Bà Woolf chiêu đãi họ một bản độc tấu piano ngắn. "Một bản nhạc của Beethoven." Bà nói. "Tôi không phải là Myra Hess, nhưng tôi nghĩ nó cũng dễ nghe." Cả hai vế bà nói đều đúng. Ông Armitage, ca sĩ opera, đã hỏi bà Woolf liệu bà có thể đệm đàn cho ông nếu ông hát bản Non più andrai trong vở Đám cưới của Figaro không và bà Woolf nói rằng chắc chắn bà sẽ thử. Tối nay bà cực kì táo bạo. Đó là một màn biểu diễn sôi nổi ("Hùng hồn không ngờ." Bà Woolf nhận xét) và không ai phản đối khi ông Bullock (chẳng có gì ngạc nhiên) và ông Simms (quả là một điều đáng kinh ngạc) hòa theo với một phiên bản khá hài hước.
"Tôi biết khúc nhạc này!" Stella nói và hăng hái hát theo nhưng chỉ đúng về giai điệu chứ không thuộc lời. "Dum di dum, dum di dum, dum di dum dum" và cứ như vậy.
Trạm của họ mới thêm hai thành viên. Người thứ nhất là ông Emslie, một người bán tạp phẩm trước kia công tác ở một trạm khác. Ông đã mất hết nhà cửa và cửa hàng do bị trúng bom và phải chuyển sang khu vực này. Giống như ông Simms và ông Palmer, ông cũng là một cựu chiến binh của cuộc chiến lần trước. Người mới thứ hai có lai lịch phức tạp hơn. Stella là một trong "những cô vũ nữ" của ông Bullock và (thoải mái) thú nhận rằng cô là một "nghệ sĩ thoát y vũ" nhưng ông Armitage - ca sĩ opera nói: "Tất cả chúng ta ở đây đều là nghệ sĩ, cưng ạ."
"Gã pê đê quái quỷ." Ông Bullock lẩm bẩm. "Cho gã đi lính là sẽ giải quyết được vấn đề."
"Tôi không nghĩ vậy." Bà Woolf nói. (Và điều này đã dẫn đến câu hỏi tại sao ông Bullock khỏe mạnh, vạm vỡ lại không được gọi nhập ngũ.) "Vậy là..." Ông Bullock kết luận. "... Chúng ta có một người Do Thái, một bông hoa păng sê* và một cái bánh tạc*, nghe cứ như một câu chuyện mua vui dơ bẩn trên sân khấu tạp kỹ ấy nhỉ?"
Từ lóng chỉ những người đàn ông ẻo lả giống đàn bà hoặc người đồng tính nam.
Từ lóng chỉ gái điếm.
"Chính sự thiếu độ lượng đã đẩy chúng ta đến bước đường này, ông Bullock." Bà Woolf khẽ trách ông ta. Họ - ngay cả bà Woolf - đều dễ cáu kỉnh từ sau cái chết của ông Palmer. Họ nên để dành những nỗi phẫn uất của mình cho thời bình, Ursula nghĩ. Đương nhiên, nguyên nhân không chỉ vì cái chết của ông Palmer mà còn do sự thiếu ngủ và những cuộc không kích vẫn diễn ra hằng đêm không ngừng nghỉ. Quân đội Đức có thể duy trì những cuộc không kích ấy bao lâu nữa? Mãi mãi chăng?
"Và, ồ, tôi cũng không biết nữa." Bà Woolf khẽ nói với cô khi bà pha trà. "Chỉ là cảm giác dơ bẩn mơ hồ, như thể người ta sẽ không bao giờ sạch sẽ được nữa, như thể London tội nghiệp sẽ không bao giờ sạch sẽ được nữa. Tất cả mọi thứ đều tồi tàn khủng khiếp, cô biết đấy!"
Do đó, quả là nhẹ nhõm khi buổi hòa nhạc ngẫu hứng nho nhỏ của họ lại vui vẻ như vậy, dường như ai nấy đều có tâm trạng tốt hơn.
Sau bài hát trong vở Figaro, ông Armitage tiếp tục bằng ca khúc O mio babbino caro sôi nổi mà không cần nhạc đệm ("Ông ấy thật tài ba." Bà Woolf nói. "Tôi đã luôn nghĩ đó là bản aria dành cho nữ.") khiến tất cả mọi người đều vỗ tay nhiệt liệt. Kế đó, Herr Zimmerman, người tị nạn của họ, nói rằng ông rất hân hạnh được biểu diễn một tiết mục nào đó cho bọn họ xem.
"Còn cưng sẽ thoát y chứ?" Ông Bullock hỏi Stella và cô trả lời "Nếu ông muốn" và nháy mắt vẻ đồng lõavới Ursula. ("Tôi toàn bị mắc kẹt với cả đống phụ nữ Bolshevik." Ông Bullock phàn nàn. Thường xuyên.)
Bà Woolf lo lắng nói với Herr Zimmerman: "Ông mang cây đàn violon của ông đến đây à? Ở đây nó có được an toàn không?" Trước kia ông ta không bao giờ mang nhạc cụ của mình tới trạm. Bà Woolf nói cây đàn ấy rất có giá trị, không chỉ về vấn đề tiền bạc, bởi vì ông ta đã bỏ lại cả gia đình ở Đức, và tất cả những gì mà ông ta còn giữ được từ cuộc sống trước đây là cây đàn violon này. Bà Woolf nói rằng bà từng có một "cuộc tán gẫu" "đầy đau lòng" vào buổi tối muộn với Herr Zimmerman về tình hình ở nước Đức. "Mọi chuyện ở đó thật tồi tệ, cô biết đấy."
"Tôi biết." Ursula nói.
"Cô biết ư?" Bà Woolf nói, trở nên hứng thú. "Cô có bạn ở đó à?"
"Không." Ursula nói. "Chẳng có ai cả. Thi thoảng người ta chỉ đơn giản là biết thôi, không phải sao?"
Herr Zimmerman lấy ra cây đàn violon và nói: "Quý vị phải thứ lỗi cho tôi, tôi không phải người chơi độc tấu." Rồi ông ta tuyên bố, gần như áy náy: "Bach. Bản xô nát cung Sol thứ."
"Thật là buồn cười, đúng không..." Bà Woolf thì thầm vào tai Ursula. "Khi mà chúng ta nghe quá nhiều âm nhạc của Đức. Vẻ đẹp vĩ đại vượt trội tất thảy. Có lẽ sau chiến tranh nó cũng sẽ chữa lành mọi vết thương. Hãy nghĩ đến Bản giao hưởng Số chín - Alle Menschen werden Bruder."
Ursula không đáp lời khi Herr Zimmerman giơ cao chiếc vĩ, tư thế sẵn sàng biểu diễn, xung quanh lặng ngắt như tờ, như thế họ đang ở trong một thính phòng chứ không phải một trạm gác xập xệ. Mọi người im lặng một phần là vì chất lượng của màn trình diễn ("Tuyệt vời!" Bà Woolf đánh giá ngay sau đó. "Thật sự rất hay!" Stella nói), và có lẽ một phần là vì sự tôn trọng đối với thân phận người tị nạn của Herr Zimmerman, nhưng tiếng nhạc như có ma lực khiến người ta đắm chìm trong suy tư. Ursula thấy mình nghĩ đến cái chết của Hugh, hay đúng hơn là sự vắng mặt của ông. Ông mới mất được hai tuần và cô vẫn đang mong được nhìn thấy ông lần nữa. Cô đã cất giữ những ý nghĩ này để dành cho một thời điểm nào đó trong tương lai, và bây giờ, cái tương lai ấy đột nhiên bày ra trước mặt cô. Cô cảm thấy nhẹ nhõm vì đã không nhỏ những giọt nước mắt đáng xấu hổ, thay vào đó, cô bị nhấn chìm trong một nỗi u sầu khủng khiếp. Như thể cảm nhận được những cảm xúc của cô, bà Woolf vươn tay nắm chặt bàn tay cô. Ursula có thể cảm thấy bà Woolf cũng đang run rẩy vì xúc động.
Khi tiếng nhạc ngừng lại, mọi người vẫn hoàn toàn im lặng mất một lúc, như thể thế giới đã ngừng thở, rồi sau đó, thay vì những lời tán tụng và tiếng vỗ tay, sự yên tĩnh bị phá vỡ bởi lời cảnh báo - "Máy bay ném bom sẽ đến trong vòng hai mươi phút nữa". Thật kỳ quặc khi nghĩ rằng những lời cảnh báo ấy đến từ Phòng Chiến tranh Khu vực 5 của cô, do những cô gái ở Ban Điện báo gửi đến.
"Đi nào!" Ông Simms nói, đứng dậy và thở dài thườn thượt. "Ra ngoài đó thôi." Lúc họ ra ngoài, báo động đỏ đã được bật lên khắp nơi. Nếu họ may mắn, chỉ còn mười hai phút để lùa mọi người vào hầm trú ẩn, tiếng còi báo động hú dài inh ỏi sau lưng họ.
Ursula chưa bao giờ sử dụng hầm trú ẩn công cộng. Cảnh tượng những cơ thể san sát chen lấn nhau và nỗi sợ bị giam giữ trong không gian tù túng khiến da cô sởn gai ốc. Họ từng tham gia cứu hộ ở một hiện trường đặc biệt khủng khiếp trong khu vực của họ, đó là một căn hầm trú ẩn bị trúng mìn thả bằng dù. Ursula nghĩ rằng thà cô chết ở ngoài trời còn hơn là bị kẹt cứng trong đó như một con cáo trong hang.
❄
Đó là một buổi tối đẹp trời. Vầng trăng lưỡi liềm và những chòm sao đã xuyên thủng tấm màn đen kịt của trời đêm. Cô nghĩ về những lời tán tụng của Romeo dành cho Juliet - Nàng rạng rỡ như ánh sao treo trên gò má của màn đêm/ Như viên ngọc quý đeo trên tai của một người con gái xứ Ethiopia. Ursula đang có thi hứng, vài người, trong đó có cả chính cô, sẽ nói như vậy, thi hứng ấy đang trào dâng quá mức, đó là hậu quả của tâm trạng đau buồn của cô. Không còn ông Durkin để trích dẫn sai nữa. Ông ta đã bị lên cơn đau tim trong một lần dọn dẹp hiện trường của một vụ ném bom. Bà Woolf nói ông ta đang hồi phục, "ơn Chúa". Bà đã dành thời gian để đến bệnh viện thăm ông ta, còn Ursula thì chưa, nhưng cô cũng không cảm thấy tội lỗi. Hugh đã chết, còn ông Durkin thì vẫn còn sống, trong tim cô chẳng còn mấy chỗ cho sự thương cảm. Ông Simms đã thay thế vị trí của ông Durkin, trở thành cấp phó của bà Woolf.
Những âm thanh đinh tai nhức óc của chiến tranh đã bắt đầu. Tiếng ném bom bùm bum, tiếng động cơ o o đều đều phía trên đầu khiến cô thấy buồn nôn. Tiếng súng bắn xối xả, ánh đèn rọi như những ngón tay chọc thẳng lên bầu trời, sự chờ đợi nỗi sợ hãi trong câm lặng - tất cả mau chóng phá hỏng mọi thi hứng.
Vào lúc họ đến địa điểm bị ném bom, tất cả mọi người đã ở đó: đội xử lý khí độc và nước ngập, biệt đội gỡ bom, đội cứu hộ hạng nặng, đội cứu hộ hạng nhẹ, đội khiêng cáng, xe chở xác (ban ngày là xe chở bánh). Mặt đường la liệt những ống vòi xếp chồng chéo lên nhau của một đơn vị cứu hỏa, vì ở một bên đường có một tòa nhà đang bốc cháy dữ dội, những tia lửa và những cục than nóng bỏng đang liên tục bắn ra ngoài. Ursula nghĩ cô nhìn thấy Fred Smith, gương mặt anh ta thoáng được rọi chiếu bởi những ánh lửa, nhưng cuối cùng cô kết luận rằng cô đã tưởng tượng ra điều đó.
Đội cứu hộ vẫn cẩn trọng như mọi khi trong việc sử dụng đèn pin và đèn bão dù lửa đang cháy ngùn ngụt sau lưng họ. Tuy nhiên, người nào người nấy đều ngậm một điếu thuốc trên khóe miệng, chẳng màng đến việc đội xử lý khí độc còn chưa dọn sạch khu vực này, chưa kể sự hiện diện của biệt đội gỡ bom cho thấy một quả bom có thể phát nổ vào bất cứ lúc nào. Mọi người chỉ chú tâm tiến hành công việc trước mắt (buộc phải làm), bàng quan trước thảm họa tiềm tàng. Hoặc có lẽ vài người (và Ursula tự hỏi liệu giờ đây cô có gộp cả bản thân mình trong đó không) chỉ đơn giản là không còn bận tâm nữa.
Cô có một cảm giác bất an, có lẽ là một linh cảm xấu, rằng tối nay mọi chuyện sẽ không diễn ra tốt đẹp. "Do nhạc của Bach đấy." Bà Woolf trấn an. "Nó khuấy động tâm hồn người ta."
Dường như con phố này nằm ở ranh giới giữa hai khu vực. Người chỉ huy hiện trường đang cãi lộn với hai dân phòng về quyền phụ trách địa điểm này, vì cả hai người họ đều khẳng định đây là địa bàn của họ. Bà Woolf không tham gia vào cuộc tranh luận ấy, vì hóa ra nơi này hoàn toàn không phải là khu vực của họ, nhưng do đây rõ ràng là một địa điểm bị trúng bom nghiêm trọng nên bà tuyên bố rằng trạm của họ cần hỗ trợ và bắt tay vào việc, lờ đi những gì mà bất cứ ai nói với họ.
"Như những kẻ ngoài vòng pháp luật." Ông Bullock nói với vẻ tán thưởng.
"Không hẳn thế." Bà Woolf nói.
Nửa con phố không bị cháy thì bị trúng bom nghiêm trọng, và mùi chua lòm của bụi gạch cùng thuốc nổ lập tức luồn vào phổi họ. Ursula cố gắng nghĩ tới đồng cỏ phía cuối rừng cây ở Góc Cáo. Lanh, phi yến, mỹ nhân thảo, cẩm chướng đỏ và cúc mắt bò. Cô nghĩ về mùi cỏ mới cắt và mùi tươi mát của những cơn mưa mùa hè. Đấy là một mẹo nghi binh mới để chống lại những thứ mùi gớm ghiếc của một vụ nổ. ("Nó có hiệu quả không?" Ông Emslie tò mò hỏi. "Không hoàn toàn." Ursula nói.) "Trước đây tôi thường nghĩ tới mùi nước hoa của mẹ tôi." Bà Woolf nói. "Violet tháng Tư. Nhưng thật không may, bây giờ khi tôi cố gắng nhớ về mẹ tôi, tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến chỉ là những quả bom."
Ursula đưa cho ông Emslie một viên kẹo bạc hà. "Nó cũng có chút tác dụng." Cô nói.
Họ càng tới gần hiện trường, nó càng có vẻ tồi tệ hơn (Theo kinh nghiệm của Ursula, hiếm khi có trường hợp ngược lại).
Thứ đầu tiên chào đón họ là một hoạt cảnh rùng rợn - những thi thể biến dạng rải rác khắp xung quanh, nhiều thi thể không còn tay chân, giống như những ma nơ canh đơn giản của thợ may, quần áo của họ đã bị thổi bay mất. Ursula nhớ đến những con ma nơ canh mà cô và Ralph đã nhìn thấy trên phố Oxford sau khi cửa hàng John Lewis bị trúng bom. Một người khiêng cáng, vì chưa tìm thấy bất cứ người nào còn sống, đang đi nhặt nhạnh những cái chân và tay nhô ra từ đống đổ nát hỗn độn. Như thể anh ta định ráp lại thi thể của người chết vào một ngày nào đó sau này. Liệu có ai làm việc đó không? Ursula tự hỏi. Trong các nhà xác - cố gắng ghép các bộ phận bị tách rời của từng thi thể, giống như một trò chơi ghép hình kinh dị? Đương nhiên, có vài người không thể tái tạo lại nguyên dạng - có hai thành viên trong đội cứu hộ đang dồn những mảnh thi thể vào trong những cái giỏ, một người khác thì cạo thứ gì đó trên một bức tường bằng cái chổi quét sân.
Ursula tự hỏi liệu cô có biết nạn nhân nào không. Căn hộ của cô và Millie ở Phillimore Gardens chỉ cách đấy vài con phố. Có lẽ cô đã đi qua vài người trong số họ trên đường đi làm vào buổi sáng, hoặc đã nói chuyện với họ ở hàng thịt hoặc cửa hàng tạp phẩm.
"Rõ ràng có khá nhiều người mất tích." Bà Woolf nói. Bà đã nói chuyện với sĩ quan chỉ huy hiện trường. Có vẻ như ông ta tỏ ra biết ơn khi được nói chuyện với một vị dân phòng hiểu biết. "Hẳn là cô sẽ rất vui khi biết được rằng chúng ta không còn giống những kẻ ngoài vòng pháp luật nữa."
Phía trên họ một tầng (mặc dù không còn cái tầng nào nữa), người đàn ông cầm chổi khều xuống một cái váy treo trên một cái mắc áo bị vướng vào một cái móc treo tranh. Ursula thường thấy mình xúc động bởi những vật nhỏ bé gợi nhớ đến cuộc sống gia đình như vậy - chiếc ấm vẫn đặt trên bếp, bữa tối đã bày biện sẵn trên bàn nhưng sẽ chẳng bao giờ được ăn - hơn là cảnh tượng khốn khổ và tan hoang đổ nát xung quanh họ. Mặc dù bây giờ khi cô nhìn kĩ vào chiếc váy, cô nhận ra rằng có một người phụ nữ vẫn đang mặc nó, đầu và hai chân của bà ta đã bị bay mất nhưng hai cánh tay thì vẫn còn. Sự bất ngờ mà những chất nổ có sức công phá mãnh liệt mang lại không bao giờ ngừng khiến cho Ursula ngạc nhiên. Trong chừng mực nào đó, người phụ nữ có vẻ đã bị gắn liền với bức tường ấy. Lửa cháy sáng rực nên cô có thể nhìn thấy một cái trâm cài áo nhỏ bé vẫn đang gắn trên chiếc váy. Nó có hình một con mèo đen, với con mắt được làm từ kim cương giả.
Đống gạch vụn xê dịch dưới chân khi cô đi tới bức tường phía sau của ngôi nhà này. Có một người phụ nữ đang ngồi dựa vào đó giữa đống đổ nát, tay chân dang rộng như một con búp bê vải. Trông cô ta như thể đã bị ném lên trời rồi rớt bịch xuống đất - có lẽ đúng là như vậy. Ursula cố gắng ra hiệu cho người khiêng cáng, nhưng lúc này lại có một đội máy bay ném bom băng qua trên đầu, do đó chẳng có ai nghe thấy lời cô vì tiếng ồn của chúng.
Người phụ nữ bị bụi phủ xám xịt nên gần như không thể nhận ra cô ta bao nhiêu tuổi. Cô ta có một vết bỏng trên bàn tay trông có vẻ khủng khiếp. Ursula mò mẫm trong túi cứu thương để tìm tuýp Bumol* và bôi một ít lên bàn tay cô ta. Cô không biết tại sao mình lại làm vậy bởi tình trạng của cô ta tệ đến nỗi có bôi Bumol cũng chẳng có tác dụng gì. Cô ước gì cô có mang theo nước, đôi môi người phụ nữ trông khô rang nhìn đến là đau lòng. Đột nhiên, cô ta bất ngờ mở đôi mắt sẫm màu với hàng mi nhợt nhạt và bết lại vì bụi rồi cố gắng nói gì đó, nhưng giọng cô ta khản đặc khiến Ursula không thể hiểu nổi. Cô ta là người nước ngoài chăng? "Cô muốn nói gì vậy?" Ursula hỏi. Cô có cảm giác người phụ nữ này đã cận kề cửa tử.
Tên một loại thuốc trị bỏng.
"Con..." Người phụ nữ đột nhiên khào khào nói. "Con tôi đâu?"
"Con ư?" Ursula hỏi lại và nhìn quanh. Cô không thấy dấu hiệu gì của đứa bé nào. Nó có thể đâu đó trong đống đổ nát.
"Tên thằng bé..." Người phụ nữ thều thào - cô ta đang nỗ lực hết sức để nói cho rõ ràng - "... Là Emil."
"Emil?"
Người phụ nữ gật đầu rất khẽ như thể cô ta không thể nói được nữa. Ursula lại nhìn quanh để tìm bất cứ dấu hiệu nào của một đứa bé. Cô ngoảnh lại nhìn người phụ nữ để hỏi xem con của cô ta khoảng bao nhiêu tuổi, nhưng đầu cô ta đã ngoẹo xuống. Rồi khi Ursula bắt mạch cho cô ta, cô thấy mạch cô ta không còn đập nữa.
Cô bỏ lại người phụ nữ ở đó và đi tìm người sống.
❄
"Cô mang cho ông Emslie một viên moóc phin được không?" Bà Woolf hỏi. Họ đều nghe thấy một người phụ nữ đang la hét và chửi thề lem lẻm, và bà Woolf nói thêm: "Để dành cho quý cô đang làm loạn kia." Theo kinh nghiệm, người nào càng ồn ào thì khả năng tử vong của họ càng thấp. Nghe giọng thì nạn nhân đặc biệt này có vẻ sẵn sàng một thân một mình nỗ lực chui ra khỏi tòa nhà đổ nát và chạy quanh Kensington Gardens.
Ông Emslie đang ở dưới tầng hầm của ngôi nhà, và Ursula phải nhờ hai người đàn ông của đội cứu hộ dòng mình xuống, rồi sau đó cô phải luồn lách qua một chướng ngại vật hình thành từ những thanh rầm và gạch vỡ. Cô nhận thức được rằng cả tòa nhà có vẻ đang đậu chênh vênh trên cái chướng ngại vật này. Cô thấy ông Emslie gần như đang vươn người hết cỡ theo chiều ngang bên cạnh một người phụ nữ. Từ phần eo trở xuống, cô ta hoàn toàn bị mắc kẹt trong đống đổ nát, nhưng cô ta còn tỉnh táo và nói được rõ ràng về tình cảnh hiểm nghèo mà cô ta đang mắc phải.
"Cô sắp được ra khỏi đây rồi." Ông Emslie nói. "Chúng tôi sẽ mang tới cho cô một tách trà ngon, được không? Điều đó nghe thế nào? Tuyệt vời chứ hả? Tôi cũng thích một tách. Và cô Todd đây mang đến một thứ có thể giúp cô giảm đau." Ông Emslie tiếp tục an ủi cô ta. Ursula đưa cho ông Emslie viên moóc phin nhỏ xíu. Ông ta có vẻ rất giỏi việc này, thật khó để tưởng tượng ra hình ảnh ông ta đeo chiếc tạp dề của cửa hàng tạp phẩm, cân đường và cắt bơ.
Một bức tường của căn hầm được chặn bao cát, nhưng cát hầu như đã chảy hết ra ngoài trong vụ nổ. Trong một thoáng giây ảo giác đầy hoang mang, Ursula thấy mình đang ở trên một bãi biển ở đâu đó, cô cũng không biết là ở đâu, và có một cái vòng đang lăn bên cạnh cô theo làn gió nhẹ mát rượi cùng những con chim mòng biển đang kêu quang quác phía trên đầu, thế rồi cô thình lình trở lại với thực tại trong căn hầm ngột ngạt. Chắc là do thiếu ngủ, cô nghĩ, nó thực sự là một con ác quỷ.
"Sắp cái con khỉ." Người phụ nữ nói, chộp lấy viên moóc phin. "Ông nghĩ đám người các ông đang ở một bữa tiệc trà quái quỷ hả?" Ursula nhận ra cô ta còn trẻ và quen thuộc đến lạ lùng. Cô ta đang ôm khư khư cái túi xách tay màu đen to tướng như thể nó đang giúp cô ta trôi nổi trên một biển gỗ. "Ai trong hai người có thuốc lá không?" Ông Emslie loay hoay trong không gian tù túng để lấy ra một hộp thuốc lá Players bẹp rúm từ trong túi quần và rồi lóng ngóng hơn nữa khi lấy ra một bao diêm. Cô ta không ngừng gõ ngón tay trên chiếc túi da. "Cứ từ từ." Cô ta mỉa mai.
"Xin lỗi!" Cô ta nói sau khi đã rít sâu một hơi thuốc lá. "Ở trong một endroit như thế này, thần kinh người ta không còn được bình thường, hai người biết đấy."
"Renee à?" Ursula kinh ngạc hỏi.
"Sao cô lại hỏi thế?" Cô ta nói, lại trở nên thô tục như lúc nãy.
"Chúng ta đã gặp nhau trong phòng vệ sinh ở khách sạn Charing Cross vài tuần trước."
"Tôi nghĩ cô đã nhầm tôi với ai khác." Cô ta cáu kỉnh nói. "Nhiều người vẫn nhầm lẫn như thế. Chắc là mặt tôi giống ai đó."
Cô ta lại rít một hơi thuốc rất dài rồi chầm chậm nhả ra với sự khoái trá lạ thường. "Cô còn viên thuốc nào không?" Cô ta hỏi. "Tôi cá là giá của chúng ở chợ đen sẽ cao lắm." Cô ta nghe chừng đã lơ mơ rồi, Ursula cho rằng moóc phin đã bắt đầu ngấm, thế rồi điếu thuốc lá bỗng rơi khỏi tay cô ta và mắt cô ta trợn ngược lên. Cô ta bắt đầu co giật. Ông Emslie nắm chặt bàn tay cô ta.
Ursula liếc nhìn ông Emslie và bắt gặp bức tranh chép tác phẩm Bong bóng xà phòng của họa sĩ Millais được đính bằng băng dính lên một bao cát đằng sau ông ta. Cô không thích bức tranh đó, cô không thích tất cả các bức tranh Tiền Raphael* với những người phụ nữ ủ rũ trông như đang buồn ngủ. Đây không phải là thời điểm và địa điểm dành cho việc phê bình hội họa, cô nghĩ. Cô đã trở nên gần như thờ ơ với cái chết. Tâm hồn mềm yếu của cô đã trở nên rắn đanh. (Thật là may, cô nghĩ.) Cô là một thanh kiếm được tôi luyện trong lửa. Và một lần nữa, cô lại thoáng thấy mình đang ở một nơi nào khác. Cô đang đi xuống một cái cầu thang, hoa đậu tía đang bung nở, cô đang bay ra khỏi một ô cửa sổ.
Một trào lưu nghệ thuật xuất hiện ở Anh khoảng giữa thế kỷ XIX. Trào lưu này xuất phát từ nhóm Tiền Raphael, được thành lập năm 1848 bởi John Everett Millais, Dante Gabriel Rossetti và William Holman Hunt. Họ muốn tìm lại phong cách của các họa sĩ trước Raffaello, tên theo tiếng Anh là Raphael (1483 -1520) - họa sĩ và kiến trúc sư nổi tiếng người Ý.
Ông Emslie đang động viên Renee: "Nào, Susie, đừng bỏ cuộc. Chúng tôi sẽ đưa cô ra khỏi đây trong nháy mắt thôi, cô sẽ thấy. Tất cả các chàng trai đều đang nỗ lực làm điều đó. Cả những cô gái nữa." Ông nói thêm vì sự có mặt của Ursula. Renee đã ngừng co giật, nhưng bây giờ cô ta lại bắt đầu run rẩy một cách đáng ngại và ông Emslie cuống quýt nói: "Nào, Susie, nào, cô gái, hãy giữ tỉnh táo, cô gái ngoan."
"Tên cô ấy là Renee." Ursula nói. "Cho dù cô ấy có chối bỏ nó."
"Ai tôi cũng gọi là Susie." Ông Emslie nhẹ nhàng nói. "Đó là tên của con gái tôi. Bệnh bạch hầu đã mang con bé đi khi nó còn rất nhỏ."
Renee rùng mình lần cuối và sinh khí biến mất khỏi đôi mắt khép hờ của cô ta.
"Đi rồi." Ông Emslie buồn bã nói. "Chắc là bị nội thương." Ông ta viết "đường Argyll" lên một cái nhãn và buộc vào ngón tay cô ta. Nét chữ của ông ta ngay ngắn đúng kiểu nét chữ của một chủ cửa hàng tạp phẩm. Ursula gỡ cái túi xách ra khỏi bàn tay đang siết chặt của Renee và giũ những thứ bên trong đó ra. "Thẻ căn cước của cô ấy." Cô nói và giơ nó lên cho ông Emslie xem. Nó ghi rõ rành rành cái tên "Renee Miller". Ông Emslie viết thêm tên cô ta lên cái nhãn.
Trong lúc ông Emslie bắt đầu loay hoay tìm cách quay người lại để bò ra khỏi căn hầm, Ursula nhặt lên hộp thuốc lá bằng vàng đã rơi ra từ cái túi xách của Renee cùng với hộp phấn sáp bỏ túi, thỏi son, những lá thư bằng tiếng Pháp và có Chúa mới biết là còn những gì nữa. Cô chắc chắn hộp thuốc lá này không phải một món quà, mà là đồ cô ta đánh cắp được. Ursula khó lòng tưởng tượng được Renee và Crighton ở trong cùng một căn phòng với nhau, huống hồ là chung một chiếc giường. Nhưng chiến tranh quả thực cũng tạo nên những bạn đồng sàng kỳ lạ. Anh ta có thể đã vớ được cô ta trong một khách sạn ở đâu đó, hoặc có lẽ là một endroit kém sang trọng hơn. Cô ta đã học tiếng Pháp ở đâu nhỉ? Có lẽ cô ta chỉ biết vài từ. Dù sao đi nữa, cô ta không thể học nó từ Crighton, anh ta vốn nghĩ chỉ cần tiếng Anh là quá đủ để thống trị thế giới.
Cô bỏ hộp thuốc lá và thẻ căn cước vào trong túi.
❄
Đống gạch vỡ ngổn ngang xê dịch khiến họ phải nín thở khi cố gắng bò lùi ra khỏi tầng hầm (họ đã từ bỏ việc cố gắng quay người lại). Họ ở yên tại chỗ không động đậy, lom khom như những chú mèo, hầu như không dám hít thở trong suốt khoảng thời gian dài như bất tận. Khi cảm thấy đã đủ an toàn để tiếp tục di chuyển, họ phát hiện ra rằng sự xê dịch vừa rồi của đống gạch vỡ đã khiến cho chướng ngại vật lúc trước trở nên không thể vượt qua, và họ bị buộc phải tìm một lối ra khác quanh co hơn, vẫn với tư thế bò bằng cả tay và đầu gối qua tầng hầm đổ nát của tòa nhà. "Trò này làm tôi đau lưng quá." Ông Emslie thì thầm đằng sau cô.
"Còn tôi thì đau đầu gối." Ursula nói. Họ mệt mỏi kiên trì tiếp tục. Ursula tự động viên tinh thần mình bằng ý nghĩ về chiếc bánh mì nướng phết bơ, mặc dù nhà họ ở Phillimore Gardens đã hết bơ và cả bánh mì trừ khi Millie đã ra ngoài và xếp hàng để mua (khả năng này rất hiếm khi xảy ra).
Tầng hầm có vẻ là một mê cung dài bất tận và Ursula dần dần hiểu ra tại sao trên kia lại có những người mất tích - họ đều bị giấu kín ở dưới này. Rõ ràng các cư dân của tòa nhà đã sử dụng phần này của tầng hầm để làm nơi trú ẩn. Những người chết ở dưới này - đàn ông, phụ nữ, trẻ con, thậm chí cả một con chó - trông như đã bị chôn vùi ở chính chỗ họ đang ngồi. Họ bị phủ kín một lớp bụi và trông giống những tác phẩm điêu khắc hoặc hóa thạch. Cô nhớ đến Pompeii hoặc Herculaneum. Ursula đã đến thăm cả hai nơi đó trong chuyến đi được đặt tên rất kêu là "chuyến du ngoạn lớn" quanh châu Âu của cô. Cô đã trọ ở Bologna và kết bạn với một cô gái Mỹ - Kathy, một mẫu người sôi nổi - và họ đã cùng nhau thăm thú nhiều nơi - Venice, Florence, Rome, Naples - trước khi Ursula lên đường sang Pháp, điểm đến cuối cùng của cô trong một năm ở nước ngoài.
Ở Naples, một thành phố thực sự làm họ sợ hãi, họ đã thuê một hướng dẫn viên riêng - một người nói như chim hót - và quyết tâm lê bước quanh những di tích bụi bặm, hoang tàn của những thành phố đã không còn tồn tại của Đế chế La Mã, dưới vầng mặt trời phương Nam chói lọi, trong một ngày được coi là dài nhất cuộc đời họ.
"Ôi Chúa ơi!" Kathy thốt lên khi họ loạng choạng đi quanh thành Herculaneum hoang phế. "Mình ước gì chưa từng có ai nghĩ đến chuyện khai quật những thứ này lên." Tình bạn của họ bùng lên rực rỡ trong một thời gian ngắn và nhanh chóng tàn lụi khi Ursula tới Nancy.
"Em đã dang cánh học bay." Cô viết cho Pamela sau khi rời Munich và chia tay những người chủ nhà của cô - gia đình Brenner. "Em là người phụ nữ sành sỏi." Mặc dù cô vẫn chỉ hơn con chim non mới ra ràng một chút. Nếu một năm du ngoạn đó có dạy cô được điều gì thì đó chính là cô đã nhận ra rằng sau khi trải qua việc kèm cặp vô số học sinh, việc mà cô không muốn làm nhất chính là dạy học.
Thay vào đó, khi trở về - ngấp nghé ý định thi vào ngành dân chính - cô đã theo học một khóa tốc ký và đánh máy chuyên sâu ở High Wycombe do ông Carver điều hành, người sau này đã bị bắt vì tội khoe thân nơi công cộng. ("Một kẻ phô dâm ư?" Maurice nói, bĩu môi tỏ vẻ ghê tởm, và Hugh quát đuổi anh ta ra khỏi phòng, đồng thời cấm anh ta ăn nói bỗ bã như vậy trong nhà ông lần nữa. "Ấu trĩ!" Ông nói khi Maurice đóng sầm cửa, đi ra ngoài vườn. "Nó có thực sự phù hợp với hôn nhân không?" Maurice đã về nhà để thông báo về việc đính hôn của anh ta với một cô gái tên là Edwina, con gái cả của một mục sư. "Chúa ơi!" Sylvie nói. "Chúng ta có phải quỳ gối hay làm gì đó đại loại thế không?"
"Mẹ đừng ngớ ngẩn thế." Maurice nói và Hugh mắng: "Sao con dám ăn nói với mẹ con như vậy?" Đó là một chuyến về thăm nhà cực kì khó chịu của anh ta.
Ông Carver thực sự không phải là người xấu. Ông ta đã rất say mê Esperanto, bấy giờ nó dường như vẫn là một phát minh kỳ quặc, nhưng đến nay Ursula lại nghĩ có một ngôn ngữ chung cũng là một điều tốt, giống như tiếng Latin trước đây vậy. Ồ, phải, bà Woolf nói, một ngôn ngữ chung là một ý tưởng tuyệt vời, nhưng cực kì thiếu thực tế. Tất cả những ý tưởng hay ho đều như vậy cả, bà buồn bã nói.
Lúc lên đường du ngoạn châu Âu, Ursula vẫn là trinh nữ, nhưng khi trở về, cô không còn như vậy nữa. Cô phải cảm ơn nước Ý về điều đó. ("Chà, nếu người ta không thể tìm được người tình ở Ý thì người ta có thể tìm được ở đâu chứ?" Millie nói.) Anh ta, Gianni, bấy giờ đang học tiến sĩ Ngữ văn ở Đại học Bologna. Anh ta đứng đắn, nghiêm nghị hơn so với sự lầm tưởng của Ursula về một người Ý. (Trong những cuốn tiểu thuyết lãng mạn của Bridget, người Ý luôn bảnh bao nhưng không đáng tin cậy.) Gianni mang cả sự trang nghiêm, thận trọng vào trong "chuyện ấy" nên đã khiến cho "nghi thức chuyển tiếp" của cô bớt lúng túng và ngại ngùng hơn những gì cô đã lo sợ.
"Chúa ơi!" Kathy nói. "Cậu thật táo bạo." Cô ấy gợi cho Ursula nghĩ đến Pamela. Trong chừng mực nào đó chứ không phải tất cả - chẳng hạn như việc cô ấy phủ nhận các học thuyết của Darwin thì hoàn toàn không giống Pamela. Kathy là một người Baptist nên cô ấy quyết giữ mình cho đến khi kết hôn, nhưng chỉ vài tháng sau khi cô ấy trở về Chicago, mẹ cô ấy đã viết thư cho Ursula để kể với cô rằng Kathy đã chết trong một tai nạn khi đi thuyền. Hẳn là bà đã xem cuốn sổ địa chỉ của con gái và viết thư thông báo cho từng người trong đó. Quả là một việc khủng khiếp. Đối với cái chết của Hugh, họ chỉ đơn giản đăng một cáo phó lên tờ The Times. Kathy tội nghiệp đã uổng công giữ mình. Huyệt mộ là nơi đẹp đẽ, riêng tư/ Nhưng tôi nghĩ chẳng ai ôm nhau trong đó cả.
“Cô Todd?"
"Xin lỗi, ông Emslie. Chúng ta cứ như đang ở trong một hầm mộ ấy nhỉ? Đầy những xác chết cổ xưa."
"Vâng, và tôi rất muốn ra ngoài trước khi biến thành một trong số họ."
Khi Ursula rón rén bò về phía trước, đầu gối cô chợt đè vào thứ gì đó mềm mại làm cô giật bắn mình, đập đầu vào một thanh rui bị gãy, khiến một màn mưa bụi rớt xuống.
"Cô ổn cả chứ?" Ông Emslie hỏi.
"Vâng." Cô nói.
"Chúng ta bị thứ gì chặn lại à?"
"Chờ đã." Cô từng đứng trên một thi thể nên nhận ra sự mềm mại của da thịt. Cô cho rằng cô phải nhìn xuống, mặc dù có Chúa chứng giám là cô không muốn làm việc đó. Cô chiếu đèn pin vào thứ có vẻ là một đống vải len phủ đầy bụi bị lèn chặt xuống đất. Trông nó như bị rơi ra từ một giỏ đồ khâu. Nhưng đương nhiên là không phải như vậy. Cô lật một lớp len lên rồi đến một lớp khác, như thể đang mở một bọc hàng được đóng gói sơ sài hoặc một cái bắp cải to kềnh càng. Cuối cùng, một bàn tay nhỏ xíu gần như không lấm một vết bẩn, giống như một ngôi sao nhỏ, lộ ra từ đống vải bọc. Cũng may là mẹ cậu bé đã chết và không biết được điều này, cô nghĩ.
"Cẩn thận khi đi qua đây nhé, ông Emslie." Cô ngoảnh lại nói. "Có một đứa bé, hãy cố tránh nó."
❄
"Ổn cả chứ?" Bà Woolf hỏi cô khi cuối cùng họ cũng chui ra được bên ngoài như những con chuột chũi. Đám cháy bên kia đường lúc này đã gần tắt và con phố trở nên u ám vì bị bao phủ bởi bóng tối, muội than và bụi bẩn. "Bao nhiêu người?" Bà Woolf hỏi.
"Ít thôi." Ursula nói.
"Có dễ đưa ra không?"
"Khó nói lắm." Cô đưa chiếc thẻ căn cước của Renee cho bà. "Có một đứa bé ở dưới kia, tôi e rằng cảnh tượng ấy rất khó coi."
"Có trà đấy." Bà Woolf nói. "Hãy đi uống một tách đi!"
❄
Khi cô cùng ông Emslie đi tới quầy căng tin di động, cô ngạc nhiên khi thấy một con chó đang nép mình trong một khung cửa cách chỗ họ một đoạn.
"Tôi sẽ đuổi theo ông sau." Cô nói với ông Emslie. "Lấy sẵn cho tôi một cốc nhé, được không? Hai viên đường."
Đó là một con chó sục nhỏ bé bình thường, nó đang rên rỉ và run rẩy vì sợ hãi. Ngôi nhà sau khung cửa hầu như đã biến mất hoàn toàn, và Ursula tự hỏi liệu đây có phải là nhà của con chó này không? Phải chăng nó đang mong mỏi sự an toàn hay che chở và không thể nghĩ ra nơi nào khác để đi? Tuy nhiên, khi cô tiến lại gần nó, nó liền chạy ngược đi. Con chó chết tiệt, cô nghĩ, đuổi theo nó. Cuối cùng cô cũng đuổi kịp nó và tóm lấy nó trước khi nó có cơ hội bỏ chạy lần nữa. Toàn thân nó đang run rẩy và cô ôm nó thật chặt, dịu dàng nói chuyện với nó giống như ông Emslie nói chuyện với Renee. Cô áp mặt vào bộ lông của nó (nó bẩn ghê gớm nhưng cô cũng vậy). Nỏ quá nhỏ bé và bất lực. "Tàn sát người vô tội." Hôm nọ bà Woolf đã nói như vậy khi họ nghe tin một trường học ở khu Đông bị trúng bom. Nhưng chẳng phải tất cả mọi người đều vô tội sao? (Hay tất cả đều có tội?) "Gã hề Hitler đó chắc chắn chẳng vô tội chút nào." Hugh nói trong lần cuối họ trò chuyện với nhau. "Toàn bộ cuộc chiến này là do lỗi của hắn." Cô thực sự sẽ không bao giờ được gặp lại cha mình nữa sao? Cô bật khóc nức nở và con chó rên ư ử, không rõ là vì sợ hãi hay cảm thông. (Chẳng có thành viên nào của gia đình Todd - ngoại trừ Maurice - lại không gán những cảm xúc của con người cho loài chó.)
Vào lúc đó, đằng sau họ vang lên một tiếng động khủng khiếp, con chó lại vẫy vùng toan bỏ chạy và cô phải ôm nó thật chặt. Khi quay người lại, cô nhìn thấy bức tường đầu hồi của tòa nhà bị cháy đổ xuống, gần như nguyên cả mảng, trúng vào căng tin của hội Phụ nữ Tình nguyện WVS, những hòn gạch rơi lộp bộp xuống mặt đất đến là dữ dội.
❄
Hai người phụ nữ của hội WVS bị thiệt mạng cùng với ông Emslie. Và cả Tony, cậu bé liên lạc đang đạp xe qua. Rủi thay, cậu đã đạp không đủ nhanh. Bà Woolf quỳ gối trên đống gạch vỡ nham nhở, chẳng màng đến đau đớn, nắm lấy tay cậu bé. Ursula khom người xuống bên cạnh bà.
"Ôi, Anthony." Bà Woolf nói. Bà không thể nói gì khác. Búi tóc gọn gàng thường ngày của bà đang xổ ra khiến bà trông khá man dại, như nhân vật trong một vở bi kịch. Tony đang bất tỉnh - vì một chấn thương khủng khiếp ở đầu, họ đã kéo cậu ra từ bên dưới bức tường bị đổ - và Ursula cảm thấy họ nên nói một điều gì đó có tính khích lệ và không để cho cậu biết họ đang đau buồn đến mức nào. Cô nhớ cậu là một hướng đạo sinh nên bắt đầu nói với cậu về niềm vui của các hoạt động ngoài trời: dựng lều trên một cánh đồng, nghe tiếng suối chảy róc rách ở gần bên, nhặt củi để đốt lửa, ngắm sương mù dâng lên khi đang nấu bữa sáng ở ngoài trời. "Cháu sẽ lại được hưởng những niềm vui đó khi chiến tranh kết thúc." Cô nói.
"Mẹ cháu sẽ mừng biết bao khi thấy cháu về nhà tối nay." Bà Woolf nói, hùa theo Ursula. Bà đưa tay bịt miệng để ngăn tiếng nức nở. Tony không có dấu hiệu gì là nghe thấy lời họ, và họ chứng kiến cậu từ từ trở nên tái nhợt như thây ma, như màu của sữa. Cậu đã ra đi.
"Ôi Chúa ơi!" Bà Woolf gào khóc. "Tôi không thể chịu nổi."
"Nhưng chúng ta vẫn phải chịu." Ursula nói, lay mu bàn tay quệt nước mắt, nước mũi và những vết bẩn trên hai gò má, và nghĩ rằng nếu đổi ngược lại thì cuộc đối thoại này sẽ thế nào.
❄
"Những kẻ ngốc quái quỷ." Fred Smith giận dữ nói. "Tại sao họ lại để cái căng tin di động chết tiệt ấy ở chỗ đó chứ? Ngay cạnh đầu hồi?"
"Họ không biết mà." Ursula nói.
"Đáng lẽ họ phải nhận ra mới đúng."
"Vậy thì đáng lẽ phải có ai đó nói với họ." Ursula gắt lên, đột nhiên bừng bừng giận dữ. "Chẳng hạn như một người lính cứu hỏa chết tiệt."
Bình minh đã lên và họ nghe thấy tiếng còi báo an.
"Lúc nãy tôi nghĩ là mình đã nhìn thấy anh, nhưng rồi tôi lại cho rằng tôi đã tưởng tượng ra anh." Ursula nói, làm hòa với anh ta. Anh ta giận dữ vì họ đã chết chứ không phải vì họ ngu ngốc.
Cô cảm thấy mình như đang ở trong một giấc mơ, cách xa thực tại. "Tôi cứ như quẫn trí đến nơi." Cô nói. "Tôi phải đi ngủ trước khi hóa điên. Tôi sống ngay gần đây." Cô nói thêm. "May mắn là căn hộ của chúng tôi không bị trúng bom. May mắn hơn nữa là tôi đã đuổi theo con chó này." Một người trong đội cứu hộ đã cho cô một sợi dây thừng để tròng quanh cổ con chó, và cô đã buộc nó vào một cây cột cháy đen nhô lên trên mặt đất. Cô nhớ đến những cánh tay và cẳng chân mà người khiêng cáng đã thu thập lúc nãy. "Hoàn cảnh này đã giúp tôi nghĩ ra một cái tên để đặt cho nó: Lucky, mặc dù cái tên ấy hơi khuôn sáo. Nó đã cứu tôi, anh biết đấy, nếu tôi không đuổi theo nó, tôi đã đứng uống trà ở cái căng tin đó rồi."
"Những kẻ ngốc chết tiệt." Anh ta lại nói. "Để tôi đưa cô về nhà nhé?"
"Thế thì còn gì bằng." Ursula nói, nhưng cô không dẫn anh tới Phillimore Gardens "ở ngay gần đây", thay vào đó, họ mệt mỏi bước đi tay trong tay dọc theo đại lộ Kensington giống như những đứa trẻ, với con chó lẽo đẽo đi theo bên cạnh. Con đường gần như vắng tanh vào thời điểm sáng sớm như thế này, chỉ có một cái ống dẫn khí đốt đang bốc cháy thu hút sự chú ý của họ trong giây lát.
Ursula biết họ đang đi đâu, đó là nơi họ tất yếu sẽ đến.
❄
Trong phòng ngủ của Izzie, có một bức tranh được đóng khung treo trên bức tường đối diện chiếc giường của bà. Đó là một tấm hình minh họa nguyên bản trong cuốn Những cuộc phiêu lưu của Augustus đầu tiên, vẽ một cậu bé tinh nghịch và con chó của cậu. Nó giống như một bức tranh hoạt họa - cái mũ nam sinh, gò má nhô cao của Augustus và con chó sục vùng cao nguyên phía Tây trông có vẻ ngớ ngẩn, hoàn toàn chẳng giống với chú chó Jock ở ngoài đời thực.
Bức tranh chẳng hề ăn nhập với những gì Ursula còn nhớ về căn phòng này trước khi nó bị bỏ phế - một khuê phòng với những tấm lụa màu ngà và satin màu nhạt, những chai rượu đắt tiền bằng thủy tinh khắc hoa văn và những chiếc lược tráng men. Một tấm thảm Aubusson xinh đẹp được cuộn chặt lại và buộc bằng dây dày, để cạnh một bức tường. Trên một bức tường khác từng có một bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng mà Ursula ngờ rằng nó được treo ở đó để phù hợp với sự bài trí trong phòng hơn là vì sự yêu thích dành cho người họa sĩ. Ursula tự hỏi phải chăng bức tranh về Augustus được treo ở đây để nhắc nhở Izzie về thành công của bà? Bức tranh thuộc trường phái Ấn tượng đã được cất vào một nơi an toàn, nhưng bức tranh minh họa này dường như đã bị quên lãng, hoặc có lẽ Izzie không còn quan tâm nhiều đến nó nữa. Dù lý do là gì, khung kính của nó cũng đã bị nứt một đường chéo từ góc này sang góc kia. Ursula nhớ lại cái đêm mà cô và Ralph ở trong hầm rượu, đêm mà Holland Park bị ném bom, có lẽ nó đã bị hư hại từ hồi đó.
Izzie đã khôn ngoan không ở lại Góc Cáo với "bà quả phụ đang đau buồn" - cách bà gọi Sylvie - vì "cô và mẹ cháu sẽ đánh nhau như chó với mèo mất". Thay vì thế, bà đã tới sống trong một ngôi nhà nằm trên đỉnh một vách đá ở Cornwall ("Giống như Manderley*, cực kì hoang dã và lãng mạn, nhưng ở đó không có bà Danvers*, ơn Chúa"), và bắt đầu "sản xuất" phiên bản truyện tranh của Những cuộc phiêu lưu của Augustus cho một tờ nhật báo nổi tiếng. Sẽ thú vị hơn biết bao, Ursula nghĩ, nếu bà cho Augustus của bà lớn lên như Teddy.
Tên ngôi nhà của nhân vật Maxim de Winter trong cuốn tiểu thuyết Rebecca của Daphne du Maurier.
Một nhân vật phản diện trong cuốn tiểu thuyết Rebecca của Daphne du Maurier.
Vầng mặt trời màu bơ chói lọi trái mùa đang nỗ lực lách mình qua những tấm rèm nhung dày dặn. Tại sao nhà ngươi lại ghé thăm chúng ta?/ Qua những tấm rèm và những ô cửa sổ, cô nghĩ. Nếu cô có thể trở về quá khứ và lựa chọn một người tình trong lịch sử, cô sẽ chọn Donne. Không phải là Keats. Việc biết được Keats mất sớm sẽ nhuốm màu ảm đạm lên mọi thứ. Đương nhiên, đó chính là mặt trái của việc du hành thời gian (ngoại trừ tính bất khả thi của việc đó) - người ta sẽ là một nàng Cassandra, với khả năng thấy được tương lai, luôn gieo những lời tiên tri bất hạnh. Điều đó khá tàn nhẫn và mệt mỏi, nhưng con đường duy nhất mà người ta có thể đi là tiến về phía trước.
Cô nghe thấy tiếng chim hót ngoài cửa sổ dẫu bây giờ đang là tháng Mười một. Có lẽ lũ chim cũng bị Cuộc không kích Blitz làm cho hoang mang giống như con người. Những vụ nổ đã ảnh hưởng thế nào đến chúng? Cô đoán là chúng đã bị chết rất nhiều, những trái tim tội nghiệp của chúng chỉ đơn giản ngừng đập vì bị sốc hoặc những lá phổi bé nhỏ của chúng nổ tung vì sức ép. Hẳn là chúng đã rơi từ trên trời xuống như những hòn đá không trọng lượng.
"Trông cô có vẻ đăm chiêu." Fred Smith nói. Anh ta đang nằm hút thuốc lá, kê một tay sau đầu.
"Còn anh trông tự nhiên, thoải mái kỳ lạ, như thể anh đang ở nhà mình vậy." Cô nói.
"Đúng thế." Anh ta cười toe, nghiêng người về phía cô để quấn hai tay quanh eo cô và hôn lên gáy cô. Họ đều lấm lem như thể đã lao động cực nhọc cả đêm trong một mỏ than. Cô nhớ đến tình trạng nhem nhuốc của họ vào cái đêm cô đi lên London bằng đầu máy xe lửa. Đó là lần cuối cùng cô được nhìn thấy Hugh còn sống.
Ở đường Melbury không có nước nóng, ngay cả nước bình thường còn chẳng có, cũng không có cả điện, mọi thứ đều tạm thời bị cắt trong thời gian này. Trong bóng tối, họ trườn xuống dưới tấm vải che bụi trên tấm đệm trần của Izzie và chìm vào giấc ngủ say như chết. Vài tiếng sau, họ tỉnh dậy cùng lúc và làm tình với nhau. Đó là kiểu tình yêu (ham muốn thì đúng hơn) mà những người sống sót sau thảm họa - hoặc những người sắp đối mặt với thảm họa - phải trải qua, thoát khỏi mọi sự kiềm chế, đôi khi hoang dại nhưng lại dịu dàng và âu yếm lạ kỳ. Một giai điệu u sầu luẩn quẩn trong đầu cô suốt lúc đó. Giống như bản xô nát của Bach mà Herr Zimmerman đã chơi, nó khuấy động tâm hồn cô, tách rời não bộ và cơ thể cô. Cô cố gắng nhớ lại một câu thơ khác của Marvell trong bài Một cuộc đối thoại giữa tâm hồn và cơ thể, một câu thơ nói về những then cài bằng xương và gông cùm, xiềng xích, nhưng nó không chịu bật ra. Có vẻ khó mà nhớ ra được câu thơ ấy khi có quá nhiều da thịt mềm mại trên chiếc giường phóng đãng bị ruồng bỏ này.
"Tôi đang nghĩ về Donne." Cô nói. "Anh biết đấy - Vầng mặt trời già cỗi, ngốc nghếch, bất kham, bận rộn." Không, cô cho rằng có lẽ anh ta không biết.
"Ồ?" Anh ta thờ ơ nói. Thực ra còn tệ hơn cả thờ ơ.
Cô đột nhiên nhớ đến những bóng ma màu xám dưới tầng hầm và việc cô đè đầu gối vào đứa bé. Thế rồi, trong một giây, cô thấy mình đang ở đâu đó khác, không phải trong một tầng hầm ở đường Argyll, không phải trong phòng ngủ của Izzie ở Holland Park, mà là trong một nơi giam cầm kỳ lạ nào đó. Rơi xuống, rơi xuống...
"Hút thuốc không?" Fred Smith mời cô. Anh ta châm một điếu thuốc khác từ đầu mẩu điếu thuốc đầu tiên của anh ta và đưa nó cho cô. Cô cầm lấy nó và nói: "Tôi vốn không hút thuốc."
"Tôi vốn không bắt quen với những người phụ nữ xa lạ và lên giường với họ trong những ngôi nhà xa hoa."
"Nghe cứ như một nhân vật trong truyện của Lawrence vậy. Và tôi không phải là người lạ, ít nhiều gì chúng ta cũng đã biết nhau từ hồi nhỏ."
"Không phải kiểu này."
"Tôi cũng hy vọng là không phải." Cô bắt đầu chán ghét anh ta. "Tôi không biết bây giờ là mấy giờ." Cô nói. "Nhưng tôi có thể mời anh chút rượu vang hảo hạng cho bữa sáng. Tôi e rằng đó là tất cả những gì chúng ta có ở đây."
Anh ta nhìn đồng hồ đeo tay và nói: "Chúng ta lỡ mất bữa sáng rồi. Đã ba giờ chiều."
Con chó lách người qua cửa, bộ móng của nó gõ lộp cộp trên những tấm ván gỗ trần trụi. Nó nhảy lên giường và nhìn Ursula chăm chú. "Con vật đáng thương." Cô nói. "Hẳn là nó đang đói ngấu rồi."
❄
"Fred Smith ư? Anh ta thế nào? Cậu kể đi!"
"Đáng thất vọng."
"Ở điểm gì? Trên giường á?"
"Chúa ơi, không, không phải chuyện đó. Mình chưa bao giờ... như vậy, cậu biết đấy. Mình nghĩ rằng mình đã mong đợi nó sẽ thật lãng mạn. Không, không phải lãng mạn, từ đó nghe ngớ ngẩn quá. Có lẽ là "đầy cảm xúc"."
"Thăng hoa?" Millie gợi ý.
"Đúng rồi, chính là thế đấy. Mình đang tìm kiếm sự thăng hoa."
"Mình cho rằng nó phải tìm ra cậu thay vì cậu tìm ra nó. Đó là một yêu cầu quá cao đối với anh chàng Fred tội nghiệp."
"Mình đã tưởng tượng về con người anh ta." Ursula nói. "Nhưng anh ta lại không giống như trong trí tưởng tượng ấy. Có lẽ mình đã muốn yêu."
"Nhưng thay vì thế cậu lại có một cuộc làm tình nóng bỏng thuần túy. Tội nghiệp cậu!"
"Cậu nói đúng, mình thật không công bằng khi mong đợi như vậy. Ôi, Chúa ơi, mình nghĩ mình đã tỏ vẻ hợm hĩnh khủng khiếp đối với anh ta. Mình đã trích dẫn thơ của Donne. Cậu có nghĩ mình là kẻ hợm hĩnh không?"
"Khủng khiếp. Người cậu đang bốc mùi đấy." Millie tươi cười nói. "Thuốc lá, tình dục, bom, có Chúa mới biết còn thứ gì nữa. Mình xả nước vào bồn tắm cho cậu nhé?"
“Ồ, thế thì còn gì bằng."
"Và trong lúc cậu tắm..." Millie nói. "... Cậu có thể mang cả con chó gớm ghiếc kia vào trong bồn tắm cùng cậu. Nó cũng đang bốc mùi nồng nặc. Nhưng nó khá zễ thưn (dễ thương)." Cô nói, nhái giọng Mỹ (nhưng nghe khá tệ).
Ursula thở dài và vươn vai. "Cậu biết không, mình thực sự, thực sự ngán bị ném bom lắm rồi."
"Mình e rằng trong thời gian tới, chiến tranh còn chưa chấm dứt được đâu." Millie nói.