọng vùng vẫy để giành lại quyền kiểm soát bản thân, cố ép mình phải giữ vẻ điềm nhiên, thản nhiên khi viên giám thị trưởng đến mở cửa thả ông ra—điều mà Blalock tin chắc chỉ còn là vấn đề vài ba phút nữa là cùng.

Ông bắt gặp chính mình đang dỏng tai lên lắng nghe từng tiếng bước chân của viên giám thị trưởng, hay của tên tù “tin cẩn” hoặc gã cai ngục nào đó được phái tới mở cửa cho mình. Ông căng tai cố bắt lấy tiếng kim loại lách cách từ đằng xa báo hiệu có người bước xuống tầng hầm.

Thế nhưng chỉ có tiếng thở phì phò của chính ông xé toạc bầu không khí tĩnh mịch căng thẳng. Thật kỳ lạ, ông nghĩ, mọi thứ xung quanh sao có thể im ắng đến rợn người như thế này. Chẳng cần phải tưởng tượng quá mức cũng có thể hình dung ra cảnh mình thực sự là một tên tù ngoan cố, bị tống vào “phòng biệt giam” để gặm nhấm những tội lỗi của bản thân.

Nghĩ xa hơn, ông nhớ lại một câu chuyện từng đọc từ rất lâu về trước, kể về một người đàn ông tỉnh dậy và thấy mình là sinh linh sống sót duy nhất trên đời, những người khác đều đã bị quét sạch chỉ trong một cái chớp mắt bởi một thế lực huyền bí nào đó.

Tại sao viên giám thị trưởng còn chưa chịu đến thả ông ra khỏi đây chứ? Chắc chắn hai tiếng đồng hồ đã trôi qua rồi, và ông bắt đầu phát ngấy lên rồi đấy!

Thế nhưng, tuyệt đối không được để ai bắt gặp mình trong tâm trạng thế này khi cánh cửa kia mở ra. Ông phải bước ra ngoài với nụ cười trên môi, sẵn sàng vạch trần bộ mặt dối trá của cái gã Ellis hoạt ngôn kia.

Một lần nữa ông lại gượng dậy và bắt đầu chuyến đi vòng quanh các bức tường. Ông cảm thấy mình đã làm chủ lại được bản thân, và việc cố giải câu đố về cánh cửa trốn tìm này âu cũng chẳng hại gì.

Có lẽ viên giám thị trưởng bị vướng vào một sự cố bất ngờ nào đó chăng. Ồ, thôi kệ, thêm vài ba phút nữa thì có hề hấn gì. Cứ thử tưởng tượng xem nếu mình rơi vào hoàn cảnh của Ellis! Tù chung thân kia đấy! Ông không muốn nghĩ tới Ellis nữa. Nhưng không hiểu sao khuôn mặt của kẻ chịu án chung thân ấy cứ chập chờn hiện lên trước mắt ông—khuôn mặt và những lời lẽ của hắn.

Ellis đã nói những gì nhỉ? “Đơn cử như ngài đây, một bác sĩ, một người có thanh danh mẫu mực mà chưa một ai dám thốt nửa lời dị nghị. Thế nhưng tôi ngờ rằng liệu ngài có chịu nổi vài giờ trong xà lim tối hay không.”

Và viên giám thị trưởng còn bồi thêm rằng ở trong xà lim tối, con người ta chỉ còn trơ trọi một mình với lương tâm của chính mình. Chết tiệt cái lão giám thị trưởng ấy! Lão ta biến đâu mất rồi không biết? Blalock bắt đầu thấy ghét cay ghét đắng lão ta. Biết đâu những chuyện bạo hành mà báo chí phanh phui lại có thật, rốt cuộc là thế.

Nỗi ác cảm dành cho viên giám thị trưởng dần dà chuyển thành lòng thù hận. Blalock tự hỏi không biết có phải viên giám thị trưởng cùng cái gã Stevenson lùn tịt, béo ục ịch kiêm chủ tịch ủy ban kia đã chụm đầu vào nhau và quyết định chơi một vố khăm, cứ mặc xác ông trong này lâu hơn nhiều so với thời gian ông yêu cầu hay không. Để rồi xem, một khi bước chân ra khỏi đây, ông sẽ cho chúng biết tay, cho chúng biết ông không thích cái kiểu đùa cợt đó, rằng ông không phải là hạng người để cho người ta giở trò trêu ngươi.

Thêm một giờ đồng hồ nữa lại trôi qua theo sự tính toán của ông, và cơn thịnh nộ cùng sự quẫn trí đã hoàn toàn nuốt chửng lấy ông. Ông điên cuồng đá thùm thụp vào vách tường, dùng hai nắm đấm thụi liên hồi vào thép lạnh, chẳng còn hay biết mình đang tự hủy hoại bản thân.

Rồi nỗi sợ hãi ập đến—nỗi sợ rằng mình đã bị người ta lãng quên!

Ngộ nhỡ có một cuộc bạo loạn nổ ra trong trại giam, và lũ tù nhân đã làm chủ tình hình thì sao! Liệu chúng có thả ông ra không? Hay chúng sẽ trút cơn thịnh nộ lên đầu ông khi không tìm thấy một nạn nhân nào khác?

ÔNG BẮT ĐẦU CẤT TIẾNG GỌI, thoạt đầu còn chừng mực và thường dừng lại lắng nghe xem có ai đáp lại chăng; rồi tiếng gọi cứ lớn dần, lớn dần lên, cho tới khi ông gào thét không ngừng nghỉ.

Ông rủa sả và thề thốt, van xin rồi nịnh nọt, đe dọa rồi tìm cách mua chuộc hết lần này đến lần khác, chỉ đòi hỏi duy nhất một điều là được lôi ra khỏi cái chốn kinh hoàng này. Ông đâu còn ý thức được rằng chẳng một ai có thể nghe thấy tiếng ông, rằng chỉ có tiếng dội lại của chính giọng nói mình gầm vang như sấm sét trong cái không gian chật hẹp ấy đáp trả lại ông. Từ trần nhà dội xuống, từ sàn nhà hắt lên, từ bốn bức vách đập thẳng vào mặt, thứ âm thanh do chính ông tạo ra đang bóp nghẹt lấy ông, nghiền nát ông.

Nỗi kinh hoàng tột độ giờ đây đã tóm chặt lấy ông trong móng vuốt băng giá của nó. Những ý nghĩ điên cuồng cuộn trào trong não bộ ông như dòng nước lũ cuộn xoáy qua cối xay. Mồ hôi vã ra như tắm, chảy thành từng dòng ròng ròng trên mặt khi ông đấm đá, đập phá điên cuồng vào các bức tường. Đầu óc ông như bốc hỏa. Ông bắt đầu nhận ra những lời Ellis nói hoàn toàn có thể là sự thật rành rành. Người ta phát điên ở chốn này thật! Trời đất ơi, chính ông cũng đang phát điên lên đây này—điên cuồng vì sự tra tấn mà thể xác đang phải gánh chịu, điên loạn vì phải trơ trọi một mình với những suy nghĩ của chính mình.

Cũng có những khoảnh khắc tỉnh táo hơn đôi chút, khi lý trí vùng vẫy trong tuyệt vọng hòng giành lại quyền kiểm soát. Tiếng gào thét của Blalock bớt dữ dội hơn, và trong tiếng rên rỉ, thổn thức nghẹn ngào, ông lại bắt đầu chuyến đi vòng quanh buồng giam vô tận ấy để tìm kiếm cánh cửa. Lại thất bại, ông lại phát cuồng, lảo đảo lao từ bức tường này sang bức tường khác, hoặc nhảy chồm chồm lên trần nhà như thể bằng một phép màu nào đó, lối thoát sẽ mở ra từ hướng ấy.

Cuối cùng kiệt sức, ông ngã vật xuống sàn, cảm nhận sâu sắc từng đêm dài ngày rộng dường như bất tận đang trôi qua trên đầu mình, và cơn đói khát cồn cào, buốt nhói đang bóp nghẹt lấy ông trong nanh vuốt của chúng.

Từng chập từng hồi, sức lực lại dội về, thứ sức lực được tiếp sức bởi một ý chí ngoan cường khiến ông lại gượng đứng dậy để tiếp tục nện ầm ầm vào vách thép, lại gào thét và tru tréo trong cơn cuồng loạn, chỉ mong sao cho ai đó bên ngoài nghe thấy.

Các khớp ngón tay ông dập nát và bê bết máu, đôi môi nứt nẻ và sưng vù; giọng ông rít lên the thé từ cái cổ họng khô rát, rách bươm, thân thể và đôi chân ông đang gục ngã trước một sự rệu rã khôn cùng không thể nào cưỡng lại nổi.

Cuối cùng thì giây phút ấy cũng đến, khi chính giọng nói của ông không còn gầm rú bên tai mình nữa, khi đôi chân khước từ mệnh lệnh của ý chí sai khiến nó phải nâng thân hình ông đứng dậy, khi hai cánh tay ông không tài nào nhấc lên nổi nữa. Ý chí sắt đá cuối cùng cũng bị bẻ gãy hoàn toàn, ông buông xuôi cuộc đấu tranh và đổ sụp xuống sàn nhà. Và xung quanh ông, bóng tối khép chặt lại—bóng tối cùng sự câm lặng nghìn thu.

Thế rồi cánh cửa bật mở toang, và in bóng trên nền ánh sáng rực rỡ bên ngoài là viên giám thị trưởng.

“Đã thỏa mãn chưa hả bác sĩ?” ông ta cất tiếng gọi vui vẻ. “Hai tiếng của ngài hết rồi đấy.... Ơ kìa, sao ngài không trả lời tôi? Bác sĩ Blalock! Có chuyện gì thế hả ngài?”

Ông ta ngó nghiêng vào buồng giam, cố ép mắt nhìn xuyên qua bóng tối mịt mùng nhưng vô ích. Chẳng thấy gì, ông ta lúng túng lục tìm que diêm trong túi áo, đôi bàn tay run rẩy quẹt diêm vào cánh cửa.

Thế rồi mặt ông ta cắt không còn giọt máu, người lảo đảo chực ngã và que diêm cháy lụi xuống tận da thịt làm bỏng rát tay ông ta. Bởi ở góc tường xa xa, ông ta vừa nhìn thấy một hình hài nằm sóng xoài trên lưng, một sinh vật tiều tụy, bê bết máu me với mái tóc bạc trắng như cước, đang nhấp nháy đôi mắt đờ đẫn vô hồn nhìn ông ta, miệng lẩm bẩm những lời lắp bắp, điên dại chẳng ra người.

LÝ TRÍ TRỞ LẠI VỚI BLALOCK vào một ngày nhiều tuần sau đó.

Ông mở mắt ra với ánh nhìn tỉnh táo, và khung cảnh xung quanh mách bảo cho ông biết mình đang nằm trong bệnh viện. Bên ngoài, ánh nắng chan hòa rực rỡ, trong một công viên nhỏ ngay gần đó, chim muông đang hót líu lo và làn gió mát lành mang theo tiếng trẻ thơ nô đùa ríu rít.

“Cuối cùng thì ngài cũng tỉnh lại rồi đấy ư?” cô y tá đội mũ trắng vừa bước vào phòng liền lên tiếng hỏi han.

“Phải,” Blalock thốt lên bằng một giọng thì thào the the như rách toạc. Lúc này ông vẫn chưa biết rằng chất giọng trầm ấm, điềm đạm mà ông từng tự hào là vũ khí lợi hại nhất của mình bên giường bệnh nhân nay đã vĩnh viễn mất đi. Cơn căng thẳng tột cùng mà thanh quản phải gánh chịu trong những đợt cuồng loạn nơi xà lim tối đã phá nát nó hoàn toàn.

“Ngài đang hồi phục tuyệt vời lắm,” cô y tá tươi cười trấn an. “Ngài từng ốm rất nặng, nhưng giờ thì đang bình phục rất nhanh rồi.”

“Không,” Blalock quả quyết nói như một người biết rõ sự tình. “Tôi sẽ chẳng bao giờ lành lặn lại được đâu. Làm ơn cho tôi xin chiếc gương soi.”

“Tôi e là quanh đây không có sẵn gương đâu ạ,” cô lảng tránh, không nỡ để ông nhìn thấy sự tàn phá khủng khiếp trên gương mặt mình.

Nhưng ông nài nỉ.

“Làm ơn đi,” ông cầu xin, “tôi đã chuẩn bị sẵn tâm lý rồi và tôi nghĩ mình sẽ không gục ngã đâu. Tôi sẽ can đảm.”

Miễn cưỡng, cô y tá bèn đặt chiếc gương bạc vào tay ông. Khi ông đưa tay ra đón lấy, tay ông bỗng khựng lại giữa chừng. Bàn tay mà ông vẫn thường thấy, với những ngón thon dài và móng tay được cắt tỉa gọn gàng, bàn tay từng khéo léo thực hiện những ca phẫu thuật tinh vi, nay đã biến mất. Thay vào đó là một cái vuốt gầy guộc như móng chim, với các khớp ngón tay vặn vẹo, biến dạng.

Cuối cùng Blalock cũng vươn tay ra, cầm lấy chiếc gương rồi chầm chậm nhưng vững vàng đưa lên ngang tầm mắt. Ông đã chuẩn bị tinh thần cho những đổi thay, nhưng cảnh tượng đập vào mắt vẫn vượt quá sức tưởng tượng. Mái tóc đen gợn sóng ngày nào nay đã nhường chỗ cho những lọn tóc trắng xóa như tuyết. Gương mặt ông hốc hác, nhăn nheo, và đôi mắt đờ đẫn vô hồn trừng trừng nhìn lại ông từ những hốc mắt sâu hoắm. Ông đăm đăm nhìn cái bóng ma dị hợm ấy hồi lâu, rồi lặng lẽ buông chiếc gương rơi xuống tấm chăn và nhắm nghiền mắt lại.

“Bác sĩ đừng quá đau lòng,” cô y tá van nài. “Ngài vừa trải qua một cơn ác mộng kinh hoàng và mặt ngài lúc này mới lộ rõ điều đó. Nhưng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi—” Lời nói dối chẳng thể thốt ra một cách trơn tru, lưỡi cô ngập ngừng ngắc ngứ.

“Đừng bận tâm chuyện đó,” Blalock thì thào. “Giờ thì điều đó chẳng còn quan trọng nữa rồi. Làm ơn mời Stevenson đến đây cho tôi.”

Viên chủ tịch Ủy ban Giám sát Nhà tù đến ngay không chậm trễ. Cố nén cảm giác kinh tởm trào dâng khi nhìn thấy con người tàn tạ nằm trên giường bệnh, ông ta bước vào phòng với vẻ ồn ào và những lời xã giao gượng gạo.

“Stevenson,” Blalock cất lời khi người kia cuối cùng cũng chịu ngồi xuống ghế và cô y tá đã lui ra ngoài. “Tôi có chuyện này cần nói với ông. Cái ngày tôi bước vào xà lim tối—”

“Thôi nào, thôi nào, bạn già,” Stevenson dỗ dành, đặt bàn tay ngăn lại lên cánh tay người bệnh. “Đừng nhắc lại chuyện đó nữa. Chúng tôi đã bãi bỏ cái xà lim ấy ngay trong ngày hôm đó rồi. Việc gì phải khơi lại cái trải nghiệm kinh khủng ấy của ông chứ? Chẳng ai biết chuyện đó ngoài ủy ban, viên giám thị trưởng cùng bác sĩ và y tá của ông ở đây đâu. Tất cả chúng tôi đều đã thề sẽ không hé răng nửa lời, và báo chí cũng chẳng có lấy một dòng nào ngoại trừ tin ông bị đổ bệnh đột ngột. Hãy để quá khứ ngủ yên đi, Blalock bạn già, chúng ta hãy bàn sang chuyện khác.”

Một tia sáng của ý chí kiên định ngày nào lại bừng lên trong mắt người bệnh.

“Không,” ông kiên quyết nói. “Không đâu Stevenson, quá khứ không thể tự nó ngủ yên được. Ghé sát lại đây, Stevenson, tôi phải nói cho ông biết một điều, và dường như tôi chưa đủ sức để nói lớn tiếng được đâu.

“Cái ngày tôi ngạo mạn đòi người ta nhốt mình vào ‘phòng biệt giam’, tôi ngỡ mình đã hiểu rõ bản thân và ý chí của mình. Tôi cứ tin rằng mình có khả năng kiểm soát tâm trí và thể xác đến mức có thể thách thức bất kỳ đòn tra tấn nào mà con người có thể nghĩ ra mà không hề run sợ—bất chấp một sự thật là lương tâm tôi chẳng hề trong trắng như hoa huệ như tôi vẫn khiến người đời lầm tưởng. Bởi vì, Stevenson ơi, lương tâm tôi đen tối lắm—đen tối như chốn địa ngục trần gian! Nó cất giấu tội lỗi tày trời của chính tôi, một nỗi oan khuất khôn cùng đã giáng xuống đầu người khác.

“Nhưng tôi đã dùng ý chí để bóp nghẹt nó, cho đến khi tôi tin rằng nó đã chết rũ, rằng nó vĩnh viễn không bao giờ có thể thoát khỏi xiềng xích mà tôi đã đày ải nó để đội mồ sống dậy tố cáo tôi. Chính vì muốn chứng minh mình vượt trội hơn nó, tôi mới cố tình chọn cách bị nhốt chung với nó, để rồi ở chốn biệt lập chỉ có mình với những suy nghĩ của bản thân, tôi có thể chứng minh dứt khoát rằng mình mới là kẻ làm chủ, một lần và mãi mãi.

“Bởi vì Martin Ellis đã làm lung lay sự tự tin của tôi. Nơi nào trước đây tôi từng đinh ninh thì nay lại đâm ra ngờ vực, tôi muốn chứng minh hắn là kẻ dối trá, đồng thời tự trấn an bản thân rằng mình là một con người tự do chứ không phải tên nô lệ khổ sai cho cái thứ mà người đời vẫn gọi là lương tâm cắn rứt.

“Thế nhưng trong buồng giam ấy, cái lương tâm mà tôi ngỡ mình đã giết chết bỗng vùng dậy cho tôi thấy rằng nó mới chỉ thiếp đi mà thôi. Trong những hoàn cảnh khác, có lẽ nó sẽ còn ngủ vùi vô thời hạn. Nhưng ở chốn đó, nó đè bẹp tôi bằng sức mạnh khủng khiếp của nó, khiến tôi cảm thấy mình sắp sửa phải đối mặt với Đấng Tạo Hóa mà không có lấy một tấm màn che đậy những ý nghĩ tội lỗi của mình. Dù tôi có quay sang hướng nào, tôi cũng nhìn thấy một ngón tay kết tội đang chĩa thẳng vào mình từ trong bóng tối, và sự tịch mịch bị xé toạc bởi một tiếng thét gầm gào rằng kẻ có tội thì phải đền tội, phải trả giá, trả giá mãi cho đến khi xóa sạch nợ nần. Mà tôi thì đã phạm tội, nhưng tôi chưa hề đền tội.

“Lương tâm là một thứ khủng khiếp một khi nó đã thức tỉnh, Stevenson à. Nó sống động, nó cựa quậy, nó quất roi và đày đọa cho đến khi đòi bằng được món nợ xương máu mới thôi. Đó chính là những gì nó đã làm với tôi trong bóng tối tăm mù mịt ấy, đơn độc và phó mặc cho nó định đoạt mà không có lấy một cơ hội chạy trốn. Và trong nỗi đau đớn cùng sự kinh hãi tột cùng, tôi đã nguyền rủa Chúa trời, Đấng đã tạo ra tôi và tròng vào cổ tôi cái gông cùm này. Thế nhưng trước khi mọi chuyện kết thúc, tôi đã học được bài học cho mình. Kẻ dám ngông cuồng đặt ý chí hèn mọn của bản thân lên trên Ý Chí Bất Diệt Vĩnh Hằng; kẻ dám tin rằng trật tự vĩ đại của muôn loài, cái quy luật mà tất cả chúng ta đều phải sống và chết theo nó, sẽ phải tạo ra ngoại lệ cho riêng mình, kẻ đó cuối cùng đã hiểu ra rằng mình đã hoàn toàn lầm lạc.

“Martin Ellis vô tội, Stevenson à, và tôi trông cậy vào ông để công lý được thực thi. Hắn không hề giết Agnes Keller và tôi biết rõ điều đó. Vậy mà tôi đã khoanh tay đứng nhìn để hắn bị kết án. Thậm chí tôi còn bước lên bục nhân chứng chống lại hắn, góp phần làm cho bản án ấy trở nên chắc như đinh đóng cột. Tôi chỉ nói sự thật trong lời khai của mình, nhưng tôi đã không nói ra toàn bộ sự thật, và những gì tôi giấu giếm lẽ ra đã cứu sống được Ellis. Tôi vốn chẳng muốn ra làm chứng chút nào, nhưng bên công tố đã không cho phép tôi viện vào mối quan hệ bảo mật vốn có giữa bác sĩ và bệnh nhân.

“Phía nhà nước đã đúng với giả thuyết rằng kẻ bóp cổ Agnes Keller làm vậy là vì hắn chính là tác giả của cái thai trong bụng cô ta và không muốn cưới cô ta làm vợ. Đêm cô ta bỏ mạng, cô ta đã đến tìm tôi tại phòng làm việc và báo cho tôi biết cô ta sắp sửa làm mẹ.

“Cô ta cự tuyệt mọi biện pháp giải quyết mà tôi đưa ra, và khăng khăng rằng đứa con khi chào đời phải có quyền hợp pháp được mang họ của cha nó. Và ngay trong đêm định mệnh đó, cô ta đã bị dụ dỗ lên một chiếc ô tô với lời hứa hẹn rằng người đàn ông gây ra tội lỗi sẽ đưa cô ta đến một thị trấn lân cận để kết hôn. Nhưng trên con đường làng vắng vẻ quạnh hiu ấy, hắn đã trở mặt bóp chết cô ta bằng chính đôi tay trần của mình.

“Và làm sao tôi biết được những chuyện này ư? Bởi vì, Stevenson ơi, chính tôi mới là kẻ đã làm cho cô ta mang thai, và chính tôi mới là kẻ đã giết chết cô ấy!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.