Chuỗi Đời Bất Tận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 225 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tháng 7 Năm 1914

❊ ❊ ❊

Từ ô cửa kính kiểu Pháp đang để ngỏ, Sylvie quan sát Maurice dựng một cái lưới đánh tennis tự chế. Với cây búa nhỏ trong tay, dường như cậu gõ gõ đập đập vào tất cả những gì xuất hiện trong tầm mắt. Những cậu bé là một bí ẩn đôi với Sylvie. Sự thỏa mãn mà chúng có được từ việc ném những cái que hay những hòn đá hàng tiếng đồng hồ liên tục, việc sưu tập những vật thể vô tri vô giác như thể bị ám ảnh, việc phá hoại thô bạo cái thế giới mỏng manh xung quanh chúng, tất cả đều có vẻ trái ngược với người đàn ông mà mai này hẳn chúng sẽ trở thành.

Tiếng trò chuyện ríu rít ngoài hành lang thông báo cho sự xuất hiện đầy vui vẻ của Margaret và Lily, trước là bạn học và giờ là người quen năm thì mười họa mới gặp một lần của Sylvie. Họ mang theo những hộp quà được gói bọc sặc sỡ và thắt nơ xinh xắn để tặng cho đứa bé mới sinh, Edward.

Margaret là một họa sĩ kiên quyết không lấy chồng. Dường như cô đang là nhân tình của ai đó. Khả năng này đáng ghê tởm đến nỗi Sylvie không dám nhắc gì đến với Hugh. Còn Lily là người theo thuyết Fabian*, cũng là người tham gia phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, nhưng lại chẳng chịu mạo hiểm làm gì cho tín điều của cô. Nghĩ tới những người phụ nữ bị giữ chặt chân tay trong khi những cái ống dẫn được nhét vào họng họ*, Sylvie bất giác giơ tay lên chạm vào cần cổ xinh xắn, trắng ngần của mình như để tự trấn an bản thân. Tại một buổi tiệc trà có khiêu vũ, chồng của Lily là Cavendish (nghe cứ như tên của một cái khách sạn chứ không phải tên người) từng dồn Sylvie vào một góc, ép cô vào một cây cột bằng cơ thể đầy vẻ dâm đãng, sực nức mùi xì gà của hắn, và đề nghị một điều khiếm nhã đến nỗi tới tận giờ này cô vẫn còn cảm thấy đỏ bừng mặt vì xấu hổ khi nghĩ lại.

Fabian là một hội chủ trương cải cách từng giai đoạn ở Anh, được thành lập từ năm 1884.

Vào đầu thế kỷ XX, những người tham gia phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ đã hành động bằng cách tuyệt thực. Họ bị chính quyền đàn áp, bắt giam và ép ăn bằng cách nhét những cái ống dẫn vào họng họ rồi đổ thức ăn dạng lỏng qua đó.

"A, không khí trong lành quá!" Lily thốt lên khi Sylvie dẫn họ ra vườn. "Nơi đây quả là chốn thôn dã.” Họ ngó vào chiếc xe đẩy, nựng nịu đứa bé bằng những âm thanh nghe như tiếng gù của chim bồ câu, hết trầm trồ khen ngợi đứa bé lại quay sang tán thưởng thân hình mảnh mai của Sylvie.

"Mình sẽ gọi người đem trà tới." Sylvie nói, cảm thấy mệt mỏi.

Họ có một con chó. Một con chó ngao Pháp lông vện to lớn tên là Bosun. "Tên con chó của Byron*." Sylvie nói. Ursula không biết ông Byron bí ẩn ấy là ai, nhưng ông ta chẳng quan tâm gì tới việc đòi lại con chó từ tay họ. Bosun có bộ lông ngắn ngủn, mềm mại mượt như nhung, lớp da lông của nó cứ cuồn cuộn chuyển động như sóng gợn dưới những ngón tay của Ursula mỗi lần cô bé vuốt ve nó, và hơi thở của nó phả ra mùi tảng thịt cổ bê mà bà Glover dù ghét cay ghét đắng nhưng vẫn phải hầm cho nó. Nó là một giống chó cừ khôi, Hugh nói, một giống chó đáng tin cậy, loại chó kéo người ta ra khỏi những tòa nhà đang cháy và cứu họ khỏi chết đuối.

George Gordon Byron, Nam tước Byron đời 6 (1788 -1824): là nhà thơ lãng mạn nước Anh, thường được gọi là Lord Byron. Ông được coi là một trong những nhà thơ lớn của thế giới thế kỷ XIX. Ông được biết đến với lối sống tai tiếng về tình ái và sự lỗi lạc về ngôn ngữ thơ.

Pamela thường đội chiếc mũ bonnet cũ và quàng khăn san cho Bosun, giả vờ rằng nó là em bé của mình, mặc dù bây giờ chúng đã có một em bé thật sự - một em trai, Edward. Mọi người đều gọi cậu bé là Teddy. Mẹ chúng có vẻ ngạc nhiên bởi đứa trẻ mới sinh này. "Không biết nó từ đâu đến nữa." Tiếng cười của Sylvie nghe như tiếng nấc. Cô đang uống trà trên thảm cỏ với hai người bạn học "từ hồi còn ở London" tới thăm đứa bé. Cả ba người họ đều mặc váy mỏng duyên dáng, đội mũ rơm rộng vành, ngồi trên ghế liễu gai, uống trà và ăn bánh sherry* do bà Glover tự tay làm. Ursula và Bosun thì ngồi bệt trên cỏ, giữ một khoảng cách đủ xa cho phải phép, mong chờ những mẩu vụn.

Loại bánh có thành phần là rượu sherry.

Maurice đã dựng xong một cái lưới và đang cố gắng dạy Pamela chơi tennis, nhưng không được nhiệt tình cho lắm. Ursula thì mải miết kết một vòng hoa cúc nhỏ cho Bosun. Cô bé có những ngón tay múp míp, vụng về. Sylvie lại có những ngón tay thon dài, khéo léo như của một họa sĩ hay một nghệ sĩ piano. Cô chơi piano trong phòng khách ("Chopin*"). Thi thoảng họ hát hò sau bữa trà nhưng Ursula không bao giờ vào được đúng nhịp khi đến phần hát của mình. ("Đúng là đồ ngốc!" Maurice nói. "Có công mài sắt có ngày nên kim." Sylvie nói.) Khi cô mở nắp cây đàn piano, nó bốc lên cái mùi giống như mùi tỏa ra từ bên trong những cái va li cũ. Thứ mùi ấy gợi cho Ursula nhớ đến bà nội của mình, bà Adelaide, người suốt ngày mặc đồ đen, nhấm nháp rượu Madeira*.

Frédéric François Chopin (1810 - 1849): nhà soạn nhạc và nghệ sĩ dương cầm ngươi Ba Lan, sau này nhập quốc tịch Pháp, sớm nổi tiếng là một thần đồng âm nhạc.

Rượu vang có pha rượu mạnh ở đảo Maderia, Bồ Đào Nha.

Đứa bé mới sinh được đặt trong cái xe đẩy to tướng bên dưới gốc dẻ gai sừng sững. Bọn trẻ đều từng là chủ nhân của cỗ xe lộng lẫy này, nhưng không ai trong số chúng còn nhớ nổi. Một con thỏ rừng nhỏ bé bằng bạc treo toòng teng trên mui xe và đứa bé được che phủ ấm áp bằng một tấm chăn mỏng "được thêu bởi bàn tay của các nữ tu sĩ", mặc dù chưa có ai giải thích những nữ tu sĩ ấy là ai và tại sao họ lại dành cả ngày để thêu những con vịt nhỏ có bộ lông màu vàng óng.

"Edward." Một trong hai người bạn của Sylvie nói. "Teddy?"

"Ursula và Teddy*. Hai con gấu nhỏ của mình." Sylvie nói và cười như bị nấc. Ursula hoàn toàn không biết làm một con gấu thì sẽ thế nào. Cô bé muốn làm một chú chó hơn. Cô bé nằm ngửa ra và nhìn chằm chằm lên bầu trời. Bosun rên ư ử và duỗi dài người bên cạnh cô bé. Những con chim nhạn bạt mạng phóng vút qua bầu trời biếc xanh. Cô bé có thể nghe văng vẳng tiếng lanh canh của cốc chén va vào đĩa lót, tiếng lạch cạch, rì rì của máy xén cỏ mà già Tom đang điều khiển trong khu vườn của gia đình Cole ngay bên cạnh, và ngửi thấy mùi hương ngọt ngào, hăng nồng của những bông cẩm chướng chỗ luống hoa, cùng mùi ngai ngái của đám cỏ mới cắt.

Teddy có nghĩa là gấu bông.

"A!" Một trong hai người bạn đến từ London của Sylvie nói, duỗi chân và để lộ đôi cổ chân đi tất trắng duyên dáng. "Một mùa hè dài nóng bỏng. Thật là tuyệt phải không?"

Sự yên bình bị phá vỡ khi Maurice tỏ vẻ chán ghét ném phịch cây vợt tennis xuống bãi cỏ khiến nó nảy lên rồi lại rớt xuống đánh cạch một tiếng. "Con không thể dạy nổi nó - đúng là đồ con gái!" Cậu nhóc hét lên và nghênh ngang đi vào bụi cây, cầm một cái que quất lung tung vào mọi thứ xung quanh, tuy nhiên trong trí tưởng tượng của cậu, hẳn là cậu đang ở trong một khu rừng già rậm rạp với một con dao rựa trong tay. Hết hè này, cậu sẽ đi học ở trường nội trú. Đó chính là ngôi trường mà Hugh và trước đó là cha của anh đã từng theo học. ("Và cả những vị tổ tiên các đời trước nữa, có lẽ từ thời người Norman chinh phạt nước Anh.*" Sylvie nói.) Hugh cho rằng việc đi học ở trường nội trú sẽ "nhào nặn" Maurice, giúp cậu khôn lớn. Nhưng trong mắt Ursula, anh trai cô bé dường như đã trưởng thành rồi. Hugh kể rằng hồi anh mới đi học, tối nào anh cũng khóc cho đến khi ngủ thiếp đi. Tuy nhiên anh lại tỏ ra hết sức vui vẻ khi bắt Maurice phải chịu đựng cái khổ hình mà anh đã từng trải qua ấy. Maurice ưỡn ngực và tuyên bố rằng cậu sẽ không khóc.

Là một sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Anh. Cuộc chinh phạt bắt đầu từ năm 1066, đến năm 1088 thì gần như nước Anh bị người Norman kiểm soát hoàn toàn.

("Còn bọn con thì sao?" Pamela lo lắng hỏi. "Bọn con có phải đi học xa không?"

"Không, trừ phi con nghịch ngợm quá." Hugh cười nói.)

Pamela đỏ bừng mặt, cuộn bàn tay thành nắm đấm, chống nạnh, gầm lên: "Anh là đồ con lợn!" sau khi Maurice lững thững quay trở lại. Qua lời Pamela nói thì "con lợn" có vẻ là thứ gì đó xấu xa thậm tệ. Những con lợn dễ thương mà nhỉ?

"Pammy à!" Sylvie ôn tồn nói. "Con ăn nói cứ như bà hàng cá* ấy."

Nguyên văn: fishwife. Trong tiếng Anh, fish có nghĩa là "cá", wife có nghĩa là "người vợ", nhưng trong trường hợp này, từ wife bắt nguồn từ tư wif, tiếng Anh cổ có nghĩa là "người đàn bà, người phụ nữ", vì thế fishwife ở đây mang nghĩa là người đàn bà bán cá, bà hàng cá. Tuy nhiên, vì Ursula còn trẻ con nên đã hiểu nhầm fishwife có nghĩa là "bà vợ của cá". Do đó mới có câu hỏi ngây ngô của cô bé ở đoạn dưới.

Ursula nhích lại gần chỗ để bánh hơn.

"Ồ, lại đây nào!" Một trong hai người phụ nữ kia nói với cô bé. "Để dì ngắm cháu cái nào." Ursula cố gắng tránh né nhưng Sylvie đã giữ yên cô bé. "Con bé xinh xắn quá nhỉ!" Người bạn của Sylvie nói. "Nó giống cậu đấy, Sylvie."

"Con cá cũng có vợ ạ?" Ursula hỏi mẹ khiến những người bạn của Sylvie bật cười khúc khích. "Con bé khôi hài quá!" Một trong hai người họ nói.

"Đúng vậy, nó là một đứa thực sự vui nhộn!" Sylvie nói.

"Đúng vậy, nó là một đứa thực sự vui nhộn." Sylvie nói.

"Trẻ con..." Margaret nói. "... Đứa nào cũng thật ngộ nghĩnh, đúng không nào?"

Chúng còn hơn thế nhiều, Sylvie nghĩ, nhưng làm sao có thể giải thích thiên chức làm mẹ trọng đại như thế nào với những người chưa từng có con cái cơ chứ? Sylvie cảm thấy mình cứ như một bà mệnh phụ cực kì già dặn trước mặt những người bạn này, những người bạn từ thời con gái của cô, cái thời con gái ngắn ngủi đã bị cuộc hôn nhân ngang nhiên tước đi mất.

Bridget mang ra một cái khay và bắt đầu thu dọn đồ uống trà. Vào buổi sáng, Bridget mặc một cái váy in hoa văn kẻ sọc để làm việc nhà nhưng vào buổi chiều, cô thay sang một cái váy đen với cổ tay, cổ áo màu trắng và đeo tạp dề, đội chiếc mũ vải cũng màu trắng. Cô đã được thăng cấp lên một vị trí mới, thoát khỏi phòng rửa bát. Sau khi Alice nghỉ việc để đi lấy chồng, Sylvie đã thu nhận một cô gái trong làng tên là Marjorie - một cô bé chột mắt, mười ba tuổi - để giúp đỡ những việc nặng nhọc.

("Chúng ta không thể xoay xở chỉ với hai người họ thôi sao?" Hugh ôn tồn hỏi. "Bridget và bà Glover? Họ có phải trông nom cả một tòa lâu đài đâu cơ chứ!"

"Không, chúng ta không thể." Sylvie chỉ đơn giản nói vậy và chấm dứt chủ đề ấy.)

Chiếc mũ vải màu trắng quá rộng so với Bridget, nó liên tục sụp xuống che mắt cô, giống như một cái bịt mắt. Khi cô đang băng ngang bãi cỏ để quay trở vào nhà, cái mũ lại đột nhiên sụp xuống, che kín mắt khiến cô vấp ngã, một cú vấp ngã như trên sân khấu nhạc kịch, cũng may là cô đứng vững kịp lúc nên chỉ có chiếc bát đựng đường bằng bạc và thanh kẹp dùng để gắp đường là bị hư hại. Chúng bay thẳng lên trời rồi rớt xuống đất, những viên đường văng tung tóe như những hột súc sắc trên thảm cỏ xanh rì. Maurice cười ngặt nghẽo trước tai nạn của Bridget. Sylvie nói ngay: "Maurice, ngừng ngay trò lố ấy đi!"

Cô nhìn Bosun và Ursula nhặt những viên đường bị rơi vung vãi, Bosun thì dùng chiếc lưỡi hồng to tướng của mình, còn Ursula, quái gở làm sao, lại dùng cây kẹp vốn không dễ sử dụng. Bosun nhanh chóng nuốt chửng những viên đường mà chẳng cần nhai trong khi Ursula chậm rãi mút mát từng viên một. Sylvie nghi ngờ rằng Ursula đã được định mệnh an bài là đứa trẻ lạc lõng trong gia đình. Vì bản thân là con một nên cô thường bối rối bởi sự phức tạp của mối quan hệ anh chị em giữa những đứa con của mình.

"Cậu nên đến London." Margaret đột nhiên nói. "Ở với mình vài ngày. Chắc sẽ vui lắm."

"Nhưng còn bọn trẻ?" Sylvie nói. "Cả đứa bé mới sinh nữa. Mình khó lòng bỏ mặc chúng."

"Sao lại không thể chứ?" Lily nói. "Vú em của cậu có thể tự xoay xở trong một vài ngày, không phải sao?"

"Nhưng mình làm gì có vú em." Sylvie nói. Lily liếc nhìn xung quanh vườn như thể đang tìm một người vú em trốn trong những bụi tú cầu. "Mình cũng không muốn có." Sylvie nói thêm. (Có thật là cô không muốn không?) Làm mẹ là bổn phận, là định mệnh của cô. Vì chẳng còn thứ gì khác (còn có thể có thứ gì khác chứ?), nên nó chính là cuộc đời cô. Cô đang ôm trong lòng tương lai của nước Anh. Thay thế cô không phải là việc có thể làm một cách tùy tiện như kiểu việc cô có mặt hay không cũng chẳng khác biệt mấy. "Và mình đang tự cho con bú." Cô nói thêm. Cả hai người phụ nữ kia đều có vẻ kinh ngạc. Lily vô thức siết chặt tay vào ngực như để bảo vệ nó khỏi bị tấn công.

"Đó là điều mà Chúa đã định." Sylvie nói, mặc dù cô không tin vào Chúa kể từ khi mất Tiffin. Hugh đã cứu nguy cho cô. Anh sải bước đi qua bãi cỏ với dáng vẻ của một người đàn ông có chủ đích. Anh vừa cười nói "Ở đây đang có chuyện gì vậy?", vừa nhấc Ursula và tung cô bé lên cao, chỉ ngừng lại khi cô bé bắt đầu mắc nghẹn một viên đường. Anh mỉm cười với Sylvie và nói "Các bạn của em", như thể cô đã quên mất họ là ai.

"Giờ là xế chiều thứ Sáu." Hugh nói, đặt Ursula xuống bãi cỏ. "Người lao động đã nghỉ ngơi cả rồi và anh tin rằng mặt trời đã lên cao quá đầu trục căng buồm* từ lâu. Các quý cô xinh đẹp có muốn chuyển sang thứ gì đó mạnh hơn trà không? Rượu gin pha nước chanh chẳng hạn?" Hugh có bốn cô em gái nên luôn cảm thấy thoải mái với phụ nữ. Chỉ riêng điều đó đã đủ để quyến rũ họ. Sylvie biết bản năng của anh là hộ tống, giám sát chứ không phải là tán tỉnh, ve vãn các cô gái, nhưng thi thoảng cô vẫn băn khoăn về lòng yêu mến của họ dành cho anh và tự hỏi điều đó có thể dẫn tới việc gì. Hay đúng hơn là nó đã dẫn tới việc gì.

Nguyên văn: The sun is over the yardarm, một thành ngữ bắt nguồn từ những người đi biển, chỉ việc đã đến lúc mọi người được phép uống rượu.

Tình trạng hòa hoãn đã được dàn xếp giữa Maurice và Pamela. Sylvie sai Bridget kéo một cái bàn ra hàng hiên nhỏ xíu nhưng đủ rộng cho bọn trẻ có thể ăn tiệc trà ở ngoài trời - bữa ăn của chúng có trứng cá trích nướng và món thạch hình hoa cẩm chướng cứ rung ra rung rinh vì chưa được đông lắm. Hình ảnh ấy khiến Sylvie cảm thấy hơi nôn nao. "Thức ăn cho trẻ con." Hugh vừa nói với vẻ thích thú, vừa ngắm lũ trẻ ăn.

"Áo đã tuyên chiến với Serbia." Hugh thủng thẳng nói. Margaret liền bắt lời: "Đúng là xuẩn ngốc. Năm ngoái tôi đã có một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời ở Vienna*. Tôi đã ở khách sạn Imperial*, anh có biết nó không?"

Thủ đô nước Áo.

Một khách sạn năm sao xa hoa, sang trọng ở Vienna, Áo, khai trương năm 1873.

"Không biết tường tận lắm!" Hugh đáp.

Sylvie thì biết rõ nó nhưng cô không nói ra.

Trời nhập nhoạng tối. Sylvie đang mơ mơ màng màng thì đột nhiên nhớ lại cái chết vì rượu cognac của cha mình, cô bèn đập hai bàn tay vào nhau đánh bốp một cái như thể giết một con ruồi bé tí cứ lởn vởn làm phiền và nói: "Đến giờ đi ngủ rồi, các con!", rồi nhìn Bridget lóng ngóng ủn cái xe đẩy nặng nề đi qua bãi cỏ. Sylvie thở dài và Hugh dìu cô đứng dậy, hôn nhanh lên má cô.

Sylvie mở ô cửa sổ nhỏ xíu trên mái nhà trong căn phòng ngột ngạt được dành riêng cho đứa bé sơ sinh. Họ gọi nó là "phòng trẻ" nhưng nó không hơn gì cái hộp bị nhét vào một góc của cái mái hiên gie ra, vào mùa hè thì bí bức, vào mùa đông thì lạnh băng, do đó hoàn toàn không phù hợp với một đứa trẻ sơ sinh non nớt. Giống như Hugh, Sylvie cho rằng trẻ con nên được trui rèn từ sớm, có như vậy nó mới đủ mạnh mẽ để đón nhận những "cú đòn" của cuộc đời mai sau. (Bị tước đi một ngôi nhà xinh đẹp ở Mayfair, phải rời xa một con ngựa yêu dấu, bị mất niềm tin vào Chúa trời thấu suốt mọi sự.) Cô ngồi cho Edward bú trên cái ghế bằng nhung có những núm tròn ở lưng tựa được thiết kế dành riêng cho việc này. "Teddy!" Cô thì thầm trìu mến khi cậu bé nuốt ừng ực và bị sặc trong lúc thiếp ngủ. Sylvie thích những đứa con của mình nhất khi chúng còn là trẻ sơ sinh, khi chúng bé bỏng, non nớt, hồng hào như những miếng thịt đệm trên lòng bàn chân của một con mèo. Nhưng đứa trẻ này thật đặc biệt. Cô hôn lên mái tóc mềm mại như tơ của nó.

Có tiếng nói vọng đến trong bầu không khí êm dịu. "Cuộc vui nào cũng đến lúc tàn." Cô nghe thấy Hugh nói khi anh hộ tống Lily và Margaret vào trong nhà để ăn tối. "Tôi tin rằng bà Glover, người có thiên hướng của một nhà thơ, đã nướng một con cá đuối. Nhưng trước hết, có lẽ hai cô sẽ muốn chiêm ngưỡng cỗ máy phát điện hiệu Petter của tôi?" Hai người phụ nữ ríu rít cười nói như những cô nữ sinh ngốc nghếch.

Ursula bị đánh thức bởi tiếng vỗ tay và tiếng reo hò phấn khích. "Điện kìa!" Cô bé nghe thấy một trong hai người bạn của Sylvie thốt lên. "Tuyệt quá!"

Cô bé ở chung với Pamela trong một căn phòng áp mái. Chúng có hai chiếc giường nhỏ xíu giống hệt nhau, được ngăn cách bởi một tấm thảm kết bằng vải vụn và một cái tủ kê ở đầu giường. Pamela ngủ với hai cánh tay đặt phía trên đầu, chốc chốc lại hét toáng lên như thể bị kim đâm vào người (một trò khủng khiếp mà Maurice ưa thích). Phía bên kia vách tường ở một đầu căn phòng là bà Glover ngáy như còi tàu xe lửa, còn phía bên kia vách tường còn lại là Bridget ú ớ lẩm bẩm suốt đêm. Bosun ngủ ngay bên ngoài cửa phòng của chúng. Nó luôn làm tròn bổn phận canh gác ngay cả trong giấc ngủ. Thi thoảng nó lại khẽ rên lên ư ử nhưng chẳng ai phân biệt nổi là nó đang mừng rỡ hay đau đớn. Tầng áp mái quả là một chốn vừa chật chội, vừa ồn ào.

Sau đó, Ursula lại bị đánh thức lần nữa khi những vị khách cáo từ ra về. ("Đứa trẻ đó thính ngủ lạ thường." Bà Glover nói, như thể tính nết ấy của cô bé là một khuyết điểm cần phải sửa.) Cô bé trèo xuống giường và nhẹ nhàng bước đến bên cửa sổ. Nếu cô bé đứng lên một cái ghế và nhìn ra ngoài - một việc mà tất cả bọn trẻ bị cấm tuyệt đối - cô bé có thể nhìn thấy Sylvie và hai người bạn của cô trên thảm cỏ bên dưới, tà váy của họ bay phấp phới như những con bướm đêm trong ánh hoàng hôn đang buông. Còn Hugh thì đứng đợi ở cổng sau để chuẩn bị tiễn họ ra ga.

Thi thoảng Bridget lại dẫn bọn trẻ đến nhà ga để đón Hugh xuống tàu khi anh đi làm về. Maurice nói khi nào lớn lên cậu có thể trở thành một người lái tàu hoặc một nhà thám hiểm Nam Cực giống như ngài Ernest Shackleton*, người đang sắp sửa dong buồm ra khơi trong chuyến thám hiểm vĩ đại của mình. Hoặc có lẽ, cậu chỉ đơn giản trở thành một giám đốc ngân hàng, giống như cha cậu.

Ernest Shackleton (1874 - 1922): một nhà thám hiểm người Ireland gốc Anh. Ông đã dẫn đầu bốn cuộc thám hiểm đến châu Nam Cực và được phong tước hầu vì thành tích đi về phía nam nhiều hơn những người cùng thời với mình.

Hugh làm việc ở London. Bọn trẻ họa hoằn lắm mới được đến đó để thăm bà nội chúng ở quận Hampstead và cả buổi chiều chỉ chơi loanh quanh trong phòng khách của bà. Việc Maurice và Pamela hở tí lại gây gổ với nhau đã "bào mòn" những sợi dây thần kinh của Sylvie, khiến tâm trạng cô trên chuyến tàu về nhà lúc nào cũng tệ hại.

Khi tất cả mọi người đã đi khỏi, giọng nói của họ vẳng xa dần, Sylvie lững thững bước qua bãi cỏ để quay vào nhà, bóng tối giờ giống như một con dơi đen sì đang sải rộng đôi cánh. Sylvie không nhìn thấy một con cáo chủ ý chạy lon ton theo bước chân cô trước khi đổi hướng và biến mất trong bụi cây rậm rạp.

"Anh có nghe thấy gì không?" Sylvie hỏi. Cô đang tựa người trên những chiếc gối, đọc một cuốn sách thời kỳ đầu của Forster*. "Thằng bé chăng?"

Edward Morgan Forster (1879 - 1970): bút danh là E. M. Forster, là một nhà văn người Anh. Phần lớn các tác phẩm của ông nói về sự khác biệt giữa các tầng lớp và thái độ đạo đức giả của xã hội Anh đầu thế kỷ XX.

Hugh nghiêng đầu sang một bên. Trong một thoáng, anh khiến Sylvie nghĩ đến Bosun.

"Không thấy gì cả." Anh nói.

Thằng bé thường ngủ thâu đêm. Nó là một thiên thần nhỏ. Nhưng không phải ở trên thiên đường, ơn Chúa.

"Nó là đứa ngoan nhất tính đến thời điểm này." Hugh nói.

"Vâng, em nghĩ chúng ta nên giữ nó bên mình."

"Nó trông không giống anh." Hugh nói.

"Đúng thế!" Cô vui vẻ đồng ý. "Chẳng giống anh chút nào."

Hugh cười, âu yếm hôn cô và nói, "Chúc ngủ ngon, anh tắt đèn của anh đây."

"Em nghĩ em sẽ đọc sách thêm một lúc nữa."

Vài ngày sau, vào một buổi chiều nóng nực, họ kéo nhau đi xem vụ gặt.

Sylvie và Bridget đi bộ qua những cánh đồng cùng với Pamela và Ursula. Sylvie địu đứa bé bằng cách buộc chiếc khăn san của Bridget quanh thân người. Đây là cách mà Bridget chế ra cho Sylvie. "Giống hệt một cô nông dân Ai Len." Hugh thích thú nói. Hôm đó là thứ Bảy, Hugh được thoát khỏi không gian tù túng, ảm đạm bên trong ngân hàng, đang nằm trên cái ghế dài liễu gai trên hàng hiên sau nhà, nâng niu cuốn Wisden Cricketers' Almanack* như thể nó là một cuốn thánh ca.

Cuốn sách tham khảo về bộ môn cricket được xuất bản hằng năm ở Anh.

Maurice đã biến mất sau khi ăn xong bữa sáng. Cậu bé đã chín tuổi và được cho phép đi bất cứ nơi đâu cậu thích, với bất cứ người nào cậu muốn, mặc dù bình thường cậu cũng chỉ chơi với một nhóm những cậu bé cùng tuổi. Sylvie chẳng biết chúng làm những gì, nhưng vào cuối ngày, cậu sẽ trở về, lấm lem bùn đất từ đầu đến chân và mang theo một chiến lợi phẩm đáng ghê sợ, chẳng hạn như một cái lọ đựng những con ếch hay những con sâu, một con chim chết, hoặc cái đầu lâu trắng bệch của một sinh vật nhỏ bé nào đó.

Mặt trời đã lên cao khi họ cuối cùng cũng khởi hành, ôm đồm vướng víu nào đứa bé, những cái giỏ đựng đồ dã ngoại, mũ che gáy và ô dù. Bosun chạy lon ton bên cạnh họ như một con ngựa nhỏ. "Chúa ơi, chúng ta tay xách nách mang như những kẻ tị nạn vậy." Sylvie nói. "Cứ như những người Do Thái đang rời khỏi Israel ấy."

"Người Do Thái sao?" Bridget nói, nhăn mặt tỏ vẻ chán ghét.

Teddy say sưa ngủ trong cái địu tự chế suốt chuyến đi trong lúc họ leo qua những cái bục trèo* và vấp phải những vết bánh xe in trên bùn bị ánh nắng mặt trời làm cho rắn đanh lại. Bridget bị rách váy vì mắc phải một cái đinh và than thở rằng hai bàn chân cô đã bị phồng rộp hết cả. Sylvie tự hỏi mình có nên cởi phắt cái coóc xê ra và vứt nó lại bên vệ đường không, rồi hình dung ra vẻ hoang mang của người nào đi ngang qua và nhìn thấy nó. Một mảnh ký ức không mong đợi chợt lóe lên trong đầu cô giữa ban ngày ban mặt, trên cánh đồng nắng chói chang với những đàn bò đang thong thả gặm cỏ - đó là hình ảnh Hugh cởi cái coóc xê của cô tại căn phòng khách sạn ở Deauville, trong tuần trăng mật của họ, giữa những âm thanh vọng vào từ bên ngoài qua ô cửa sổ để mở, là tiếng kêu của lũ chim mòng biển đang vỗ cánh bay và tiếng cãi cọ choe chóe bằng tiếng Pháp giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Trên con thuyền từ Cherbourg* về nhà, Sylvie đã mang bào thai bé bỏng mà sau này trở thành Maurice, mặc dù khi ấy cô vẫn còn an nhiên chưa hay biết gì về sự hiện diện của nó.

Một loại thang để vượt qua hàng rào hoặc bờ tường.

Một địa danh nằm ở phía tây bắc nước Pháp.

"Thưa bà?" Bridget nói, phá tan dòng hồi tưởng của Sylvie. "Bà Todd? Chúng không phải là bò."

Họ dừng lại để trầm trồ ngắm nghía hai con ngựa cày to lớn của George Glover có tên là Samson và Nelson đang thở phì phì và lúc lắc đầu khi nhìn thấy đoàn người. Chúng khiến Ursula cảm thấy e sợ nhưng Sylvie thì cho mỗi con một quả táo, chúng khéo léo ngoạm lấy những quả táo ấy từ lòng bàn tay cô bằng cặp môi nhung hồng to tướng. Sylvie nói chúng là ngựa đốm xám và đẹp hơn con người nhiều. Pamela liền hỏi ngay: "Kể cả trẻ con ư?" Sylvie đáp "Phải, đặc biệt là trẻ con", rồi cười phá lên.

Họ nhận thấy George cũng đang đích thân phụ giúp việc gặt hái. Khi nhìn thấy họ, anh ta bèn sải bước băng qua cánh đồng để tới chào hỏi. "Chào bà!" Anh ta nói với Sylvie rồi cởi mũ ra, lau mồ hôi trên trán bằng chiếc khăn mùi soa chấm bi màu đỏ trắng. Trên hai cánh tay anh ta dính đầy những hạt trấu nhỏ xíu. Giống như đám hạt trấu ấy, những sợi lông trên cánh tay anh ta cũng óng ánh vàng dưới ánh sáng mặt trời. "Nóng thật đấy!" Anh ta nói một điều thừa thãi. Anh ta nhìn Sylvie qua lọn tóc dài lúc nào cũng rủ xuống đôi mắt xanh tuyệt đẹp của mình. Sylvie cảm thấy mặt mình đỏ bừng.

Ngoài bữa trưa của họ - gồm bánh sandwich nhân pa tê cá trích muối hun khói, bánh sandwich nhân mứt chanh, bia gừng và bánh có hạt thơm - họ còn mang theo món bánh nướng nhân pa tê lợn còn thừa từ hôm qua mà bà Glover nhờ gửi cho George, cùng món dưa góp cay trứ danh của bà đựng trong một cái lọ nhỏ. Cái bánh có hạt thơm đã bị chua vì Bridget quên cất nó vào trong hộp thiếc, mà bỏ ở ngoài căn bếp nóng nực cả đêm. "Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu lũ kiến đẻ trứng trong đó." Bà Glover đã nói. Đến lúc ăn bánh, Ursula phải nhặt từng cái hạt ra để kiểm tra, mặc dù chúng nhiều vô số kể, nhằm đảm bảo rằng nó không phải là trứng kiến.

Những người thợ gặt trên cánh đồng dừng tay để ăn trưa. Bữa trưa của họ chủ yếu là bánh mì, pho mát và bia. Bridget đỏ mặt và cười khúc khích khi đưa miếng bánh nướng nhân pa tê lợn cho George. Pamela kể với Ursula rằng Maurice nói Bridget mê mẩn George, mặc dù cả hai đứa đều cảm thấy Maurice là một nguồn thông tin không đáng tin cậy đối với những chuyện liên quan đến vấn đề tình cảm. Họ ăn bữa trưa ngoài trời ở rìa cánh đồng trơ đây gốc rạ, George ngả ngớn nửa nằm nửa ngồi trên cỏ, cắn những miếng bánh to tướng trong khi Bridget nhìn anh ta chăm chú với vẻ ngưỡng mộ, như thể anh ta là một vị thần Hy Lạp, còn Sylvie thì có vẻ bận rộn dồn hết mọi sự chú ý vào đứa bé.

Sylvie thơ thẩn đi tìm một địa điểm kín đáo để cho Teddy bú. Những cô gái lớn lên trong các ngôi nhà xinh đẹp ở Mayfair thường không nấp sau những hàng rào để cho con bú. Giống như những nông dân Ai Len, chắc chắn rồi. Cô vẩn vơ nghĩ đến cái lều trên bãi biển ở Cornwall. Lúc cô tìm thấy một lùm cây thích hợp cạnh một hàng rào, Teddy đang khóc ngặt nghẽo, hai bàn tay bé nhỏ siết chặt lại, tựa như võ sĩ quyền anh, trước sự bất công của thế giới. Ngay khi cậu bé nằm yên vị trước ngực cô, cô tình cờ ngước nhìn lên và bắt gặp George Glover đang bước ra khỏi rặng cây ở đầu kia của cánh đồng. Thấy cô, anh ta dừng sững lại, nhìn cô chằm chằm như một con hươu bị giật mình. Trong thoáng chốc, anh ta không hề nhúc nhích, nhưng rồi anh ta cởi mũ và nói: "Trời vẫn còn nóng quá, thưa bà."

"Hẳn rồi!" Sylvie nói nhanh rồi nhìn George Glover vội vã đi về phía cánh cổng có năm thanh chắn chỗ hàng rào ở giữa cánh đồng và dễ dàng nhảy qua nó như một người thợ săn lực lưỡng nhảy qua một chướng ngại vật.

Từ một khoảng cách an toàn, họ theo dõi cái máy gặt khổng lồ ồn ào nuốt lấy từng đám lúa mì. "Thật mê ly, đúng không?" Bridget nói. Cô vừa mới học được từ đó. Sylvie lấy ra cái đồng hồ bỏ túi bằng vàng nhỏ nhắn, xinh xắn, một vật mà Pamela vô cùng thèm muốn, và nói: "Trời ơi, nhìn thời gian này!" Mặc dù chẳng ai thèm nhìn cả. "Chúng ta phải về thôi."

Đúng lúc họ đang định rời đi, George Glover bỗng gọi to "Này mọi người!" và chạy băng băng qua cánh đồng về phía họ. Anh ta đang đựng thứ gì đó trong cái mũ. Hai con thỏ con. "Ôi!" Pamela thốt lên, phấn khích đến phát khóc.

"Thỏ đấy!" George Glover nói. "Cả bọn đang nằm rúc vào nhau giữa cánh đồng. Mẹ chúng đi đâu mất rồi. Sao các cháu không giữ chúng nhỉ? Mỗi đứa một con."

Trên đường về nhà, Pamela đựng cả hai con thỏ con trong cái tạp dề của mình và giơ nó ra trước mặt với vẻ hãnh diện giống như lúc Bridget bê một khay trà vậy.

"Nhìn mấy mẹ con kìa." Hugh nói khi đoàn người thất thểu đi qua cổng vườn. "Cả người vàng rực và đầy dấu hôn của mặt trời. Mấy mẹ con giống hệt đàn bà con gái nông thôn rồi đó."

"Em e rằng mẹ con em đỏ rực thì đúng hơn là vàng rực." Sylvie thiểu não nói.

Người thợ làm vườn đang làm việc. Ông ta được gọi là già Tom ("Cứ như tên của một con mèo ấy." Sylvie nói. "Anh có nghĩ ông ta từng được gọi là cậu nhóc Tom không?"). Già Tom làm việc sáu ngày một tuần, ngoài gia đình họ, ông ta còn làm cho một gia đình khác ở gần đó. Đó là gia đình Cole. Họ gọi ông ta là "ông Ridgely". Ông ta không tỏ ý gì về việc mình thích cách gọi nào hơn. Gia đình Cole sống trong một ngôi nhà rất giống với ngôi nhà của gia đình Todd. Giống như Hugh, ông Cole cũng là một giám đốc ngân hàng. "Người Do Thái." Sylvie nói với giọng giống như khi cô nói từ "người Công giáo" - tò mò thích thú nhưng cũng phần nào lo lắng bởi những gì lạ lẫm.

"Anh không nghĩ họ tích cực*." Hugh nói. Tích cực cái gì? Ursula tự hỏi. Pamela phải tích cực tập luyện piano vào mỗi buổi xế chiều trước bữa trà, một chuỗi âm thanh lanh canh loong coong không được dễ nghe cho lắm.

Nguyên văn: practise, vừa có nghĩa là "tập luyện, rèn luyện" vừa có nghĩa là "tích cực làm gì". Ở đây ý Hugh là gia đình Cole là người Do Thái nhưng họ không phải là những tín đồ tích cực, tuân thủ trọn vẹn mọi nghi lễ, quy tắc của tôn giáo mình. Do sự khác biệt ngôn ngữ nên việc chuyển nghĩa những từ đa nghĩa hoặc đồng âm khác nghĩa từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác sẽ có hạn chế, vì vậy người dịch lựa chọn cách xử lý như trên.

Theo lời Simon, cậu con trai cả của nhà họ thì lúc mới sinh, ông Cole có một cái tên rất khác, một cái tên quá mức phức tạp đối với cách phát âm của người Anh. Cậu con giữa, Daniel, là bạn của Maurice, dù người lớn không phải là bạn bè của nhau nhưng bọn trẻ vẫn qua lại thân thiết. Simon, "một kẻ học gạo" (theo lời Maurice nói), giúp Maurice học môn Toán vào mỗi tối thứ Hai. Sylvie không biết phải thưởng công cho cậu ta như thế nào vì nhiệm vụ không mấy dễ chịu này. Cô lúng túng như vậy có lẽ là bởi gốc gác Do Thái của cậu ta. "Nhỡ đâu thứ em tặng nó lại là một sự xúc phạm đối với họ?" Cô suy đoán. "Nếu em cho thằng bé tiền, họ có thể nghĩ rằng em đang ám chỉ đến tính bủn xỉn, keo kiệt nổi tiếng bốn phương của họ. Nếu em cho nó bánh kẹo, chúng có thể không phù hợp với chế độ ăn uống nghiêm ngặt của họ."

"Họ không phải là những tín đồ tích cực." Hugh lặp lại. "Họ không sùng đạo."

"Benjamin rất hay sục sạo*" Pamela nói. "Hôm qua anh ấy tìm thấy một tổ chim hét." Cô bé vừa nói vừa trừng mắt với Maurice. Cậu đã bắt gặp các em mình sững sờ kinh ngạc trước những quả trứng xinh đẹp có màu xanh lốm đốm nâu và đã chộp lấy chúng, đập chúng vào một tảng đá khiến chúng vỡ tan. Cậu nghĩ đó là một trò đùa hay ho. Pamela đã ném một hòn đá nhỏ (chà, rất rất nhỏ) vào đầu cậu. "Đó!" Cô bé nói. "Anh cảm thấy thế nào khi "cái vỏ" của anh bị đập vỡ?" Giờ thì cậu có một vết rách gớm ghiếc và một vết bầm tím trên thái dương. "Bị ngã!" Cậu nói cộc lốc khi Sylvie hỏi tại sao cậu lại bị thương. Với bản tính của cậu, đáng lẽ cậu sẽ mách tội Pamela, nhưng thế thì tội lỗi ban đầu của cậu cũng sẽ bị phơi bày ra ánh sáng, rồi Sylvie sẽ trừng phạt cậu thật nặng vì đã đập vỡ trứng. Trước kia, mẹ cậu có lần bắt quả tang cậu đánh cắp những quả trứng và đã bạt tai cậu. Sylvie dạy các con nên "tôn trọng" tự nhiên chứ không phải là phá hủy nó, nhưng thật không may, trong bản tính của Maurice không có chỗ cho sự tôn trọng.

Nguyên văn: observant, vừa có nghĩa là "sùng đạo, tuân thủ nghiêm ngặt một tôn giáo nào đó", vừa có nghĩa là "hay quan sát, tinh mắt". Ở đây Hugh đang nói gia đình Cole không phải những người sùng đạo nhưng Pamela lại hiểu nhầm từ observant sang nghĩa thứ hai nên mới phản bác lại rằng cậu con trai của họ là Benjamin rất tinh mắt, hay quan sát mọi thứ. Tuy nhiên, vì sự hạn chế trong việc chuyển nghĩa những từ đa nghĩa nên người dịch lựa chọn cách xử lý trên, do hai từ "sùng đạo" và "sục sạo" phát âm cũng na ná nhau.

"Thằng bé đang học violin, đúng không nhỉ - thằng bé Simon ấy?" Sylvie nói. "Người Do Thái thường rất có khiếu âm nhạc, không phải sao? Có lẽ, em nên cho nó một tờ nhạc hoặc thứ gì đó đại loại thế." Cuộc bàn luận về những nguy cơ xúc phạm người Do Thái này đã diễn ra trên bàn ăn sáng. Hugh luôn tỏ ra có chút kinh ngạc khi thấy các con ngồi cùng bàn với mình. Tới tận năm mười hai tuổi, anh mới được phép rời khỏi phòng trẻ và ngồi ăn sáng chung với cha mẹ. Anh được chăm sóc, dạy dỗ một cách nghiêm ngặt bởi một vú em tháo vát, như thể hai người họ là một gia đình nhỏ trong lòng một gia đình lớn ở Hampstead vậy. Trái lại, thuở ấu thơ, Sylvie thường ăn tối muộn với món Canard à la presse*. Cô ngồi cheo leo trên những tấm nệm ghế, bị ru ngủ bởi ánh nến lập lòe và bộ dao dĩa bằng bạc lấp lánh trong khi tiếng trò chuyện của cha mẹ cứ văng vẳng phía trên đầu. Đến bây giờ cô mới nghi ngờ rằng đó không phải là một tuổi thơ hoàn toàn bình thường.

Một món ăn truyền thống của Pháp, gồm thịt vịt ướp trong một loại nước xốt được làm từ tiết và tủy vịt.

Già Tom đang xới đất để trồng một luống măng tây mới. Hugh đã bỏ quyền Wisden xuống từ lâu và đang hái những quả mâm xôi vào cái bát tráng men màu trắng to tướng. Cả Pamela và Ursula đều nhận ra cái bát ấy vừa mới bị Maurice dùng để đựng nòng nọc, mặc dù cả hai đứa đều không hó hé gì về sự thật ấy. Sau khi tự rót cho mình một cốc bia, Hugh nói: "Mấy việc nhà nông này khiến người ta khát khô cả cổ." Và tất cả mọi người đều phá lên cười. Ngoại trừ già Tom.

Bà Glover từ trong nhà đi ra để yêu cầu già Tom đào mấy củ khoai tây cho bà nấu với thịt bò. Vừa nhìn thấy mấy con thỏ, bà càm ràm: "Cho dù có nấu món hầm thì cũng chẳng đủ." Pamela gào lên om sòm. Hugh phải cho cô bé nhấp một ngụm bia để cô bé bình tĩnh lại.

Pamela và Ursula làm một cái ổ bằng cỏ và bông ở một góc kín đáo trong vườn, tô điểm thêm cho nó bằng những cánh hoa hồng rụng rồi cẩn thận đặt hai con thỏ con vào trong đó. Pamela hát cho chúng nghe một khúc hát ru - cô bé hát rất đúng điệu - nhưng chúng đã ngủ sẵn từ lúc George Glover trao chúng cho cô bé.

"Mẹ nghĩ chúng còn quá nhỏ." Sylvie nói. Quá nhỏ thì có vấn đề gì? Ursula băn khoăn tự hỏi nhưng Sylvie không nói rõ ra.

Họ ngồi trên bãi cỏ, ăn những quả mâm xôi trộn kem và đường. Hugh nhìn lên bầu trời xanh biếc và nói: "Em có nghe thấy tiếng sấm không? Sắp có một cơn dông lớn đấy, anh có thể cảm thấy nó đang kéo đến. Già thì sao, già Tom?" Anh cất cao giọng để già Tom đang ở luống rau đằng xa cũng có thể nghe thấy. Hugh tin rằng vì già Tom là một thợ làm vườn nên ông ấy phải hiểu biết về thời tiết. Già Tom không nói gì mà cứ tiếp tục xới đất.

"Ông ấy bị điếc." Hugh nói.

"Không, ông ấy không bị điếc đâu." Sylvie nói, nghiền nát những quả mâm xôi đỏ như màu máu vào lớp kem dày, tạo thành màu hồng thiên thảo, và đột nhiên nghĩ về George Glover. Một người con của đất. Đôi bàn tay vuông vắn, khỏe khoắn của anh ta, mấy con ngựa đốm xám xinh đẹp giống như những con ngựa gỗ bập bênh to lớn của anh ta, và cái cách anh ta ngả ngớn nửa nằm nửa ngồi trên bờ cỏ để ăn trưa, tư thế khá giống Adam* trong bức tranh của Michelangelo* ở nhà nguyện Sistine*, chỉ có điều anh ta với tay để lấy miếng bánh nướng nhân pa tê lợn chứ không phải với lấy bàn tay của Chúa trời. (Khi Sylvie theo cha là ông Llewellyn tói nước Ý, cô đã rất sửng sốt bởi số lượng da thịt đàn ông được phơi bày trước con mắt công chúng trong các tác phẩm nghệ thuật.) Cô tưởng tượng cảnh cô đang cho George Glover ăn những quả táo trên tay mình và bật cười.

Trong Kinh thánh Cựu ước, Adam là người đàn ông đầu tiên do Chúa trời tạo ra, là chồng của Eva và cũng là tổ tiên của loài người.

Michelangelo (1475 -1564): là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà thơ và kỹ sư thời kỳ Phục hưng Ý.

Chỉ bức tranh The Creation of Adam của Michelangelo, được vẽ trên trần nhà nguyện Sistine, tòa thánh Vatican.

"Có chuyện gì vậy?" Hugh hỏi và Sylvie đáp: "George Glover quả là một anh chàng điển trai."

"Vậy thì cậu ta hẳn là con nuôi rồi." Hugh nói.

Đêm đó, ở trên giường, Sylvie từ bỏ cuốn sách của Forster để dành thời gian cho những hoạt động ít phải vận dụng đến trí não hơn, hai cơ thể nóng rực quấn quýt lấy nhau trên chiếc giường hôn nhân, giống như một con hươu đực đang thở hổn hển hơn là một con chim chiền chiện đang bay liệng trên bầu trời. Cô cảm thấy mình không nghĩ về cơ thể dẻo dai, nhẵn nhụi của Hugh mà lại tưởng tượng đến cánh tay và bắp đùi to khỏe, bóng loáng giống như một con nhân mã của George Glover. "Em rất..." Hugh mệt lử nói, nhìn chằm chằm vào cái gờ đắp nổi trên trần phòng ngủ khi anh tìm kiếm một từ thích hợp. "Hăng hái." Cuối cùng, anh kết luận.

"Chắc là nhờ không khí trong lành đấy." Sylvie nói.

Cả người vàng rực và đầy dấu hôn của mặt trời, cô nghĩ khi khoan khoái chìm vào giấc ngủ, và rồi những câu hát trong vở kịch của Shakespeare* đột nhiên nảy ra trong đầu cô. Những chàng trai vàng và những cô gái vàng/ Giống như những người thợ cạo ống khói/ Tất cả rồi cũng phải hóa thành tro bụi*, và cô bất chợt cảm thấy sợ hãi.

William Shakespeare (1564 - 1616): là một nhà văn và nhà viết kịch người Anh, được coi là nhà văn vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại.

Trích trong một bài hát tang lễ ở hồi IV, cảnh 2, trong vở kịch Cymbeline của William Shakespeare.

"Cuối cùng cơn dông cũng nổi lên rồi." Hugh nói. "Anh tắt đèn nhé?"

Sylvie và Hugh bị kéo ra khỏi giấc ngủ vào buổi sáng Chủ nhật bởi tiếng gào khóc của Pamela. Cô bé và Ursula đã dậy rõ sớm với tâm trạng phấn khích và hối hả chạy xộc ra ngoài vườn, để rồi phát hiện lũ thỏ đã biến mất, chỉ còn sót lại đúng một nhúm đuôi nhỏ xíu như một cục bông mềm màu trắng, lốm đốm đỏ.

"Do bọn cáo đấy." Bà Glover nói, có chút hả hê. "Các cháu mong đợi gì chứ?"

e nói. "Cô đâu biết chăm sóc người khác, hay nấu nướng, hay đánh máy, hay làm bất cứ việc gì hữu ích." Những lời lẽ ấy được thốt ra gay gắt hơn cô nghĩ, nhưng Izzie quả thực là một kẻ gàn dở. (Bà Glover nhận xét cô ấy là "người đồng bóng".)
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.