By J. B. M. CLARKE, JR
“Thế thì chúng ta sang thăm hắn ngay bây giờ vậy,” Norton nói với vẻ bốc đồng quen thuộc, rồi đứng dậy bước về phía cửa sổ.
Cơn mưa phùn từng đợt hắt vào khung kính theo mỗi luồng gió thổi đã tạnh từ lâu; và khi Norton vén rèm nhòm ra ngoài, anh thoáng thấy vầng trăng nhợt nhạt đang vật lộn qua một khoảng mây chuyển động nhanh có viền màu đồng loang lổ.
“Lẽ ra tối nay tớ sang đấy,” anh nói, “nhưng đã gọi điện hủy hẹn vì trời mưa bão. Dù sao thì cũng chưa quá muộn...”
Chẳng cần tốn nhiều lời thuyết phục để Meldrum đồng ý, bởi mặc dù hơn Norton một hai tuổi và vì thế hay ra dáng bề trên dạy đời, anh vẫn thường chiều theo những hứng thú bất chợt của bạn mình.
“Cậu không tài nào bỏ được thói quen thuyết giảng của một ông giáo,” Norton thường diễn tả như vậy.
Bản thân Norton là một kiến trúc sư, và cả hai đều còn độc thân, dẫu rằng Norton đang nỗ lực gầy dựng các mối quan hệ xã hội để có thể cưới một trong những cô gái xinh đẹp nhất thị trấn mà anh đang “tán tỉnh” lúc bấy giờ. Meldrum khóa cửa căn hộ của mình lại, và hai người cùng bước ra làn không khí ẩm ướt, tươi mát của một đêm đầu xuân.
“Sau tất cả những gì cậu kể, tớ đâm ra tò mò muốn gặp lại người bạn Nam Phi của cậu đấy,” Meldrum nói, điều chỉnh bước chân cho nhịp nhàng với bạn mình. “Dù việc yêu thích động vật vốn dĩ là một sở thích lành mạnh, nhưng khiếu thẩm mỹ quái gở của hắn ta có vẻ lại gắn liền với loài vượn và khỉ một cách khó chịu. Một vài thí nghiệm của hắn mà cậu từng nhắc đến nghe thật vô mục đích—chẳng hạn như chuốc say lũ khỉ đầu chó...”
“Nếu cậu tận mắt chứng kiến hắn kể về vụ con khỉ đầu chó đó, chắc chắn cậu cũng sẽ sinh lòng ác cảm với hắn thôi,” Norton nói, đưa tay ra hiệu tỏ ý khó chịu. “Dù tớ thừa nhận là mình đã có thành kiến với hắn ngay từ đầu—chẳng rõ tại sao nữa. Hắn có cái thói quen đặt bàn tay nóng hổi, nặng trịch lên vai tớ, khiến tớ vô cùng bực bội hồi tụi mình còn làm việc ở Cục Thanh tra trên Washington.”
“Hắn làm gì ở đó thế?” Meldrum hỏi.
“Hắn làm nhiệm vụ kiểm tra gỗ vân sam dùng cho máy bay ở British Columbia,” Norton đáp, “và có một chiếc bàn làm việc chung văn phòng với tụi tớ. Tớ ở đó khoảng ba tháng sau khi được đưa về nước vì thương tật, trước khi được điều sang New York.”
Sau vài phút im lặng, Norton nói thêm:
“Hắn không chỉ kỳ cục đâu. Hắn là một kẻ thoái hóa ngược.”
“Là gì cơ?” Meldrum ngạc nhiên hỏi.
“Một kẻ thoái hóa ngược—một sinh vật mang đặc tính lại giống,” Norton quả quyết đáp. “Sự pha trộn giữa cái cũ và cái mới, mà lại là một sự pha trộn tồi tệ.”
“[170]”
“Đó là một lời buộc tội khá nặng nề đấy, Harry,” Meldrum nói.
“Cậu có thể nghĩ vậy,” Norton bướng bỉnh đáp, “nhưng tớ nói cho cậu hay, tớ không hề đoán mò đâu. Ngoài vóc dáng kỳ dị với đôi tay và đôi chân dài quá khổ, phần thân ngắn ngủn, cái đầu nhỏ bé, cùng những lý thuyết và thí nghiệm quái đản, bất thường với loài vượn của hắn, còn có một bằng chứng nữa mà chính mắt tớ đã chứng kiến khi tụi mình cùng đến New York vào một dịp cuối tuần để thăm vườn thú. Tớ có thể đảm bảo với cậu, Meldrum ạ, không phải do trí tưởng tượng của tớ áp đặt rằng chính lũ thú hoang đó cũng tỏ ra quan tâm đến người bạn đồng hành của tớ đâu. Tớ nói thật, hầu như chẳng có con nào trong số đó lại không biểu lộ sự kích động, kẻ thì thịnh nộ, kẻ thì sợ hãi, nhưng phần lớn là nổi giận.
Có một con tinh tinh lớn bỗng nhiên nổi điên lên—đến mức một người nhân viên phải chạy lại xem có chuyện gì xảy ra. Nó nhảy nhót cuồng loạn, đập thình thịch vào các thanh sắt của lồng chuồng, rồi thực hiện một thứ vũ đạo hỗn độn gớm ghiếc, dùng cả tay lẫn chân đập xuống sàn với tốc độ phi thường. Thế mà tất cả những gì Needham làm chỉ là phát ra một thứ âm thanh lộc cộc kỳ lạ trong cổ họng và nở nụ cười nham hiểm của hắn. Tớ dám cá là lũ thú đã nhận ra hắn là đồng loại của chúng. Vài con trong số chúng trông như thể đang đợi hắn mở cửa chuồng ra vậy...”
“Bạo giờ hắn đang làm gì ở Burlington thế này?” Meldrum hỏi.
“Tớ tin là làm gì đó liên quan đến gỗ lậu,” Norton nói khi họ bước vào Đại lộ North và rẽ về hướng công viên. “Hắn thuê một ngôi nhà nhỏ ở tận con phố này và sống một mình ở đó. Hắn có vẻ thích lúc nào cũng thui thủi một mình.”
Họ đi thêm một đoạn ngắn nữa, rồi Norton lên tiếng: “Đây rồi,” và chỉ về phía một ngôi nhà nhỏ hai tầng đứng biệt lập trong một khu vườn tươm tất cách con phố chừng hai chục thước.
Mọi thứ tối thui ngoại trừ một ô cửa sổ tầng trên đang sáng đèn. Hai người bước lên lối đi dẫn đến cửa trước và Norton, sau một hồi lúi húi, đã tìm thấy và bấm chiếc chuông điện, tuy nhiên chẳng thấy có phản ứng gì.
“Chuông hình như không kêu,” Norton vừa nói vừa bấm đi bấm lại. “Chắc là hỏng rồi.”
Anh gõ cửa rồi lắng nghe. Bên trong tĩnh mịch. Những giọt nước nặng hạt từ mái nhà tạt xuống, làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng. Một chiếc xe điện chạy rào rào trên đường, chiếu luồng ánh sáng rực rỡ vào hàng cây và bụi rậm trong vườn, rồi để lại màn đêm còn u tối hơn trước. Norton lại gõ cửa mạnh hơn, nhưng vẫn bặt vô âm tín.
“Tớ biết đấy không phải phòng ngủ của hắn,” anh nói, ngước lên gật đầu về phía căn phòng đang sáng đèn, “vì hắn từng bảo ghét tiếng xe cộ chạy qua ngay dưới cửa sổ. Chắc hắn mải đọc sách hay làm gì đó rồi ngủ quên mất. Tớ ném một hòn đá vào cửa sổ nhé.”
“Thôi, đừng làm thế,” Meldrum vừa nói vừa lùi lại vài bước ngước nhìn lên. “Hay là chúng ta cứ đi về đi. Tớ có thể gặp hắn vào dịp khác.”
“Nhưng tớ muốn cậu gặp hắn, một khi đã đến đây rồi,” Norton nói. “Đợi chút đã.”
Anh thử vặn nắm cửa và thấy cửa không khóa. Bước vào sảnh, anh gọi lớn:
“Needham, Ơi, Needham!”
Họ lại lắng nghe, và mọi chuyện vẫn im lìm. Trong lúc khua khoắng trong bóng tối, tay Norton chạm phải công tắc điện và anh bèn bật đèn lên. Một chiếc cầu thang hẹp dẫn lên gác hiện ra trước mắt.
“Cậu cứ đứng đợi một lát,” anh nói với Meldrum, “tớ chạy lên lầu xem sao. Tớ chắc là hắn ở trên đó.”
Anh biến mất nhanh chóng, và chỉ một lát sau, lặng lẽ bước xuống.
“Lên đây đi,” anh vừa nói vừa ra hiệu gọi bạn. “Hắn đang ngủ say sưa trên ghế kìa. Lên mà xem.”