Ban đầu, bà Buhler bảo với ông ấy rằng nhà trọ đã kín phòng, nhưng khi ông vừa quay bước đi, bà chợt nhớ đến căn phòng nhỏ dưới tầng hầm.
Ông quay lại theo tiếng gọi của bà.
“Tôi cũng còn một phòng,” bà nói, “nhưng nó rất nhỏ và nằm ở dưới tầng hầm. Dù vậy, tôi có thể lấy giá phải chăng nếu anh muốn ghé xuống xem.”
Căn phòng vốn là một nỗi bận tâm của bà. Bà luôn ngần ngại không muốn dẫn khách đi xem, bởi phần lớn bọn họ đều tỏ ra khó chịu trước gợi ý của bà rằng họ có thể hài lòng với một chỗ ở khiêm tốn nhường ấy. Nếu bà cho người đến thuê đầu tiên dọn vào, rất có thể đó sẽ là một kẻ lôi thôi lếch thếch làm tổn hại đến vẻ đứng đắn của nhà trọ, để rồi sau đó bà lại phải chuốc lấy nỗi phiền muộn khi tìm cách tống cổ hắn đi. Cứ thế, bà thà chịu cảnh bỏ bẵm khoản tiền cỏn con mà căn phòng mang lại trong suốt nhiều tuần lễ còn hơn.
“Giá bao nhiêu vậy hả cô?” người đàn ông hỏi.
“Bảy đô-la một tháng.”
“Cho tôi xem phòng đi.”
Bà gọi chồng ra trông hộ quầy tiếp tân, cầm một chùm chìa khóa rồi dẫn đường đi về phía cuối tầng hầm. Căn phòng hẹp như một gian ngục tối, với khung cửa sổ duy nhất nằm thấp hơn mặt sân sau nhỏ bé và trơ trọi, bị chắn ngang bởi một hàng rào ván gỗ.
Một chiếc tủ đựng quần áo ọp ẹp được kê sát vào cửa sổ, bên cạnh là một chiếc bàn vuông nhỏ đặt chiếc bình và chậu rửa mặt. Chiếc giường đơn bằng sắt áp sát bức chân tường đối diện, để lại một khoảng không vừa khít cho chiếc ghế tựa lưng thẳng và lối đi chật hẹp từ cửa vào đến cửa sổ. Một tấm màn căng ngang một góc phòng cùng đôi móc treo trên vách đóng vai trò thay thế cho chiếc tủ quần áo.
“Anh có thể dùng phòng tắm ở tầng một,” bà Buhler bảo. “Dưới tầng hầm không có hệ thống sưởi bằng hơi nước, nhưng tôi sẽ đưa cho anh một chiếc lò sưởi dầu nếu anh cần. Dầu đốt cũng không tốn mấy đâu. Dĩ nhiên, San Francisco chẳng bao giờ lạnh cóng lên được, nhưng vào những lúc sương mù từ ngoài vịnh tràn vào, anh cũng nên có thứ gì đó để xua bớt cái lạnh trong phòng.”
“Tôi lấy phòng này.”
Người đàn ông rút ra một xấp tiền nhỏ và đếm đủ bảy tờ một đô-la.
“Chắc anh ở miền Đông tới phải không?” bà Buhler cất lời, mỉm cười nhìn xấp tiền giấy.
“Vâng.”
Bà Buhler nhìn mái tóc nhạt màu, đôi mắt nhợt nhạt cùng bộ ria mép phờ phạc của ông, đoạn chẳng mảy điều tra hay đòi giấy giới thiệu. Trông ông vô hại chẳng kém gì một chú ngựa già kéo xe cứu hỏa đã về hưu, đang thong thả gặm cỏ và mơ màng về những chuyến phiêu lưu thuở nào.
Ông cho biết tên mình là Dave Scannon.
Và đó cũng là tất cả những thông tin duy nhất mà ông từng hé lộ cho bất kỳ ai trong nhà trọ.
MỘT TIẾNG đồng hồ sau, ông chính thức dọn vào ở. Chỉ với một chiếc va-li nhỏ và vài thao tác chuyển đồ đạc vào các ngăn kéo tủ, ông đã ổn định xong xuôi chỗ ở.
Những vị khách trọ khác hầu như chẳng để ý đến sự xuất hiện của ông. Ông luôn bước thẳng qua sảnh nhỏ mà không thèm nhìn ai cho thẳng mặt, chẳng bao giờ dừng lại trừ những bận đóng tiền phòng, việc mà ông luôn thực hiện đúng hạn vào ngày mùng năm hàng tháng.
Khác với lệ thường của nhà trọ là gửi lại chìa khóa ở quầy, ông luôn giữ kè kè nó trong túi. Cô hầu phòng chưa từng bước chân vào dọn dẹp căn phòng ấy. Theo thỉnh cầu của ông, cô chỉ đưa cho ông một cây chổi, và vào mỗi sáng Chủ nhật lại treo khăn tắm, ga giường cùng vỏ gối ở tay nắm cửa phòng ông. Khi quay lại, cô sẽ thấy đống khăn và đồ vải bẩn được xếp gọn gàng thành một chồng ngay sát cửa.
Bị sự tò mò thôi thúc, có lần bà Buhler đã dùng chìa khóa vạn năng để mở cửa bước vào phòng. Ngay cả một sợi tóc cũng không có để làm vấy bẩn sự ngăn nắp trơ trọi ấy. Chiếc lược cùng bàn chải trên mặt tủ và một chồng báo cũ là những dấu hiệu duy nhất chứng tỏ căn phòng có người ở. Chiếc lò sưởi dầu đang bám đầy bụi ở một góc phòng: nó chưa từng được đụng đến một lần. Bà liền xách nó ra ngoài; chiếc lò sưởi này sẽ vừa như in dành cho bà cụ ở căn phòng hướng Bắc, người lúc nào cũng phàn nàn trời lạnh vào mỗi buổi chiều khi phần còn lại của khách sạn chưa đến nỗi phải bật lò sưởi.
Bà cụ đang ngồi ở sảnh khách trọ vào một buổi chiều nọ khi ông đi làm về.
“Đấy là vị khách trọ dưới tầng hầm của cô đấy phỏng?” bà cụ hỏi.
Bà cụ dõi theo bóng ông cho đến khi ông khuất hẳn ở cuối hành lang.
“Ồ. Lú nãy tôi cứ ngẩn ra chẳng nhớ đã gặp ông ta ở đâu. Giờ thì nhớ ra rồi—ông ta làm chân cửu vạn và phụ việc vặt ở cái tiệm bánh lớn dưới phố Market.”
“Thực tình tôi cũng chẳng biết ông ấy làm nghề gì,” bà Buhler thừa nhận. “Tôi đã định hỏi mấy lần, ngặt nỗi ông ấy là một kẻ cực kỳ khó bề bắt chuyện.”
Ông đã ở nhà trọ được bốn tháng thì nhận được bức thư đầu tiên. Nhìn chiếc phong bì, người ta có thể nhận ngay ra đó là tờ quảng cáo thuốc chữa bệnh sổ mũi theo mùa.
Vì ông không có thói quen gửi lại chìa khóa ở quầy tiếp tân, bức thư nằm ngâm trong ô thư tín suốt ba ngày trời. Cuối cùng, chính ông Buhler đã tận tay đưa nó cho ông khi ông đi ngang qua quầy để về phòng.
Ông dừng lại để đọc dòng chữ đề trên thư.
“Anh chưa từng nhận được bức thư nào cơ mà,” ông Buhler nhận xét. “Anh không có gia đình thân thích gì sao?”
“Không.”
“Quê anh ở đâu?”
“Catawissa, Pennsylvania.”
“Cái tên nghe ngộ thật. Đánh vần thế nào hả anh?”
Scannon đánh vần rành mạch rồi tiếp tục rảo bước xuống cuối hành lang.
“C-a-t-a-w-i-double-s-a,” ông Buhler nhắc lại với vợ. “Có cái tên nghe tức cười làm sao chứ lị?”
TRONG PHÒNG, Scannon lấy tờ quảng cáo ra khỏi phong bì và đọc một cách nghiêm túc từ đầu đến cuối.
Đọc xong, ông gấp lại rồi đặt lên chồng báo cũ của mình. Kế đó, ông chải lại đầu tóc và bước ra ngoài.
Ông ăn tối tại một trong những quán ăn nhanh nhỏ gần Khu Trung tâm Hành chính. Quảng thời gian còn lại của buổi tối, ông dành trọn trong phòng đọc báo của thư viện công cộng. Ông đọc các tờ báo miền Đông lẫn miền Tây với sự quan tâm dửng dưng như nhau, miệt mài nuốt trọn từng trang báo một cách tôn kính và chẳng hề thay đổi nét mặt cho đến khi tiếng chuông đóng cửa vang lên.
Ông chưa bao giờ bén mảng lên các phòng tra cứu tài liệu, phòng cho mượn sách hay phòng đọc tạp chí. Thỉnh thoảng, ông mang theo các tờ báo địa phương về phòng và đọc trong tư thế nằm dài trên giường, dường như chẳng hề hay biết đôi bàn tay mình đã tím ngắt vì cái lạnh buốt thấu xương cứ mỗi đêm lại từ ngoài đại dương tràn vào.
Vào các ngày Chủ nhật, ông sẽ diện chiếc áo sơ mi lụa sọc đỏ cùng bộ com-lê vải serge màu xanh thẫm rồi lên xe điện ra Công viên Golden Gate. Ở đó, ông ngồi hàng giờ liền dưới ánh nắng mặt trời, vô cảm ngắm nhìn hàng trăm nhóm người đi dã ngoại, mấy chú sóc, hay một mảnh giấy đang cuốn theo chiều gió lùa. Hoặc có lẽ ông sẽ đi bộ về phía bờ biển phía Tây, dừng lại đôi phút ở mỗi khu vực chuồng nuôi thú, rồi bắt xe điện từ Cliff House để trở về nhà.
Suốt hai năm trời, dòng thời gian cứ thế trôi qua trong sự lặp lại đơn điệu đến nhàm chán, và những tờ quảng cáo chữa bệnh sổ mũi theo mùa ngẫu nhiên là điểm nhấn duy nhất mang lại chút đổi mới.
Rồi vào một buổi chiều nọ, khi đang chải tóc, ông bỗng hộc lên một tiếng và đưa tay ôm lấy cổ họng. Một cơn buồn nôn nhói buốt quật ngã ông xuống sàn nhà.
Từng li từng tí một, ông lê lết thân mình về phía chiếc bàn nhỏ rồi hất đổ nó, khiến chiếc bình và chậu rửa vỡ tung tóe thành hàng mảnh.
Nỗ lực vừa rồi đã vắt kiệt chút năng lượng cuối cùng, và ông nằm bất động.
BÀ BUHLER chỉ chịu đi cùng người bạn đến gặp nhà chiêm tinh sau khi bị nài nỉ hết lần này đến lần khác, và bà đã hối hận ngay khi đặt chân đến nơi.
Căn phòng khách ngột ngạt nằm ở hướng Bắc, nơi ánh mặt trời chưa từng chiếu rọi tới, nên vừa lạnh lẽo lại vừa ẩm thấp. Bà đồng cốt, một người phụ nữ mập mạp, luộm thuộm với những chuyển động phát ra tiếng xột xoạt của lụa là và tiếng lanh canh của thứ đồ trang sức rẻ tiền, ngồi đối diện bà, một tay đặt lên trán và tuôn ra những thông tin được thu thập một cách kỳ bí về họ hàng và bè bạn.
“Dave là ai vậy nhỉ?” cuối cùng bà ta cất giọng hỏi.
Bà Buhler vội vã điểm lại trong đầu tất cả những người thân còn sống của chồng mình lẫn của chính bà.
“Tôi chẳng quen ai tên là Dave cả,” bà đáp.
“Có chứ, có chứ, chị biết ông ta mà,” bà đồng quả quyết. “Ông ấy đang ở thế giới bên kia rồi. Thần chết đang đứng ngay trước thềm cửa nhà chị đấy!”
Bà ta đưa tay lên cổ họng và ho sặc sụa để mô phỏng một cách rùng rợn cảnh tượng nghẹt thở từ bên trong.
“Nhưng tôi có quen ai tên Dave đâu cơ chứ,” bà Buhler nhắc lại.
Bà quay trở lại mặt đường với một cảm giác nhẹ nhõm khôn tả.
“Tôi sẽ chẳng bao giờ bén mảng đến mấy chỗ thế này nữa!” bà quả quyết khi nói lời tạm biệt với người bạn của mình.
Một khối sương mù dày đặc đang cuồn cuộn trôi vào từ phía Tây với vẻ uy nghi, nuốt chửng ánh mặt trời và rải thứ mưa phùn lất phất lên các mặt đường. Kéo cao cổ áo choàng che kín cổ, bà Buhler lao vào làn hơi ẩm đang bao trùm lấy không gian và bắt đầu leo con dốc dài dẫn về nhà trọ.
Đôi mắt mở trừng trừng cùng khuôn mặt tái mét của chồng đã cảnh báo bà về một tin chẳng lành.
“Dave Scannon chết rồi!” ông thì thào khàn đặc.
Dave Scannon! Hóa ra đó chính là “Dave!”
“Ông ấy chết được hai ba ngày nay rồi,” ông Buhler tiếp lời. “Lúc nãy anh đang đập bụi tấm thảm ở sân sau thì chú ý thấy một đàn nhặng xanh to lù lù đang vo ve quanh cửa sổ phòng ông ta. Anh chợt nhớ ra là mấy ngày nay chẳng thấy bóng dáng ông ấy đâu. Anh không sao mở được cửa phòng vì chìa khóa vẫn cắm ở mặt trong, thế là anh gọi viên thanh tra pháp y cùng một cảnh sát tới, rồi chúng tôi phá cửa xông vào. Ông ấy nằm gục giữa chiếc giường và cái tủ, còn cái chậu với chiếc bình thì vỡ nát dưới sàn, đúng chỗ ông ấy làm đổ khi ngã quấy quá. Bây giờ họ đang khiêng thi thể đi rồi đấy.”
Bà Buhler vội vã chạy về phía cầu thang phía sau rồi đi xuống hành lang tầng dưới. Hai người đàn ông đang khênh một chiếc giếc mây dài bước lên mấy bậc thang ngắn giữa lối ra vào phía sau và sân nhà. Bà đứng ngây ra, căng mắt nhìn qua lan can cho đến khi chiếc giếc khuất hẳn.
Viên thanh tra pháp y chẳng tìm thấy gì trong phòng ông ngoài quần áo, chừng năm đô-la tiền lẻ, và bức ảnh đã phai màu đặt trong chiếc khung bạc xỉn màu chụp một người phụ nữ trông gầy gò ốm yếu, có lẽ là mẹ, vợ hoặc chị em gái của ông.
Bà Buhler hồi hộp trả lời các câu hỏi của ông ta. Vâng, người đàn ông quá cố đã trọ ở đây khoảng hai năm. Họ biết rất ít về ông, bởi ông sống vô cùng khép kín, chẳng bao giờ trò chuyện, thậm chí còn không cho phép cô hầu phòng bước vào dọn dẹp phòng ốc. Tuy nhiên, ông từng nói rằng mình không có gia đình và quê quán ở Catawissa, Pennsylvania. Bà nhớ mãi cái thị trấn ấy bởi nó mang một cái tên quá đỗi kỳ cục.
Viên thanh tra đã gửi thư cho nhà chức trách ở Catawissa, nhưng nhận được hồi âm rằng họ không thể tìm thấy dấu vết của bất kỳ ai mang họ Scannon. Chẳng có thêm bức thư nào gửi đến cho người đàn ông ấy nữa, ngoại trừ những tờ quảng cáo thuốc chữa bệnh sổ mũi theo mùa thỉnh thoảng vẫn ghé thăm.
Người quản lý tiệm bánh đã gọi điện đến để hỏi xem cáo phó trên báo có phải nhắc đến đúng Dave Scannon từng làm việc cho ông ta hay không. Ông ta chẳng biết gì về người đàn ông ấy ngoài việc ông rất tận tụy với công việc cho đến tận ngày cuối cùng không thấy đến làm.
VÀI TUẦN sau, bà Varnes nhỏ thó, người thuê căn phòng ở tận cùng tầng hai, ghé lại quầy tiếp tân để gửi chìa khóa. Bà chần chừ đứng ngập ngừng ở đó vài phút, rồi bỗng buột miệng nhoài người về phía trước.
“Bà Buhler, tôi chỉ muốn hỏi bà một chuyện,” bà vừa nói vừa hạ thấp giọng. “Cách đây mấy tuần, vào một buổi chiều, tôi nhìn thấy mấy người đàn ông khiêng một chiếc giếc dài đi ra từ cửa sau, và từ bấy đến nay tôi cứ tò mò không biết đó là cái gì.”
“Chắc là đồ giặt là đấy mà,” bà Buhler đoán mò.
“Không, đó là một trong những chiếc giếc dài mà tụi nhà đòn vẫn dùng để khiêng người chết. Tôi cứ nghĩ mãi về chuyện đó mà không sao đoán ra nổi ai lại có thể chết trong cái nhà trọ này, thế nên tôi quyết định sang hỏi bà cho ra nhẽ. Tôi có kể chuyện đó với chồng tôi, nhưng ông ấy bảo tôi quẫn trí nên nằm mơ giữa ban ngày đấy.”
“Chắc là thế rồi,” bà Buhler đáp gọn lỏn.
