Chuỗi Đời Bất Tận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 140 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tháng 6 Năm 1932

❊ ❊ ❊

Pamela đã chọn một chiếc váy trắng bằng vải thêu kim tuyến cho bản thân và váy satin màu vàng cho các cô phù dâu của mình. Màu vàng khiến người ta liên tưởng đến vị chua và làm cho tất cả các cô phù dâu trông như mắc bệnh gan. Có bốn người cả thảy - Ursula, Winnie Shawcross (thay vì Gertie) và hai cô em gái út ít của Harold. Harold xuất thân trong một gia đình đông đúc ồn ào ở đường Old Kent mà Sylvie cho là "hạ lưu". Việc Harold là bác sĩ có vẻ cũng không cải thiện được hoàn cảnh của anh (Sylvie ác cảm kỳ lạ với nghề y). "Chẳng phải gia đình em đã sa sút rồi sao?" Hugh nói với Sylvie. Ông thích cậu con rể tương lai, thấy anh ta "thú vị". Ông cũng thích mẹ của Harold là bà Olive. "Bà ấy nói những gì bà ấy nghĩ." Ông nói với Sylvie. "Và làm đúng những gì bà ấy nói. Không giống như một số người."

"Trong sách mẫu nhìn nó đẹp lắm mà." Pamela nghi ngờ nói trong lần thử váy thứ ba và cũng là lần cuối cưng của Ursula trong một tiệm may ở Neasden. Chiếc váy cắt xéo bó chặt ở phần bụng của Ursula.

"Cô đã tăng cân sau lần thử váy trước." Người thợ may nói.

"Vậy sao?"

"Đúng đấy." Pamela nói. Ursula nghĩ về lần tăng cân trước đây của cô. Belgravia. Lần này chắc chắn không phải là vì lý do đó. Cô đang đứng trên một cái ghế người thợ may đi vòng quanh cô với cái gối cắm kim buộc ở cổ tay. "Nhưng trông em vẫn xinh đẹp." Pamela nói thêm.

"Em ngồi cả ngày ở chỗ làm." Ursula nói. "Em nghĩ là mình nên đi bộ nhiều hơn." Thật dễ dàng để lười biếng. Cô sống một mình nhưng không ai biết. Hilda - cô gái mà ai cũng nghĩ là đang ở cùng cô trong căn hộ ở tầng trên cùng tại Bayswater - đã chuyển đi, mặc dù cô ấy vẫn trả tiền thuê nhà, ơn Chúa! Hilda đang sống ở Ealing trong một "cung điện khoái lạc nhỏ tuyệt vời" cùng một người đàn ông tên là Emest, vì vợ ông ta không chịu đồng ý ly dị nên cô ấy phải giả vờ với cha mẹ rằng mình vẫn đang sống cuộc sống độc thân đức hạnh ở Bayswater. Ursula cho rằng không sớm thì muộn cha mẹ của Hilda sẽ bất ngờ xuất hiện ở trước cửa căn hộ, rồi cô sẽ phải bịa ra một hoặc vài lời nói dối để giải thích cho sự vắng mặt của con gái họ. Hugh và Sylvie sẽ kinh hãi biết bao nếu họ biết Ursula đang sống một mình ở London.

"Bayswater ư?" Sylvie nghi ngại nói khi Ursula thông báo rằng cô sẽ chuyển đi khỏi Góc Cáo. "Chuyện đó có thực sự cần thiết không?" Hugh cùng Sylvie đã kiểm tra cặn kẽ căn hộ và xem xét Hilda kĩ càng, còn Hilda rất vững vàng trước "cuộc điều tra" của Sylvie. Tuy nhiên, Sylvie vẫn thấy cả căn hộ và Hilda đều có chút gì đó không ổn.

"Ernest ở Ealing" - Ursula luôn nghĩ về anh ta với cái tên đó - là người trả tiền thuê nhà ("Mình được bao nuôi mà." Hilda cười), nhưng cứ vài tuần, đích thân Hilda sẽ ghé qua để lấy thư và gửi tiền. "Mình có thể tìm một người khác ở chung." Ursula đề nghị, mặc dù cô ghét ý nghĩ đó.

"Đợi một thời gian nữa đã." Hilda nói. "Xem mọi chuyện có tốt đẹp không. Đó là ưu điểm của việc sống thử đấy, ta có thể bỏ đi bất cứ lúc nào."

"Vậy thì Ernest (ở Ealing) cũng có thể làm vậy."

"Mình hai mươi mốt, anh ây bốn mươi hai, anh ấy sẽ không bỏ mình đâu, tin mình đi."

Quả là thoải mái khi Hilda chuyển đi. Ursula có thể mặc váy ngủ, đầu cuốn lô, nằm dài cả tối, ăn cam, ăn sô cô la và nghe radio. Không phải là Hilda sẽ phản đối mấy việc đó, cô ấy còn hùa theo là khác, nhưng ngay từ khi còn bé, Ursula đã được Sylvie truyền cho tư tưởng phải cư xử đoan trang, đứng đắn trước mặt người khác nên cô khó mà vứt bỏ được tâm lý ấy.

Sau vài tuần ở một mình, cô chợt nhận ra mình hầu như không có người bạn nào và cũng chẳng bận tâm giữ liên lạc với vài người bạn ít ỏi mà mình có. Millie đã trở thành một diễn viên và cô ấy hầu như đi lưu diễn với đoàn kịch suốt. Thi thoảng cô ấy lại gửi cho cô một tấm bưu thiếp từ những nơi mà có lẽ cô ấy sẽ chẳng bao giờ đến thăm nếu không làm diễn viên - Stafford, Gateshead, Grantham - và vẽ những bức hoạt họa ngộ nghĩnh về chính mình trong những vai diễn khác nhau ("Mình trong vai Juliet đấy, vui không!"). Tình bạn của họ không còn mặn nồng như trước sau cái chết của Nancy. Gia đình Shawcross đã thu mình lại vì đau buồn. Khi Millie cuối cùng cũng bắt đầu lại cuộc đời, đó cũng là lúc cô nhận ra cuộc đời của Ursula dường như đã chấm dứt. Ursula thường ước ao rằng cô có thể giải thích về sự kiện Belgravia với Millie, nhưng cô không muốn mạo hiểm đánh mất nốt những gì còn sót lại trong mối gắn kết mỏng manh giữa họ.

Ursula làm việc cho một công ty nhập khẩu lớn. Thi thoảng, khi nghe thấy những cô gái khác trong văn phòng tán gẫu về việc họ đang làm gì với ai, cô lại tự hỏi làm thế nào mà họ gặp được những người đó, những Gordon, Charlie, Dick, Mildred, Eileen và Vera - một đám người vui vẻ, hoạt bát thường cùng họ lui tới những nhà hát, rạp chiếu bóng, đi trượt băng, đi bơi ở những bể bơi công cộng, lái xe tới rừng Epping và Eastbourne. Ursula chẳng làm việc gì trong số ấy.

Ursula thèm khát được ở một mình nhưng cô ghét nỗi cô đơn, đây là một vấn đề nan giải mà cô không thể giải quyết được. Ở chỗ làm, mọi người coi cô là một người tách biệt, như thể cô hơn họ về mọi mặt, mặc dù không phải thế. Thi thoảng một người đồng nghiệp lại rủ cô: "Cô có muốn đi chơi với chúng tôi sau giờ làm không?" Cứ như là họ đang bố thí vậy. Cô không bao giờ nhận lòi. Cô nghi ngờ, mà không, cô biết rằng họ bàn tán về cô sau lưng cô, chẳng phải ác ý gì mà chỉ vì sự tò mò. Họ tưởng tượng con người cô hẳn phải có gì đó hơn thế. Một kẻ giấu mình.tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi. Họ sẽ thất vọng khi biết rằng con người cô thực sự chỉ có vậy, ngay cả những thứ khuôn sáo cũng còn thú vị hơn cuộc sống của cô. Chẳng có gì ngấm ngầm, chẳng có gì giấu giếm (có lẽ trong quá khứ thì có, nhưng hiện tại thì không). Trừ khi họ tính đến thói nghiện rượu. Cô cho rằng họ sẽ tính đến điều đó.

Công việc thật tẻ nhạt - hàng núi vận đơn đường biển, tờ khai hải quan và sai ngạch. Các loại hàng hóa - rượu rum, ca cao, đường - và xuất xứ của chúng có vẻ tương phản với sự nhàm chán thường nhật của văn phòng. Cô cho rằng mình chỉ là một cái vấu răng nhỏ xíu trong cái bánh xe lớn của Đế chế.

"Là một cái vấu răng thì có làm sao." Maurice nói, giờ anh ta đã là một cái bánh xe lớn của Bộ Nội vụ. "Thế giới cần những cái vấu răng."

Cô không muốn là một cái vấu răng, nhưng sự kiện Belgravia dường như đã đặt dấu chấm hết cho thứ gì đó lớn lao hơn.

Ursula biết rõ do đâu mà cô bắt đầu nghiện rượu. Cũng chẳng có gì kịch tính, tất cả chỉ là vì món bò xốt vang mà cô tính nấu cho Pamela ăn khi chị cô tới chơi vào dịp cuối tuần vài tháng trước. Bấy giờ cô ấy vẫn đang làm việc trong phòng thí nghiệm ở Glasgow và muốn đi mua sắm ít đồ cho đám cưới. Harold cũng chưa chuyển chỗ làm. Anh sẽ chuyển về làm việc ở bệnh viện Royal London trong vài tuần tới. "Chúng ta sẽ có một kỳ nghỉ cuối tuần thật tuyệt vời, chỉ hai chúng ta thôi." Pamela nói.

"Hilda đi vắng rồi." Ursula nói dối trơn tru. "Tới Hastings để nghỉ cuối tuần với mẹ cô ấy." Chẳng có lý do gì để Ursula không nói với Pamela sự thật về vụ dàn xếp giữa cô với Hilda, Pamela đã luôn là người duy nhất mà cô có thể thành thật chia sẻ mọi chuyện, tuy nhiên thứ gì đó đã ngăn cô lại.

"Tuyệt quá!" Pamela nói. "Chị sẽ lôi cái đệm của Hilda sang phòng em và chúng ta sẽ giống như ngày xưa vậy."

"Chị có muốn lấy chồng không?" Ursula hỏi khi họ nằm trên giường. Cảm giác thực sự chẳng giống ngày xưa chút nào.

"Dĩ nhiên là có rồi, nếu không muốn thì chị kết hôn làm gì? Chị thích hôn nhân. Nó có vẻ gì đó êm ả, tròn trịa và chắc chắn."

"Giống như một hòn sỏi?" Ursula nói.

"Một bản nhạc giao hưởng. Chà, một bản song tấu thì đúng hơn."

"Chị chẳng mấy khi lãng mạn thế này."

"Chị thích những gì bố mẹ có." Pamela đơn giản nói.

"Thế à?" Đã lâu Pamela không dành nhiều thời gian cho Hugh và Sylvie. Có lẽ chị cô không biết dạo gần đây họ có những gì. Không còn sự hòa hợp như một bản hợp âm, mà chỉ còn những mâu thuẫn như một bản nhạc chối tai.

"Em đã hẹn hò với ai chưa?" Pamela thận trọng hỏi.

"Không. Không có ai cả."

"Chỉ là chưa có thôi." Pamela động viên.

Món bò xốt vang đương nhiên cần rượu vang đỏ burgundy. Vậy nên, trong giờ nghỉ ăn trưa, Ursula đã ghé tiệm rượu vang nằm trên đường cô đến chỗ làm hằng ngày trong khu phố cổ. Đó là một nơi cổ kính, những món đồ nội thất bằng gỗ ở bên trong trông như đã được nhúng trong rượu vang suốt mấy thế kỷ, những chai rượu sẫm màu với nhãn dán xinh đẹp dường như hứa hẹn về một thứ gì đó còn hơn cả thứ chứa trong nó. Người chủ tiệm rượu lựa ra một chai cho cô, ông ta nói vài người dùng rượu vang tồi để nấu ăn, nhưng rượu vang tồi chỉ nên dùng để làm giấm thôi. Giọng ông ta gay gắt và khá bức xúc. Ông ta nâng niu cái chai như nâng niu một đứa bé, trìu mến quấn nó bằng giấy lụa và đưa cho Ursula để cô đặt nó vào cái giỏ đi chợ, giấu giếm nó khỏi con mắt của các đồng nghiệp trong văn phòng suốt cả buổi chiều, phòng khi họ nghi ngờ cô là một con sâu rượu bí mật.

Ursula mới mua chai rượu vang đỏ burgundy này chứ chưa mua thịt bò, vậy là tối hôm đó, cô nghĩ sẽ mở chai rượu vang và thử một cốc để kiểm tra xem liệu người chủ tiệm rượu có tâng bốc quá về nó không. Dĩ nhiên, trước kia cô từng uống rượu rồi, dù sao đi nữa, cô có phải là người bài rượu đâu chứ, nhưng cô chưa bao giờ uống một mình. Cô chưa bao giờ mở một chai rượu vang đỏ burgundy đắt tiền và rót một cốc cho riêng mình (mặc váy ngủ, đeo lô cuốn tóc, bên lò sưởi bằng gas ấm cúng). Cảm giác giống như bước vào cái bồn tắm ấm áp trong một đêm lạnh lẽo vậy, loại rượu vang đậm đà, êm ái này đột nhiên khiến cô cảm thấy vô cùng dễ chịu. Đây chính là một ly đầy hương vị miền Nam ấm áp của Keats chăng? Sự chán chường quen thuộc của cô dường như đã bốc hơi một chút, do đó cô uống thêm một ly nữa. Khi đứng dậy, cô cảm thấy hơi chóng mặt và cười nhạo mình. "Say rồi." Cô nói một mình và nghĩ đến việc nuôi một con chó. Nó sẽ là đối tượng để nói chuyện cùng. Một con chó giống như Jock sẽ chào đón cô hằng ngày với sự lạc quan vui vẻ, và có lẽ sự vui vẻ của nó sẽ lây sang cô phần nào. Jock đã chết vì một cơn đau tim, bác sĩ thú y nói vậy. "Nó vốn có trái tim khỏe mạnh cơ mà." Teddy nói, tim cậu cũng như tan vỡ. Nó đã được thay thế bởi một con chó đua có đôi mắt buồn nhìn có vẻ quá mong manh đối với cuộc đời sôi động của một chú chó.

Ursula rửa ly và nút chai lại, để dành đủ lượng rượu cho món thịt bò ngày mai trước khi loạng choạng lên giường đi ngủ.

Cô nhanh chóng thiếp đi và ngủ một mạch cho đến khi chuông báo thức kêu, một sự thay đổi so với sự trằn trọc thường lệ. Uống một ly và chẳng màng đến thế gian. Khi thức giấc, cô nhận ra rằng có lẽ cô không thể chăm sóc một con chó.

Ngày hôm sau, ở chỗ làm, ý nghĩ về nửa chai rượu trên cái giá úp bát đĩa trong bếp đã xua tan đi sự tẻ nhạt của việc nhập sổ sách suốt cả buổi chiều. Suy cho cùng, cô có thể mua một chai khác cho món thịt bò xốt vang.

"Ngon phải không?" Chủ tiệm rượu nói khi cô lại xuất hiện vào hai hôm sau.

"Không, không!" Cô cười. "Tôi chưa nấu món đó. Tôi chợt nghĩ ra mình nên mua thêm thứ gì có chất lượng tương đương để uống kèm với nó." Cô nhận ra cô không thể trở lại cửa hàng đáng yêu này nữa, người ta không thể nấu món bò xốt vang liên tục được.

Để chiêu đãi Pamela, Ursula làm món thịt bò băm phủ khoai tây nghiền đạm bạc, táo nướng và sữa trứng. "Chị có mang cho em một món quà từ Scotland này." Pamela nói và lấy ra một chai whisky mạch nha.

Khi đã uống hết chai rượu mạch nha, cô tìm đến một chủ tiệm rượu khác, người ít trân trọng những món hàng mình bán hơn. "Để làm món bò xốt vang." Cô nói, mặc dù ông ta chẳng hề tỏ vẻ quan tâm đến mục đích cô mua nó. "Thực ra, tôi sẽ lấy hai chai. Tôi sẽ nấu cho nhiều người ăn mà." Hai chai Guinness từ tiệm rượu ngay góc phố. "Cho em trai tôi." Cô nói. "Nó ghé chơi bất ngờ." Teddy chưa tròn mười tám tuổi, cô không nghĩ cậu uống rượu. Vài ngày sau, cô lại mua tiếp. "Em trai cô lại đến chơi à?" Chủ tiệm rượu nói. Ông ta nháy mắt với cô và cô đỏ mặt.

Một nhà hàng Ý ở Soho mà cô "tình cờ đi ngang qua" vui vẻ bán cho cô hai chai Chianti mà không hỏi han gì. "Rượu sherry trong thùng gỗ" - cô có thể mang một cái bình tới hợp tác xã ở cuối đường và họ sẽ rót đầy nó từ thùng rượu ("Cho mẹ tôi."). Rượu rum từ những tiệm rượu cách căn hộ của cô khá xa ("Cho cha tôi"). Cô giống như một nhà khoa học đang thử nghiệm những loại rượu khác nhau, nhưng cô biết thứ cô thích nhất là gì, đó chính là chai Hippocrene* đỏ ửng cô mua lần đầu tiên, chai rượu vang có màu đỏ máu ấy. Cô đã tính xem làm thế nào để đặt mua cả một thùng giao về tận nhà ("Cho một bữa tiệc liên hoan gia đình").

Trong thần thoại Hy Lạp, Hippocrene là một con suối trên đỉnh núi Helicon, tương truyền nước suối có thể truyền thi hứng cho người ta. Nhà thơ John Keats đã ví loại rượu ông uống với con suối này trong bài thơ Ode to a Nightingale.

Cô đã trở thành một kẻ nghiện rượu bí mật. Đó là một hành động kín đáo, riêng tư và đơn độc. Chỉ cần nghĩ đến rượu là trái tim cô lại đập thình thịch, vừa sợ hãi vừa mong đợi. Thật không may, vì đạo luật hạn chế bán rượu và nỗi xấu hổ, một người phụ nữ trẻ ở Bayswater có thể gặp khó khăn đáng kể trong việc đáp ứng thói nghiện ngập của mình. Với người giàu thì dễ dàng hơn, Izzie thường đặt hàng ở đâu đó, có lẽ là Harrods, và họ sẽ giao hàng tới tận cửa nhà bà.

Cô đã nhúng ngón chân xuống dòng sông Lethe* và điều tiếp theo cô biết là cô đang chết đuối. Chỉ trong vài tuần ngắn ngủi, từ một người chẳng mấy khi đụng đến chất cồn, cô đã trở thành một kẻ nghiện rượu. Đó vừa là một điều đáng hổ thẹn vừa là một cách để chấm dứt nỗi xấu hổ. Mỗi sáng, khi thức dậy, cô đều nghĩ, tối nay thì không, mình sẽ không uống rượu vào tối nay, nhưng cứ đến chiều là cơn thèm lại nổi lên khi cô hình dung ra mình bước vào căn hộ lúc cuối ngày và được chào đón bởi sự lãng quên. Cô đã đọc những bài báo giật gân về những ổ thuốc phiện ở Limehouse, tự hỏi liệu những bài báo ấy có đúng không. Thuốc phiện có vẻ hiệu quả hơn rượu vang đỏ burgundy trong việc xóa mờ nỗi đau của sự tồn tại. Có lẽ, Izzie có thể cung cấp cho cô địa chỉ của một ổ thuốc phiện Trung Hoa. Bà từng vô tình tiết lộ rằng bà đã "làm bạn với nàng tiên nâu", nhưng Ursula cảm thấy đó thực sự không phải là chuyện mà cô có thể hỏi. Nó có thể không dẫn tới cõi Niết Bàn (rốt cuộc cô đã trở thành một học trò có năng khiếu của bác sĩ Kellet), mà có thể dẫn tới một sự kiện Belgravia mới.

Theo truyền thuyết Hy Lạp và La Mã, đây là dòng sông mà ai uống nước ở đó vào sẽ quên hết quá khứ của mình.

Thi thoảng, Izzie được phép trở lại thăm gia đình họ ("Chỉ trong các đám cưới và đám ma thôi." Sylvie nói. "Còn lễ rửa tội thì không"). Bà đã được mời tới dự đám cưới của Pamela, tuy nhiên, trước sự nhẹ nhõm vô cùng của Sylvie, bà đã cáo lỗi không đến. "Đi nghỉ cuối tuần ở Berlin." Bà nói. Một người quen của bà có máy bay (thật là tuyệt) và sẽ chở bà tới đó. Thi thoảng Ursula lại đến thăm Izzie. Họ đều có chung cái ký ức kinh hoàng về Belgravia, cái ký ức sẽ gắn kết họ mãi mãi, mặc dù họ không bao giờ nói về nó.

Izzie đã gửi đến một món quà cưới, một hộp dĩa ăn bánh ngọt bằng bạc, khiến Pamela bật cười. "Trần tục quá!" Cô nói với Ursula. "Cô ấy chưa bao giờ ngừng làm người khác ngạc nhiên."

"Gần như xong rồi." Người thợ may ở Neasden nói qua cái miệng ngậm đầy kim gút.

"Em nghĩ em đang béo lên." Ursula nói, nhìn qua gương vào lớp vải satin màu vàng đang căng ra trên cái bụng tròn ủm của cô. "Có lẽ em nên gia nhập Liên hiệp Phụ nữ về Sức khỏe và sắc đẹp."

Mặc dù tỉnh như sáo nhưng cô vẫn bị vấp trên đường từ chỗ làm về nhà. Đó là một buổi tối tháng Mười một, sau đám cưới của Pamela vài tháng, trời tối và ướt át, cô không nhìn thấy mép của viên gạch lát vỉa hè bị một cái rễ cây làm cho gồ lên. Hai tay cô đều đang ôm đồm - những cuốn sách ở thư viện và đống đồ thực phẩm mà cô tranh thủ mượn và mua trong giờ ăn trưa - và theo bản năng, cô cứu lấy đống đồ thực phẩm và những cuốn sách thay vì bản thân mình. Kết quả là mặt cô đập thẳng xuống vỉa hè và mũi bị va mạnh nhất.

Cơn đau làm cô choáng váng. Từ trước đến giờ cô chưa từng trải qua chuyện gì như thế này. Cô quỳ trên mặt đất, khoanh hai tay lại ôm lấy thân mình, đống đồ thực phẩm và những cuốn sách giờ vương vãi trên vỉa hè ướt nhẹp. Cô nghe thấy tiếng mình rền rĩ - một cách dữ dội - và chẳng thể làm gì để ngăn âm thanh ấy.

"Ôi trời!" Một giọng đàn ông cất lên. "Tội cô quá! Để tôi giúp cô. Cái khăn màu hồng đào xinh đẹp của cô bị máu dây vào hết rồi. Nó là màu hồng đào hay màu thịt cá hồi nhỉ?"

"Màu hồng đào!" Ursula nén đau, lịch sự lẩm bẩm. Cô chưa bao giờ để ý nhiều đến chiếc khăn quàng cổ bằng vải nỉ angora quàng quanh cổ mình. Có vẻ cô bị chảy nhiều máu. Cô cảm thấy cả khuôn mặt mình sưng vù lên và ngửi thấy mùi máu tanh nồng trong mũi nhưng cơn đau đã giảm đi một, hai độ.

Người đàn ông trông khá điển trai, tuy không cao lắm nhưng anh ta có mái tóc màu cát, đôi mắt màu xanh lam, hai gò má cân đối bóng mịn. Anh ta giúp cô đứng dậy. Bàn tay anh ta rắn chắc và khô ráo.

"Tôi tên là Derek, Derek Oliphant." Anh ta nói.

"Elephant ư?"

"Oliphant."

Ba tháng sau, họ kết hôn.

Derek xuất thân ở khu Barnet. Cũng giống như Harold trước kia, Derek cũng là một kẻ tầm thường trong mắt Sylvie. Đương nhiên, đó là yếu tố cốt lõi khiến Ursula bị anh ta hấp dẫn. Anh ta dạy Lịch sử ở Blackwood, một trường nội trú nhỏ dành cho nam sinh ("Con cái của những chủ tiệm tham vọng." Sylvie khinh khỉnh nói) và tán tỉnh Ursula bằng những buổi hòa nhạc ở nhà hát Wigmore và những chuyến đi dạo ở đồi Primrose. Họ thường đạp xe đường dài và dừng chân ở những quán rượu thú vị vùng ngoại ô xa xôi, anh ta uống nửa panh* bia nhẹ còn cô uống một cốc nước chanh.

Đơn vị đo thể tích của Anh, 1 panh (pint) = 0,568 lít.

Mũi cô đã bị gãy. ("Ồ, tội nghiệp em quá!" Pamela viết. "Em có cái mũi đẹp như thế mà.") Trước khi dẫn cô tới bệnh viện, Derek đã đưa cô vào một tiệm rượu gần đó để sát trùng. "Để tôi lấy giúp cô một ly brandy." Anh ta nói khi cô ngồi xuống. Rồi cô nói: "Không, không, tôi ổn mà, tôi uống nước lọc thôi. Tôi không uống được rượu mấy." Cho dù mới tối hôm qua, cô đã say đến ngất đi trên sàn phòng ngủ ở Bayswater vì chai rượu gin mà cô lấy trộm từ nhà Izzie. Cô chẳng thấy day dứt gì về chuyện lấy trộm đồ của Izzie, Izzie đã tước đi của cô quá nhiều thứ. Sự kiện Belgravia, vân vân...

Ursula cai rượu cũng đột ngột như lúc mới bắt đầu vậy. Cô cho rằng sự kiện Belgravia đã khoét rỗng một khoảng trống bên trong cô. Cô đã cố lấp đầy nó bằng rượu, nhung bây giờ nó đang được lấp kín bằng những cảm xúc cô dành cho Derek. Những cảm xúc đó là gì? Chủ yếu là sự nhẹ nhõm vì có ai đó muốn chăm sóc cô, đó là người chẳng biết gì về cái quá khứ đáng hổ thẹn của cô. "Em đang yêu." Cô đã hân hoan viết cho Pamela. "Hu ra!" Pamela hồi đáp.

"Thi thoảng..." Sylvie nói. "... Người ta có thể nhầm lẫn lòng biết ơn với tình yêu."

Mẹ của Derek vẫn sống ở Barnet nhưng bố anh và một cô em gái thì đã mất. "Một tai nạn khủng khiếp." Derek nói. "Con bé bị ngã vào ngọn lửa lò sưởi hồi nó bốn tuổi." Sylvie thì từ trước đến giờ luôn che chắn lò sưởi rất cẩn thận. Bản thân Derek từng suýt chết đuối khi còn nhỏ, anh ta kể chuyện đó sau khi Ursula kể cho anh ta nghe vụ tai nạn của cô ở Cornwall. Đó là một trong vài cuộc phiêu lưu ít ỏi trong cuộc đời cô mà cô cảm thấy mình đã đóng một vai trò gần như là hoàn toàn ngây thơ. Còn Derek thì sao? Một ngọn thủy triều dữ dội, một con thuyền bị úp ngược, một chuyến bơi vào bờ đầy quả cảm. Không cần đến ông Winton nào cả. "Anh đã tự cứu mình." Anh ta nói.

"Anh ta không tầm thường chút nào." Hilda nói, mời Ursula một điếu thuốc lá. Cô chần chừ một lúc rồi từ chối, cô không muốn nhiễm thêm một thói nghiện ngập khác. Cô đang gói ghém đồ đạc. Cô nôn nóng muốn rời khỏi Bayswater. Derek đang ở thuê trong một căn hộ rẻ tiền tại Holborn nhưng đang hoàn tất thủ tục mua một ngôi nhà cho họ.

"Mình đã viết thư cho bác chủ nhà." Hilda nói. "Nói với bác ấy rằng cả hai chúng ta đều sắp chuyển đi. Mình kể với cậu là vợ của Ernie đã đồng ý ly dị chưa nhỉ?" Cô ngáp. "Anh ấy đã ngỏ lời cầu hôn mình. Mình nghĩ chắc mình sẽ nhận lời. Cả hai bọn mình đều sẽ trở thành những người phụ nữ có chồng đáng kính. Mình có thể tới thăm cậu ở... Mà cậu nói là cậu sẽ ở đâu nhỉ?"

"Wealdstone."

Đám cưới của họ diễn ra ở phòng hộ tịch. Theo mong muốn của Derek, chỉ có mẹ anh ta cùng với Hugh và Sylvie tham dự. Pamela chưng hửng vì không được mời. "Bọn em không muốn đợi thêm nữa." Ursula nói. "Và Derek không muốn ồn ào."

"Nhưng chẳng phải em muốn ồn ào sao?" Pamela hỏi. "Mục đích của đám cưới là như vậy còn gì?"

Không, cô không muốn ồn ào. Cuối cùng thì cô cũng thuộc về một ai đó, cuối cùng thì cô cũng được an toàn, đó mới là điều quan trọng. Làm cô dâu thì có ý nghĩa gì chứ, làm vợ mới là tất cả. "Bọn em muốn đám cưới thật tối giản." Cô dứt khoát nói. ("Và có vẻ còn rẻ nữa." Izzie nói. Một bộ dĩa ăn bánh bằng bạc trần tục khác được gửi tới.)

"Cậu ta có vẻ là một gã dễ chịu." Hugh nói trong "bữa tiệc chiêu đãi" - một bữa ăn trưa gồm ba món ở một nhà hàng gần phòng hộ tịch.

"Đúng vậy." Ursula đồng tình. "Anh ấy rất dễ chịu."

"Tuy nhiên, chuyện này hơi kỳ quặc, gấu con ạ." Hugh nói. "Chẳng giống đám cưới của Pammy chút nào, đúng không? Lúc ấy dường như một nửa số cư dân ở đường Old Kent đã có mặt tại đám cưới. Và Ted tội nghiệp rất tức giận vì không được mời ngày hôm nay. Nhưng chỉ cần con hạnh phúc là được." Ông nói thêm để động viên. "Đó mới là điều quan trọng."

Ursula mặc bộ vest màu xám phớt xanh trong hôn lễ. Sylvie đã chuẩn bị hoa cài ngực áo cho tất cả mọi người từ những bông hồng trồng trong nhà kính mà bà mua ở một tiệm bán hoa. "Tiếc rằng đây không phải hoa hồng do chính tay tôi trồng." Bà nói với bà Oliphant. "Tên chúng là Gloire des Mousseux, nếu bà quan tâm."

"Tôi chắc rằng chúng phải đẹp lắm." Bà Oliphant nói, nghe không giống một lời khen lắm.

"Cưới vội ắt hối cả đời." Sylvie lẩm bẩm trước ly rượu sherry chúc mừng cô dâu, chú rể.

"Em có thế không?" Hugh ôn tồn hỏi. "Hối hận ấy?" Sylvie vờ như không nghe thấy. Bà đang có tâm trạng cực kì khó chịu. "Bố tin rằng đây là thay đổi trong cuộc đời con." Hugh bối rối thì thầm với Ursula.

"Con cũng nghĩ vậy." Cô thì thầm đáp lại. Hugh siết chặt tay cô và nói: "Đúng là con gái bố."

"Derek có biết con không còn nguyên vẹn không?" Sylvie hỏi khi chỉ có mình bà và Ursula trong phòng vệ sinh nữ. Họ đang ngồi trên những cái ghế đẩu nhỏ lót nệm, tô lại son môi qua gương. Bà Oliphant vẫn ngồi ở bàn ăn ngoài kia, vì bà không tô son nên chẳng cần phải bôi lại.

"Không còn nguyên vẹn ấy ạ?" Ursula hỏi lại, nhìn chằm chằm vào Sylvie trong gương. Thế nghĩa là thế nào? Cô có khiếm khuyết gì chăng? Hay đui què mẻ sứt gì?

"Không còn trong trắng." Sylvie nói. "Đã mất trinh." Bà nói thêm với vẻ thiếu kiên nhẫn khi thấy vẻ ngơ ngác của Ursula. "Đối với một người không còn trong trắng nữa, con dường như quá đỗi ngây thơ."

Mẹ từng yêu mình, Ursula nghĩ. Còn bây giờ thì không. "Không còn nguyên vẹn." Ursula lại lặp lại. Cô thậm chí chưa bao giờ nghĩ đến vấn đề này. "Anh ấy sẽ nhận ra bằng cách nào?"

"Máu, đương nhiên rồi." Sylvie nói, khá cáu kỉnh.

Ursula nghĩ đến lớp giấy dán tường hình hoa đậu tía. Sự "bẻ hoa". Cô đã không biết hai việc đó có liên quan đến nhau. Cô đã nghĩ mình chảy máu là vì bị thương chứ không phải là dấu hiệu của việc mất đời con gái.

"Chà, cậu ta có thể không nhận ra." Sylvie thở dài. "Mẹ chắc chắn cậu ta không phải là người chồng đầu tiên bị lừa dối vào đêm tân hôn."

"Tô vẽ lại à?" Hugh bông đùa khi họ trở lại bàn. Ted được thừa hưởng nụ cười của Hugh. Derek và bà Oliphant có kiểu cau mày giống nhau. Ursula tự hỏi không biết ông Oliphant trông như thế nào. Anh ta hiếm khi nhắc đến bố.

"Phù phiếm là bản tính của đàn bà." Derek nói với thái độ vui vẻ gượng gạo. Ursula nhận thấy anh ta không thoải mái trong những tình huống giao tiếp xã hội như cô nghĩ lúc đầu. Cô mỉm cười với anh ta, cảm thấy một sự gắn kết mới. Cô nhận ra mình đang kết hôn với một người lạ. ("Ai mà chả kết hôn với một người lạ." Hugh nói.)

"Thực ra là "bạc nhược" mới đúng." Sylvie nhỏ nhẹ nói. "Bạc nhược là bản tính của đàn bà. Trích trong Hamlet. Không hiểu sao nhiều người lại trích dẫn sai."

Mặt Derek thoáng sa sầm nhưng rồi anh ta cười phá lên. "Con cúi đầu trước kiến thức cao siêu của mẹ, mẹ vợ."

Họ lựa chọn căn nhà mới ở khu Wealdstone vì vị trí của nó tương đối gần ngôi trường nơi Derek dạy học. Anh ta có một món thừa kế, "một món rất nhỏ" từ những khoản đầu tư của người cha hiếm khi được anh ta nhắc đến. Nó là một căn nhà liền kề "chắc chắn" ở đại lộ Masons, với tường có khung gỗ theo kiểu Tudor, những khung cửa sổ với ô kính viền chì và trên cửa chính có một tấm kính màu vẽ hình một chiếc thuyền buồm lớn đang căng buồm no gió, mặc dù khu Wealdstone nằm rất xa biển. Ngôi nhà có đủ mọi tiện nghi hiện đại, lại rất gần các cửa hàng cửa hiệu cùng một phòng khám đa khoa, một phòng khám nha khoa và một công viên vui chơi dành cho trẻ con, nói tóm lại, nó có tất cả mọi thứ mà một cô vợ trẻ (và một bà mẹ, "chẳng bao lâu nữa đâu", theo lời Derek) có thể mong muốn.

Ursula hình dung ra mình ăn sáng với Derek mỗi sớm trước khi vẫy chào tiễn anh ta đi làm, hình dung ra mình đang đẩy xe nôi, rồi ghế đẩy, rồi xích đu, tắm cho các con vào mỗi buổi tối và đọc truyện cho chúng nghe trước giờ đi ngủ trong căn phòng ngủ xinh xắn của chúng. Cô và Derek sẽ ngồi lặng lẽ trên đi văng vào các buổi tối để nghe radio. Anh ta có thể viết tiếp quyển sách đang viết dở, một cuốn sách giáo khoa cho trường học - Từ vương triều Plantagenet tới vương triều Tudor. ("Chúa ơi!" Hilda nói. "Nghe thật hấp dẫn.") Wealdstone cách rất xa Belgravia, ơn Chúa.

Trước khi đi nghỉ tuần trăng mật, cô vẫn chỉ có thể tưởng tượng ra những căn phòng trong ngôi nhà nơi cuộc sống hôn nhân của mình sẽ diễn ra, vì Derek đã mua và trang hoàng ngôi nhà một mình mà không cho cô được nhìn thấy nó lần nào.

"Điều đó hơi kỳ cục, em không nghĩ vậy sao?" Pamela nói.

"Không." Ursula nói. "Nó giống như một món quà bất ngờ. Món quà cưới anh ấy dành cho em."

Khi Derek cuối cùng cũng vụng về bế cô qua ngưỡng cửa của ngôi nhà ở Wealdstone (một cái thềm lát gạch đỏ mà cả Sylvie lẫn William Morris* đều sẽ không hài lòng), Ursula không thể kìm được chút thất vọng. Ngôi nhà cũ kĩ hơn nhiều so với trong trí tưởng tượng của cô, và ở nó toát lên một sự buồn tẻ mà cô cho rằng đó là vì không có bàn tay của phụ nữ trong việc bài trí, vì vậy cô rất ngạc nhiên khi Derek nói: "Mẹ đã giúp anh." Nhưng nghĩ lại thì ngôi nhà ở Bamet, nơi gắn bó với bà quả phụ Oliphant, cũng mang không khí ảm đạm như vậy.

William Morris (1834 - 1896): một nhà thiết kế vải dệt nổi tiếng của Anh, đồng thời là một nhà thơ, nhà văn, dịch giả, nhà hoạt động xã hội, một nhân vật chủ chốt trong Phong trào Mỹ thuật và Mỹ nghệ của Anh.

Sylvie đã hưởng tuần trăng mật ở Deauville, Pamela thì hưởng tuần trăng mật ở Thụy Sĩ với những chuyến đi bộ đường dài, còn Ursula bắt đầu cuộc hôn nhân của mình với một tuần khá ướt át ở Worthing.

Cô kết hôn với một người đàn ông ("một gã dễ chịu") và thức giấc bên cạnh một người đàn ông khác, một người được lên dây cót khá căng* như chiếc đồng hồ quả lắc cầm tay nhỏ bé của Sylvie vậy.

Chỉ người dễ dàng bị stress, căng thẳng.

Anh ta thay đổi gần như ngay lập tức, như thể tuần trăng mật là thời kỳ chuyển tiếp, một nghi lễ đánh dấu cho việc thay đổi từ người tình chu đáo sang người chồng thờ ơ. Ursula đổ lỗi cho thời tiết tệ hại. Bà chủ quán trọ của họ muốn họ vắng mặt trong khoảng thời gian từ bữa sáng đến bữa tối vào lúc sáu giờ, vì vậy họ thường trải qua những ngày dài trong những tiệm cà phê hay triển lãm tranh và viện bảo tàng, hoặc hóng gió trên cầu tàu. Vào buổi tối, họ thường chơi bài uýt với các vị khách khác (một việc ít buồn chán hơn) trước khi lui về nghỉ ngơi trong căn phòng ngủ lạnh lẽo. Derek chơi bài rất kém và họ thua gần như mọi ván. Anh ta dường như cố tình hiểu nhầm những nỗ lực ra hiệu bằng tay của cô với anh ta.

"Sao anh lại đánh quân bài chủ trước tiên vậy?" Cô hỏi anh ta sau khi cuộc chơi kết thúc - thực sự tò mò - lúc họ từ tốn cởi quần áo trong phòng ngủ. "Em quan trọng trò vớ vẩn đó đến vậy ư?" Anh ta nói với ánh mắt khinh khỉnh đến mức khiến cô nghĩ rằng tốt nhất là nên tránh chơi các trò chơi thuộc bất kỳ dạng nào với Derek trong tương lai.

Vào đêm đầu tiên, Ursula nhẹ nhõm khi thấy Derek chẳng để ý gì đến vết máu hay đúng hơn là việc không có vết màu nào. "Anh nghĩ em nên biết rằng anh không phải là kẻ thiếu kinh nghiệm." Derek đã nói một cách khá vênh váo khi họ cùng nhau lên giường lần đầu tiên. "Anh tin rằng người chồng có bổn phận biết chút mùi đời. Anh ta còn cách nào khác để bảo vệ sự trong trắng của vợ mình chứ?" Ursula cảm thấy đó chỉ là một lời ngụy biện nhưng cô không có tư cách gì để tranh cãi.

Sáng nào Derek cũng dậy sớm và hít đất một cách hăng say - như thể anh ta đang ở trong trại lính chứ không phải đang đi hưởng tuần trăng mật. "Mens sana in corpora sana*." Anh ta nói. Tốt hơn hết là không nên sửa lại lời anh ấy, cô nghĩ. Anh ta vốn tự hào về việc mình biết tiếng Latin cũng như việc biết lõm bõm tiếng Hy Lạp cổ. Mẹ anh ta đã tằn tiện hết mức để đảm bảo cho anh ta được học hành tử tế, "chẳng thứ gì có được một cách dễ dàng cả, không giống như một vài người." Ursula từng học tiếng Latin khá giỏi, cả tiếng Hy Lạp nữa, nhưng cô nghĩ tốt hơn hết là không nên khoe khoang điều đó. Dĩ nhiên, đó là một Ursula khác. Một Ursula chưa bị đánh dấu bởi sự kiện Belgravia.

Tiếng Latin: Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện. Ở đây Derek đã nói sai, câu đúng là Mens sana in corpore sano.

Cách Derek làm tình rất giống với cách anh ta tập thể dục, đến cả biểu hiện gắng sức mệt nhọc trên khuôn mặt anh ta cũng không khác gì. Anh ta coi Ursula như là một phần của tấm đệm vậy. Nhưng cô căn cứ vào đâu để so sánh chứ? Howie ư? Cô ước gì mình đã hỏi Hilda về những chuyện diễn ra trong "cung điện khoái lạc" của cô ấy ở Ealing. Cô nghĩ về những lời tán tỉnh hoa mỹ của Izzie dành cho những người tình của bà và cử chỉ trìu mến ấm áp giữa Pamela và Harold. Dường như tất cả đều cho thấy nếu đó không phải là hạnh phúc đích thực thì cũng là sự vui thú. "Cuộc đời còn có ý nghĩa gì nếu ta không thể có một vài thú vui?" Izzie từng nói. Ursula cảm nhận được rằng ở Wealdstone hẳn sẽ khan hiếm niềm vui.

Công việc của cô vốn nhàm chán, nhưng nó vẫn chẳng là gì so với sự mệt mỏi khi phải chăm lo nhà cửa hết ngày này qua ngày khác. Mọi thứ phải liên tục được lau rửa, cọ chùi, phủi bụi, đánh bóng, quét dọn, chưa kể việc là, gấp, treo, làm phẳng. Những sự chỉnh trang. Derek là người đàn ông cầu toàn, yêu những góc vuông và những đường thẳng. Khăn mặt, khăn lau bát, rèm, thảm đều cần được chỉnh đi chỉnh lại liên tục. (Dường như Ursula cũng vậy.) Nhưng đây là việc của cô, đây là sự phân công, sắp đặt của hôn nhân, không phải sao? Tuy nhiên, Ursula không thể vượt qua cảm giác cô đang bị quản chế vĩnh viễn.

Khuất phục "niềm tin mù quáng" của Derek vào sự gọn gàng ngăn nắp của nhà cửa còn dễ dàng hơn là chống lại nó. ("Vật nào chỗ ấy.") Bát đĩa phải sạch như lau như ly, dao dĩa phải bóng loáng và xếp ngay ngắn trong các ngăn kéo - những con dao thì giống binh lính đang diễu hành, còn những chiếc thìa thì úp vào nhau gọn gàng. Anh ta nói, một bà nội trợ phải là người thờ phụng ngoan đạo nhất trước ban thờ của Thần Giữ nhà. Phải là "nền lò sưởi" chứ không phải "ban thờ", cô nghĩ, nếu tính đến khoảng thời gian mà cô đã bỏ ra để quét vỉ lò và cạo gỉ nồi hơi.

Derek rất kĩ tính về sự ngăn nắp. Anh ta nói anh ta không thể suy nghĩ được gì nếu mọi thứ được để không đúng chỗ hoặc xiên xẹo. "Nhà cửa gọn gàng sạch sẽ thì đầu óc mới thông thoáng được." Anh ta nói. Ursula nhận ra anh ta rất thích nói chữ. Anh ta chắc chắn không thể viết cuốn Từ vương triều Plantagenet đến vương triều Tudor nếu Ursula bước vào phòng, vì việc đơn giản ấy dường như cũng đủ làm xáo trộn bầu không khí làm việc của anh ta. Họ cần có thu nhập từ cuốn sách này - cuốn đầu tiên của anh ta - nó sẽ được William Collins xuất bản, vì vậy anh ta đã trưng dụng phòng ăn nhỏ hẹp (bàn, tủ búp phê và tất cả mọi thứ) ở trong cùng của ngôi nhà để làm "thư phòng", còn Ursula bị cấm lảng vảng bên cạnh Derek vào hầu hết các buổi tối để anh ta có thể tập trung viết lách. Anh ta nói hai người nên sống tằn tiện như thể chỉ có một người, tuy nhiên giờ đây họ hầu như không thể trả nổi các hóa đơn bởi vì cô không biết vun vén, do đó ít nhất cô cũng nên cho anh ta chút yên tĩnh để cố gắng kiếm thêm ít thu nhập. Và không, cảm ơn, anh ta không muốn cô giúp anh ta đánh máy bản thảo.

Những thói quen nội trợ cũ của Ursula giờ đây có vẻ luộm thuộm một cách đáng ghê tởm, ngay cả trong mắt cô. Ở Bayswater, cô thường chẳng mấy khi dọn giường hay rửa ráy nồi niêu xoong chảo. Bánh mì và bơ tạo nên một bữa sáng ngon lành, và cô thấy chẳng có gì bất ổn khi ăn trứng luộc vào bữa trà. Cuộc sống hôn nhân đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn. Bữa sáng phải được nấu và dọn lên bàn ăn đúng giờ. Derek không thể đến trường muộn và anh ta coi bữa sáng, gồm cháo, trứng và bánh mì nướng, là một bí tích thánh thể long trọng (và đơn độc). Trứng được luân phiên thay đổi kiểu nấu trong tuần, bác, ốp la, luộc, chần, và vào các thứ Sáu sẽ đổi món bằng cá trích muối hun khói. Vào cuối tuần, Derek thích thịt lợn muối xông khói, xúc xích và dồi lợn ăn kèm với trứng. Trứng phải được mua ở một trang trại nhỏ cách nhà họ ba dặm chứ không phải mua ở cửa hàng, Ursula phải đi bộ tới đó hằng tuần bởi vì Derek đã bán xe đạp của họ khi chuyển tới Wealdstone "để tiết kiệm tiền".

Bữa trà là một loại ác mộng khác, vì lúc nào cô cũng phải nghĩ ra những món mới để nấu. Cuộc sống là một vòng quay bất tận của những món sườn, thịt nướng, bánh nướng, thịt hầm và thịt quay, chưa kể ngày nào cũng phải có món pudding tráng miệng mà không hôm nào được giống hôm nào. Con thành nô lệ của những cuốn sách dạy nấu ăn rồi! Cô viết thư cho Sylvie với sự vui vẻ giả tạo, mặc dù cảm nhận của cô hằng ngày khi cắm cúi nghiền ngẫm những trang sách khó nhằn hoàn toàn khác xa sự vui vẻ. Cô bắt đầu thấy khâm phục bà Glover. Dĩ nhiên, bà Glover có lợi thế là có một căn bếp rộng rãi, một ngân quỹ đáng kể và một bộ dụng cụ nấu nướng đầy đủ, trong khi căn bếp ở Wealdstone được thiết kế khá nhỏ và số tiền đi chợ của Ursula dường như chưa bao giờ đủ trang trải cho cả tuần, do đó cô liên tục bị trách móc vì tội vung tay quá trán.

Hồi còn ở Bayswater, cô chưa bao giờ bận tâm nhiều đến tiền bạc. Nếu thiếu tiền, cô sẽ ăn ít đi và cuốc bộ thay vì bắt tàu điện ngầm. Nếu cô thực sự cần tiền, lúc nào cô cũng có thể cầu viện Hugh hoặc Izzie. Nhưng bây giờ, cô khó có thể chạy tới chỗ họ để vay tiền vì đã có chồng. Derek sẽ cảm thấy nhục nhã vì lòng tự trọng đàn ông bị xúc phạm.

Sau vài tháng bị giam hãm bởi đám việc nhà bất tận, Ursula nghĩ cô có thể phát điên nếu không tìm được thú tiêu khiển nào để giải khuây trong những ngày dài. Hằng ngày, trên đường đi chợ, cô vẫn đi qua một câu lạc bộ tennis. Tất cả những gì cô có thể nhìn thấy ở đó là tấm lưới cao giăng đằng sau một hàng rào bằng gỗ và một cánh cửa màu xanh lá cây trổ trên một bức tường trắng ốp đá cuội quay mặt ra đường, nhưng cô có thể nghe thấy những tiếng bịch bịch, bộp bộp quen thuộc của mùa hè đang mời gọi. Thế là một ngày kia, cô thấy mình gõ vào cánh cửa màu xanh và hỏi xem liệu cô có thể gia nhập với họ không.

"Em vừa đăng ký tham gia câu lạc bộ tennis của khu này." Tối hôm đó, cô nói với Derek khi anh ta về nhà.

"Em không hỏi anh trước." Derek nói.

"Em không nghĩ là anh chơi tennis."

"Anh không chơi." Anh ta nói. "Ý anh là em đã không hỏi anh liệu em có thể tham gia câu lạc bộ đó không."

"Em không biết là em phải hỏi anh." Đám mây u ám mà cô đã thoáng nhìn thấy vào ngày cưới của họ khi Sylvie sửa lại lời trích dẫn của anh ta từ tác phẩm của Shakespeare lại băng qua mặt anh ta. Lần này nó nán lại lâu hơn và có vẻ làm anh ta thay đổi một cách mơ hồ, như thể một phần trong anh ta đã co rút lại.

"Ờ thì... em có thể tham gia không?" Cô nói, nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu mình ngoan ngoãn và giữ êm ấm. Liệu Pammy có phải xin phép Harold một chuyện như vậy không? Liệu Harold có muốn Pammy xin phép mình không? Ursula không rõ nữa. Cô nhận ra cô chẳng biết gì về hôn nhân. Và, đương nhiên, mối quan hệ của Sylvie và Hugh vẫn còn là một điều bí ẩn.

Cô tự hỏi Derek có thể đưa ra lý lẽ gì để ngăn cản cô chơi tennis. Anh ta có vẻ cũng đang vắt óc suy nghĩ về vấn đề này và cuối cùng càu nhàu nói: "Anh nghĩ là được. Miễn là em vẫn có thời gian để thu vén mọi việc trong nhà." Đang ăn bữa trà dở chừng - với món sườn cừu hầm và khoai tây nghiền - anh ta đột ngột đứng dậy khỏi bàn, cầm đĩa của mình lên và ném nó ngang qua căn phòng rồi bước ra khỏi nhà mà không nói một lời. Đến lúc Ursula sửa soạn đi ngủ anh ta mới về. Mặt anh ta vẫn sa sầm như lúc rời đi. Anh ta nói nhanh "Chúc ngủ ngon" với giọng nghèn nghẹn khi họ trèo lên giường.

Đến nửa đêm, cô giật mình thức giấc vì anh ta leo lên người cô và âm thầm thúc vào bên trong cô. Hình ảnh những bông hoa đậu tía lại hiện lên trong đầu cô.

Khuôn mặt sa sầm (cô gọi nó là "vẻ mặt đó") giờ đây thường xuyên xuất hiện và Ursula ngạc nhiên trước sự kiên nhẫn của mình trong việc xoa dịu nó. Nhưng thật vô vọng, mỗi khi anh ta rơi vào tâm trạng như vậy, bất kể cô làm gì hay nói gì cũng làm anh ta nổi cáu, thực sự thì những nỗ lực làm anh ta nguôi giận của cô càng làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Họ sắp xếp đến thăm bà Oliphant ở Barnet, đây là chuyến viếng thăm đầu tiên của họ kể từ sau đám cưới. Họ từng ghé qua nhà bà một cách chóng vánh - uống trà và ăn một chiếc bánh nướng cũ - để thông báo về việc đính hôn của mình, nhưng kể từ đó chưa trở lại lần nào.

Lần này, bà Oliphant đãi họ món sa lát giăm bông với những lá xà lách héo rũ và trò chuyện với họ một chút. Bà có vài việc vặt "để dành" cho Derek nên anh ta cầm theo ít dụng cụ và biến mất, để mặc cánh phụ nữ dọn dẹp. Khi đã rửa xong bát đĩa, Ursula nói: "Con pha trà nhé?" Rồi bà Oliphant đáp "Tùy con" mà không tỏ vẻ khuyến khích gì lắm.

Họ lúng túng ngồi ở phòng khách, nhấm nháp tách trà. Trên tường có treo một bức ảnh đóng khung, đó là một bức chân dung chụp trong studio của bà Oliphant và chồng bà trong ngày cưới của họ, cả hai người trông đều quá mức nghiêm trang khi khoác trên mình bộ đồ cưới thịnh hành ở thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ấy. "Ảnh đẹp quá!" Ursula nói. "Mẹ có bức ảnh nào của anh Derek hồi nhỏ không ạ? Hoặc của em gái anh ấy?" Cô nói thêm, bởi nếu chỉ vì cô ấy đã chết mà loại trừ cô ấy ra khỏi lịch sử gia đình thì có vẻ không đúng đắn lắm.

"Em gái ư?" Bà Oliphant nói, cau mày. "Em gái nào?"

"Người em gái đã mất của anh ấy." Ursula nói.

"Đã mất?" Bà Oliphant có vẻ sửng sốt.

"Con gái của mẹ ấy ạ." Ursula nói. "Cô ấy đã bị ngã vào ngọn lửa trong lò sưởi." Cô nói thêm, cảm thấy mình thật ngớ ngẩn, đó đâu phải là chi tiết mà người ta có thể dễ dàng quên lãng chứ. Cô tự hỏi lẽ nào bà Oliphant bị khờ? Trông bà Oliphant có vẻ bối rối, như thể bà đang cố nhớ lại đứa con đã bị quên lãng này. "Mẹ trước giờ chỉ có mình Derek thôi." Bà kết luận chắc nịch.

"Chà, dù sao đi nữa..." Ursula nói, như thể đó là một vấn đề không quan trọng, có thể gạt đi dễ dàng. "... Mẹ phải đến thăm bọn con ở Wealdstone nhé! Bây giờ bọn con đã ổn định rồi. Mẹ biết đấy, bọn con rất biết ơn về số tiền mà bố để lại."

"Để lại? Ông ấy để lại tiền sao?"

"Một ít cổ phiếu, con nghĩ vậy, trong di chúc." Ursula nói. Có lẽ bà Oliphant không biết gì về quá trình lập di chúc của chồng mình.

"Di chúc? Ông ta chẳng để lại gì ngoài những món nợ khi ông ta ra đi. Ông ta chưa chết." Bà nói thêm như thể Ursula mới là người khờ khạo. "Ông ta đang sống ở Margate."

Ursula tự hỏi còn những lời nói dối và những lời nửa thật nửa giả nào nữa? Derek có thật sự suýt chết đuối hồi anh ta còn nhỏ không?

"Chết đuối ư?"

"Chuyện anh ấy bị ngã khỏi một con thuyền và tự bơi vào bờ ấy ạ."

"Sao con lại có ý nghĩ đó?"

"Kìa!" Derek lên tiếng ở ngưỡng cửa khiến cả hai người họ giật nẩy mình. "Hai mẹ con đang tán gẫu chuyện gì thế?"

"Em sụt cân rồi đấy." Pamela nói.

"Vâng, em cũng nghĩ vậy. Em đang chơi tennis." Điều đó khiến cuộc sống của cô nghe mới bình thường làm sao. Cô vẫn kiên quyết tham gia câu lạc bộ tennis, đó là nỗi khuây khỏa duy nhất mà cô có trong cái cuộc sống bị giam hãm ở đại lộ Masons, dù cô phải đối mặt với sự tra hỏi liên tục về vấn đề ấy. Tối nào đi làm về Derek cũng hỏi hôm nay cô có chơi tennis không, mặc dù cô chỉ chơi hai buổi chiều mỗi tuần. Cô luôn bị tra hỏi về người đánh cặp với cô, tên là Phyllis, vợ của một nha sĩ. Derek có vẻ coi thường Phyllis, cho dù anh ta chưa từng gặp cô ấy.

Pamela đã lặn lội từ tận Finchley đến thăm cô. "Rõ ràng đây là cách duy nhất để chị được gặp em. Hẳn là em thích cuộc sống hôn nhân, hoặc khu Wealdstone." Cô cười. "Mẹ nói em đã lẩn tránh mẹ." Ursula đã lẩn tránh tất cả mọi người kể từ sau đám cưới, cô từ chối những lời đề nghị "ghé qua" để uống một tách trà của Hugh, những lời gợi ý bóng gió của Sylvie rằng có lẽ cô nên mời họ đến ăn bữa trưa Chủ nhật. Jimmy đang đi học xa nhà; Teddy thì đang học năm thứ nhất ở trường Oxford nhưng cậu vẫn viết những lá thư dài dễ thương cho cô; còn Maurice, đương nhiên, không có ý định đến thăm bất cứ ai trong gia đình mình.

"Em chắc chắn mẹ cũng chẳng muốn đến đây chơi lắm. Vì đây là khu Wealdstone và những thứ tương tự. Hoàn toàn không phải gu của mẹ."

Họ đều phá lên cười. Ursula đã gần như quên mất cảm giác cười ra tiếng là như thế nào. Cô cảm thấy những giọt lệ bắt đầu dâng lên trong mắt mình và phải ngoảnh đi, giả vờ bận rộn pha trà. "Thật là tuyệt khi được gặp chị, Pammy."

"Chà, em biết là em luôn được chào đón ở Finchley bất cứ khi nào em muốn ghé qua. Em nên mắc điện thoại, như thế chúng ta có thể trò chuyện với nhau thường xuyên." Derek nghĩ điện thoại là một thứ xa xỉ phẩm đắt đỏ nhưng Ursula nghi ngờ rằng anh ta chỉ đơn giản không muốn cô nói chuyện với bất cứ ai. Cô khó có thể nói ra nghi ngờ này (cô biết nói với ai chứ - Phyllis chăng? Hay người giao sữa?) vì người ta sẽ nghĩ cô bị mất trí. Ursula đã mong ngóng chuyến viếng thăm của Pamela như người ta mong đợi những kỳ nghỉ vậy. Hôm thứ Hai, cô đã nói với Derek "Chiều thứ Tư chị Pamela sẽ đến chơi đấy" và anh ta chỉ nói "ờ". Anh ta có vẻ thờ ơ và cô nhẹ nhõm vì khuôn mặt sa sầm đã không xuất hiện.

Ngay khi họ vừa uống trà xong, Ursula đã nhanh chóng dọn bộ ấm chén đi, rửa ráy và phơi khô chúng rồi cất vào đúng chỗ.

"Trời ơi!" Pamela nói. "Em đã trở thành một bà nội trợ nhỏ nhắn gọn gàng từ khi nào vậy?"

"Nhà cửa gọn gàng sạch sẽ thì đầu óc mới thông thoáng được." Ursula nói.

"Sự gọn gàng sạch sẽ đã được đánh giá quá cao rồi." Pamela nói. "Có vấn đề gì không đấy? Trông em có vẻ cực kì ủ dột."

"Đến tháng thôi." Ursula nói.

"Ồ, của nợ ấy! Chị sẽ thoát được nó trong vài tháng. Đoán được gì không?"

"Chị sắp có em bé à? Ôi, tuyệt quá!"

"Đúng vậy. Thật là tuyệt phải không? Mẹ lại sắp có thêm cháu rồi." (Maurice đã mở màn cho việc tạo ra thế hệ kế tiếp của nhà Todd.)

"Theo chị nghĩ thì mẹ có thích điều đó không?"

"Ai biết được chứ? Dạo này mẹ khó đoán định lắm."

"Chị em đến chơi vui chứ?" Derek hỏi khi anh ta về nhà tối hôm đó.

"Vui lắm! Chị ấy sắp có em bé."

"Ồ?"

Sáng hôm sau, món trứng chần của cô không "đạt chất lượng". Ngay cả Ursula cũng phải thừa nhận rằng quả trứng mà cô chần cho bữa sáng của Derek trông thật xấu xí, nó giống như một con sứa ốm yếu đang nằm chờ chết trên lát bánh mì nướng vậy. Một nụ cười ranh mãnh hiện lên trên mặt anh ta, đó là biểu cảm đắc ý khi tìm ra lỗi của người khác. Một vẻ mặt mới. Còn tệ hơn cả vẻ mặt cũ.

"Em nghĩ anh sẽ ăn thứ đó ư?" Anh ta hỏi.

Vài câu trả lời nảy ra trong đầu Ursula nhưng cô gạt hết chúng đi vì chúng quá khiêu khích. Thay vào đó, cô nói: "Để em chần lại cho anh quả khác."

"Cô biết đây..." Anh ta nói. "Tôi phải làm công việc mà tôi chán ghét suốt cả ngày chỉ để nuôi cô. Cái đầu nhỏ bé ngu ngốc của cô chẳng phải lo lắng về bất cứ chuyện gì, đúng không? Cả ngày cô chẳng làm gì cả - ồ, không, thứ lỗi cho tôi!" Anh ta mỉa mai nói. "Tôi quên mất là cô chơi tennis. Vậy mà cô thậm chí không thể chần cho tôi một quả trứng."

Ursula không hề biết anh ta căm ghét công việc của mình. Anh ta rất hay than phiền về thái độ của đám học sinh và không ngừng kêu ca về việc hiệu trưởng không chịu ghi nhận sự nỗ lực của anh ta, nhưng cô đã không nghĩ rằng anh ta ghét việc dạy học. Trông anh ta như sắp khóc và cô đột nhiên - bất ngờ - cảm thấy thương hại anh ta và nói: "Em sẽ chần một quả trứng khác."

"Thôi khỏi." Cô tưởng quả trứng sẽ bị ném vào tường - Derek bắt đầu có thói ném thức ăn lung tung từ lúc cô tham gia câu lạc bộ tennis - nhưng thay vào đó, anh ta tát một cú trời giáng vào thái dương cô khiến cô lảo đảo va vào bếp rồi ngã xuống sàn, và cứ thế quỳ gối ở đó như thể đang cầu nguyện. Cô choáng váng vì đau hơn là vì hành động của anh ta.

Derek bước tới đứng trước mặt cô với cái đĩa đựng món trứng tội lỗi trong tay. Trong một thoáng, cô nghĩ anh ta sẽ đập nó vào đầu cô, nhưng thay vì thế, anh ta hất quả trứng vào đỉnh đầu cô. Rồi anh ta hùng hổ ra khỏi bếp. Một phút sau đó, cô nghe thấy tiếng cánh cửa trước đóng sầm lại. Quả trứng trượt khỏi tóc cô, lướt trên mặt cô rồi rơi xuống sàn, lòng đỏ vỡ tung tóe. Cô cố gắng đứng dậy và đi lấy một cái khăn.

Buổi sáng hôm đó có vẻ đã làm bùng nổ thứ gì đó trong anh ta. Cô đã phá vỡ quy tắc gì đó của anh ta mà cô không biết đến - cho quá nhiều than vào đống lửa, dùng quá nhiều giấy vệ sinh, chẳng may quên tắt một ngọn đèn. Các hóa đơn và biên lai đều bị anh ta săm soi, mỗi đồng xu cô tiêu đều phải được giải trình và cô không bao giờ có một đồng nào thừa.

Anh ta có thể quát mắng những lời nặng nề nhất chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt nhất. Một khi đã bắt đầu, dường như anh ta không thể dừng lại. Lúc nào anh ta cũng cáu giận. Lúc nào cô cũng làm anh ta cáu giận. Tối nào anh ta cũng yêu cầu cô thuật lại chính xác về những gì xảy ra trong ngày. Cô đã đổi bao nhiêu cuốn sách trong thư viện, người bán thịt đã nói gì với cô, có ai ghé qua nhà không? Cô đã bỏ chơi tennis. Việc đó dễ dàng hơn.

Anh ta không đánh cô nữa nhưng thói bạo lực vẫn liên tục âm ỉ bên trong anh ta, giống như một ngọn núi lửa ngủ im mà Ursula hiếm khi đánh thức. Anh ta luôn khiến cô trở tay không kịp, do đó cô dường như chẳng bao giờ có được khoảnh khắc nào để làm thông thoáng đầu óc mụ mị của mình. Sự tồn tại của cô có vẻ khiến anh ta khó chịu. Cô cứ phải sống cái cuộc đời liên tục bị đày đọa như thế này sao? (Tại sao lại không chứ, chẳng phải cô đáng bị như thế ư?)

Cô bắt đầu sống trong trạng thái trì trệ kỳ lạ, như thể đầu cô chứa toàn sương mù. Cô cho rằng mình tự làm thì phải tự chịu. Có lẽ đây là một dạng khác của cái amor fati mà bác sĩ Kellet từng nói. Ông sẽ nói gì về tình trạng khó khăn của cô hiện giờ? Quan trọng hơn, ông sẽ nói gì về tính cách kỳ quặc của Derek?

Cô sẽ tham gia ngày hội thể thao. Đó là một sự kiện lớn của trường Blackwood và họ hy vọng các bà vợ của các thầy giáo đều sẽ tham gia. Derek đã cho cô tiền để mua một cái mũ mới và nói: "Hãy đảm bảo rằng trông em thật thanh lịch."

Cô tới một cửa hiệu bán quần áo cho phụ nữ và trẻ em ở gần đó có tên là A La Mode* (mặc dù nó thực sự chẳng giống với tên gọi của mình chút nào). Cô mua tất dài và đồ lót ở đây. Từ khi kết hôn đến giờ cô chưa có món y phục nào mới cả. Cô chẳng bận tâm đến ngoại hình của mình đến mức phải xin tiền Derek.

Có nghĩa là hợp thời trang, hợp mốt.

Đó là một cửa hiệu trông có vẻ ảm đạm giữa một dãy những cửa hiệu ảm đạm khác - một tiệm làm tóc, một tiệm bán cá, một tiệm bán rau quả, một bưu điện. Cô không có bụng dạ nào (mà cũng không có tiền) để tới một cửa hàng bách hóa sang trọng ở London (và Derek sẽ nói gì về một chuyến đi xa như thế?). Hồi cô còn làm việc ở London trước bước ngoặt hôn nhân này, cô đã dành rất nhiều thời gian ở các cửa hàng Selfridge's và Peter Robinson's. Giờ thì những nơi đó trở nên xa xôi như ở nước ngoài vậy.

Những món đồ ở ô kính bày hàng được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời bởi một tấm màn che màu vàng cam, một loại giấy bóng kính dày gợi cô nhớ tới giấy gói của một chai Lucozade và làm mất hẳn sức hấp dẫn của tất cả mọi thứ được trưng bày trên ô kính kia.

Đây không phải là chiếc mũ đẹp nhất nhưng cô cho rằng nó khá phù hợp. Cô miễn cưỡng săm soi hình ảnh phản chiếu của mình trong cái gương ba mảnh kéo dài từ sàn đến trần nhà của cửa hàng. Với tận ba hình phản chiếu, trông cô tệ hơn gấp ba lần so với lúc cô soi gương trong phòng tắm nhà mình (chiếc gương duy nhất trong nhà mà cô không thể tránh được). Cô nghĩ cô không còn nhận ra chính mình. Cô đã đi nhầm hướng, mở nhầm cửa, và không thể tìm được đường quay trở lại.

Đột nhiên, thật khủng khiếp, cô tự làm mình hoảng hốt khi òa lên khóc, âm thanh khốn khổ bùng phát ra từ sự tuyệt vọng tột độ. Chủ cửa hàng chạy xộc vào từ đằng sau quầy thu ngân và nói: "Kìa, cô à, đừng xúc động như vậy. Cô đến tháng phải không?" Cô ta dìu cô ngồi xuống, lấy cho cô một tách trà và một chiếc bánh quy, vậy mà Ursula không thể bày tỏ lòng biết ơn đối với sự tốt bụng giản dị này.

Ngôi trường cách nhà cô một bến tàu hỏa và một chặng đi bộ ngắn dọc theo một con đường yên tĩnh. Ursula hòa vào dòng phụ huynh đang ùa qua cánh cổng của trường Blackwood. Thật thú vị - và cũng hơi đáng sợ - khi cô đột nhiên nhận ra mình đang ở giữa một đám đông. Cô mới kết hôn chưa đầy sáu tháng mà đã quên mất cảm giác ở giữa một đám đông là như thế nàoTrước đây Ursula chưa từng tới ngôi trường này vì vậy cô ngạc nhiên khi thấy những bức tường gạch đỏ nhàm chán và những luống hoa nở hằng năm tẻ nhạt của nó, khác hẳn với ngôi trường cổ kính mà cánh đàn ông nhà Todd từng theo học. Teddy rồi đến Jimmy đã theo chân Maurice vào học ở ngôi trường cũ của Hugh, một tòa nhà mỹ lệ xây bằng đá xám mềm mại và xinh đẹp như một trường con của Đại học Oxford vậy. (Nhưng theo lời Teddy thì "bên trong hoang dã lắm".) Khuôn viên trường vô cùng xinh xắn, ngay cả Sylvie cũng phải trầm trồ ngưỡng mộ sự phong phú của những loài hoa trong các luống hoa. "Khá là lãng mạn." Bà nói. Ở trường của Derek thì chẳng có nét lãng mạn nào, điểm nhấn của trường là các sân chơi thể thao. Các cậu bé ở trường Blackwood học hành chẳng ra sao, ít ra là theo lời kể của Derek, vì vậy họ phải hướng chúng vào một loạt các cuộc thi đấu bóng bầu dục và cricket bất tận. Thêm nhiều trí óc lành mạnh trong những cơ thể khỏe mạnh. Derek có trí óc lành mạnh không?

Đã quá muộn để hỏi anh ta về chuyện của em gái và cha anh ta, Ursula ngờ rằng ngọn núi lửa Krakatoa* trong anh ta sẽ phun trào. Tại sao anh ta lại bịa ra một chuyện như thế nhỉ? Hẳn là bác sĩ Kellet sẽ biết câu trả lời.

Krakatau hay Krakatoa là một đảo núi lửa thuộc vành đai lửa Thái Bình Dương, nằm trong eo biển Sunda của Indonesia, được biết đến phần nhiều vì vụ phun trào vào ngày 27 tháng 8 năm 1883, gây ra thảm họa nghiêm trọng trong lịch sử nhân loại, khởi nguồn cho vô số các tác phẩm văn học, phim ảnh, âm nhạc... thời kỳ này.

Những cái bàn bày đồ giải khát và bánh trái cho phụ huynh và giáo viên được kê ở một đầu của sân điền kinh. Trên đó có trà, sandwich và những lát bánh Dundee* đã được cắt sẵn. Ursula nán lại bên bình trà, tìm kiếm Derek. Anh ta đã nói với cô rằng anh ta sẽ không thể nói chuyện nhiều với cô vì cần phải "hỗ trợ" mọi người. Khi cô cuối cùng cũng nhìn thấy anh ta ở đầu kia của sân tập, anh ta đang sốt sắng ôm một chồng những cái vòng lớn mà Ursula chẳng biết được dùng để làm gì.

Một loại bánh bông lan có phủ hạnh nhân trên mặt.

Dường như tất cả những người đang tụ tập quanh mấy cái bàn đều quen biết nhau, đặc biệt là vợ của các thầy giáo. Ursula chợt nhận ra rằng ở trường Blackwood hẳn có rất nhiều sự kiện xã hội mà Derek chưa bao giờ nhắc đến.

Có hai giáo viên đứng tuổi mặc áo choàng trông như những con dơi đang lấy đồ ăn ở bàn trà và cô loáng thoáng nghe thấy cái tên "Oliphant". Ursula nhích lại gần họ hơn một chút, kín đáo nhất có thể, vờ như đang bị mê hoặc bởi món pa tê cua trong chiếc sandwich trên đĩa của cô.

"Tôi nghe nói cậu Oliphant lại gặp rắc rối."

"Thật sao?"

"Cậu ta đã đánh một thằng nhóc."

"Đánh chúng thì có sao chứ. Tôi vẫn đánh chúng suốt mà."

"Nhưng hình như lần này cậu ta mạnh tay lắm. Phụ huynh của thằng nhóc dọa sẽ báo cảnh sát."

"Cậu ta không bao giờ kiểm soát nổi một lớp học. Một giáo viên tồi khủng khiếp."

Đĩa của họ đã đầy bánh ngọt nên hai người đàn ông bắt đầu rời đi, Ursula tha thẩn theo sau họ.

"Anh biết gì không, những món nợ của cậu ta ngập đến tận mang tai rồi."

"Có lẽ cậu ta sẽ kiếm được ít tiền từ cuốn sách đang viết."

Họ đều cười phá lên như thể đó là một câu pha trò dí dỏm.

"Tôi đoán hôm nay vợ cậu ta cũng có mặt ở đây."

"Vậy sao? Chúng ta nên cảnh giác mới được. Tôi nghe nói đầu óc cô ta rất không bình thường." Đây dường như cũng là một lời nói đùa. Một tiếng súng đột ngột vang lên báo hiệu cuộc đua chạy vượt rào bắt đầu khiến Ursula giật nẩy mình. Cô không bám theo hai thầy giáo kia nữa. Cô đã mất hứng thú với việc nghe trộm.

Cô bắt gặp Derek đang sải bước về phía cô, những cái vòng giờ đã được thay thế bởi một bó lao kềnh càng. Anh ta hét gọi hai cậu bé tới giúp và chúng ngoan ngoãn chạy lại chỗ anh ta. Khi chúng chạy ngang qua chỗ Ursula đang đứng, một đứa cười khẩy, lẩm bẩm: "Vâng, thầy Voi, tới đây, thầy Voi." Derek thả bó lao xuống bãi cỏ khiến chúng kêu loảng xoảng và nói với mấy cậu bé: "Mang chúng tới cuối sân tập đi, nào, nhanh nhẹn lên." Anh ta bước tới chỗ Ursula và hôn nhẹ lên má cô rồi nói: "Chào em yêu." Cô không kìm được, cười phá lên. Đây là câu nói tử tế nhất mà anh ta dành cho cô suốt mấy tuần lễ nay, nhưng không phải vì cô mà vì có hai bà vợ giáo viên đang đứng gần đó.

"Có gì buồn cười sao?" Anh ta hỏi, nhìn chằm chằm vào mặt cô lâu hơn mức cần thiết. Cô có thể nhận ra anh ta đang sôi sùng sục. Cô lắc đầu thay cho câu trả lời. Cô lo rằng mình có thể sẽ gào toáng lên, cô cảm thấy ngọn núi lửa trong cô cũng đang réo ùng ục, sẵn sàng phun trào. Cô cho rằng cô đang bị kích động. Đầu óc không bình thường.

"Anh phải giám sát môn nhảy cao của đám học sinh cuối cấp." Derek nói, cau mày với cô. "Anh sẽ quay lại với em ngay thôi." Anh ta rời đi, vẫn còn cau mày, và cô lại bật cười.

"Vợ thầy Oliphant? Cô là vợ của thầy Oliphant, phải không?" Hai bà vợ giáo viên kia nhào tới chỗ cô, như những con sư tử cái cảm nhận được một con mồi bị thương.

Lúc về nhà cô cũng đi một mình vì Derek nói anh ta phải giám sát lớp học buổi tối và sẽ ăn luôn ở trường. Cô làm cho mình một bữa trà chắp vá gồm cá trích rán và món khoai tây nguội lạnh rồi đột nhiên thèm được uống một chai rượu vang đỏ ngon lành. Thực ra là thèm uống hết chai này đến chai khác cho tới khi cô say đến mức chẳng còn biết trời đất gì nữa. Cô gạt xương cá trích vào thùng rác. Kết thúc cuộc đời vào lúc nửa đêm không chút đau đớn. Bất cứ chuyện gì cũng tốt hơn là cuộc sống lố bịch này.

Derek là một trò cười đối với bọn trẻ và đồng nghiệp. Thầy Voi. Cô có thể tưởng tượng đám học sinh ương bướng này chọc cho anh ta tức điên lên như thế nào. Còn cuốn sách của anh ta, cuốn sách của anh ta thì sao?

Ursula chưa bao giờ bận tâm lắm đến nội dung "nghiên cứu" của Derek. Cô chưa bao giờ có hứng thú với vương triều Plantagenet hay vương triều Tudor. Cô được dặn dò nghiêm ngặt là không được làm xáo trộn bất cứ trang giấy hay cuốn sách nào của anh ta khi dọn dẹp lau chùi trong phòng ăn (cô vẫn coi nó là phòng ăn). Nhưng dù sao đi nữa, cô cũng chẳng quan tâm đến công trình của anh ta, cô hầu như không thèm liếc nhìn lấy một lần xem bộ sách đồ sộ ấy đã được tiến hành đến đâu.

Dạo gần đây anh ta làm việc rất miệt mài, trên mặt bàn phủ kín những tờ giấy. Chỉ toàn là những câu chữ và những ý tứ rời rạc - niềm tin khá thú vị dẫu có hơi nguyên thủy - planta genista, tên gọi của cây đậu chổi, gợi cho chúng ta cái tên Angevin - họ sinh ra từ dòng giống của quỷ nên rốt cuộc sẽ trở về với thế giới của quỷ. Chẳng có dấu hiệu nào của một bản thảo thực sự, chỉ toàn là những chỉnh sửa và tái chỉnh sửa, một đoạn văn được viết đi viết lại nhiều lần, mỗi lần lại có những thay đổi nhỏ xíu, và những trang nháp nhiều không đếm xuể được viết trong những cuốn vở bài tập có dòng kẻ với huy hiệu và khẩu hiệu (A posse ad esse - "từ khả năng đến hiện thực") của trường Blackwood ở ngoài bìa. Thảo nào anh ta không muốn cô đánh máy bản thảo giúp. Cô nhận ra mình đã cưới một gã Casaubon*.

Tên một nhân vật trong tác phẩm Middlemarch của George Eliot. Đó là một kẻ tự huyễn hoặc về bản thân mình, cho rằng bản thân mình là người tài giỏi, thông thái nhưng sự thực không phải thế.

Cả cuộc đời của Derek chỉ là một sự hư cấu. Ngay từ những lời nói đầu tiên của anh ta với cô ("Ôi trời, tội cô quá! Để tôi giúp cô") đã không thành thật. Lúc ấy anh ta muốn gì ở cô? Một người yếu ớt hơn anh ta? Hay một người vợ, một người mẹ của con anh ta, một người chăm nom ngôi nhà của anh ta, tất cả những thứ của cuộc sống thường nhật nhưng không có sự hỗn loạn ẩn tàng bên dưới? Cô đã kết hôn với anh ta để được bảo vệ an toàn khỏi sự hỗn loạn ấy. Và bây giờ cô mới hiểu được rằng anh ta kết hôn với cô cũng vì lý do tương tự. Họ là hai người duy nhất trên đời này không thể bảo vệ ai khỏi bất cứ thứ gì.

Ursula lục lọi trong những ngăn kéo của cái tủ búp phê và tìm thấy một xấp thư, lá trên cùng là bức thư của Nhà xuất bản William Collins, họ "rất tiếc" phải từ chối ý tưởng về cuốn sách của anh ta vì đã "có quá nhiều những cuốn sách giáo khoa về lịch sử". Ngoài ra còn có những lá thư tương tự từ những nhà xuất bản giáo dục khác và, tệ hơn nữa, có cả những hóa đơn chưa thanh toán và những lá thư thông báo hạn thanh toán lần chót đầy tính đe dọa. Có một lá thư đặc biệt đanh thép yêu cầu hoàn trả ngay khoản tiền mà có vẻ Derek đã vay để mua nhà. Đó là loại thư hết sức gay gắt mà cô đã từng phải đánh máy hồi còn học ở trường đào tạo thư ký, Thưa ngài, tôi đã được thông báo rằng...

Cô nghe thấy tiếng cửa trước mở ra và trái tim cô nẩy lên. Derek hiện ra ở cửa phòng ăn, giống như một kẻ xâm nhập bí ẩn trên sân khấu. "Cô đang làm gì vậy?"

Cô giơ lá thư từ Nhà xuất bản William Collins lên và nói: "Anh là đồ nói dối, hết lần này tới lần khác. Tại sao anh lại cưới tôi? Tại sao anh lại khiến cả hai chúng ta trở nên quá đỗi bất hạnh như thế?" Vẻ mặt anh ta. Vẻ mặt ấy. Cô đang xúi giục anh ta giết mình, nhưng chẳng phải như thế dễ dàng hơn là tự cô ra tay sao? Cô không quan tâm nữa, trong cô chẳng có chút ý chí chiến đấu nào.

Ursula đã lường trước cú đấm đầu tiên nhưng nó vẫn khiến cô bất ngờ, anh ta đấm thẳng vào giữa mặt cô như thể muốn hủy hoại nó.

Cô ngủ, hoặc có lẽ là bất tỉnh, trên sàn phòng bếp và thức dậy vào một thời điểm nào đó trước sáu giờ. Cô nôn nao, choáng váng và cảm thấy từng tấc trên cơ thể mình đều đau đớn và nhức mỏi, cả cơ thể cô như được làm từ chì. Cô khát nước nhưng không dám mở vòi nước vì sợ làm Derek tỉnh giấc. Cô bám vào một cái ghế rồi đến cái bàn để gượng đứng dậy. Cô tìm đôi giày của mình và rón rén đi ra hành lang để lấy áo khoác và một cái khăn trên móc treo. Cái ví của Derek nằm trong túi áo khoác của anh ta và cô rút trong đó một tờ mười si linh, thừa sức mua vé tàu và sau đó là đi tắc xi. Chỉ nghĩ đến hành trình gian nan ấy thôi là cô đã cảm thấy kiệt sức rồi - cô thậm chí còn không chắc mình có thể đi bộ đến ga Harrow & Wealdstone hay không.

Cô mặc áo khoác vào và kéo khăn che lên tận mặt, tránh nhìn vào cái gương ở tiền sảnh. Đó sẽ là một hình ảnh rất ghê rợn. Cô để cánh cửa trước mở he hé vì sợ tiếng đóng cửa sẽ đánh thức anh ta dậy. Cô nghĩ về nhân vật Nora* trong vở kịch của Ibsen đóng sầm cánh cửa lại sau lưng. Nora sẽ không có những hành động kịch tính như vậy nếu cô ấy đang cố gắng trốn thoát khỏi Derek Oliphant.

Nhân vật trong vở kịch A Doll's House của Henrik Ibsen, công diễn lần đầu năm 1879. Nora là một bà mẹ ba con và cố gắng là một bà vợ lý tưởng nhưng cuối cùng đã bỏ lại gia đình mà ra đi.

Đó là chuyến đi bộ dài nhất đời cô. Tim cô đập nhanh đến mức cô nghĩ nó có thể kiệt sức. Suốt đường đi cô cứ nơm nớp lo sợ sẽ nghe thấy tiếng bước chân anh ta chạy theo và tiếng anh ta hét gọi tên cô. Ở quầy bán vé, cô phều phào nói "Euston" qua cái miệng đầy máu và hàm răng bị gãy. Nhân viên bán vé liếc nhìn cô rồi lập tức đánh mắt đi khi anh ta thấy tình trạng của cô. Ursula cho rằng anh ta chưa có kinh nghiệm giao dịch với những hành khách nữ trông như vừa mới ẩu đả bằng tay không.

Cô phải đợi chuyến tàu đầu tiên trong ngày suốt mười phút dài đằng đẵng trong phòng chờ của nhà vệ sinh nữ, nhưng ít nhất cô có thể uống một cốc nước và lau bớt chút máu khô trên mặt.

Trên tàu, cô ngồi cúi đầu, một tay đưa lên che mặt. Những người đàn ông mặc com lê và đội mũ quả dưa cố tình phớt lờ cô. Trong lúc đợi tàu chuyển bánh, cô đánh liều liếc nhìn dọc theo sân ga và vô cùng nhẹ nhõm khi vẫn không thấy bóng dáng của Derek. Nếu may mắn, anh ta vẫn chưa nhớ ra cô và đang hít đất trên sàn phòng ngủ, cho rằng cô đang ở dưới bếp để chuẩn bị bữa sáng cho anh ta. Thứ Sáu, ngày nấu món cá trích muối hun khói. Con cá trích vẫn đang được quấn trong một tờ báo và nằm trong chạn thức ăn. Anh ta sẽ nổi cơn thịnh nộ.

Khi cô xuống tàu ở Euston, hai chân cô gần như khuỵu xuống. Mọi người đều tránh xa cô và cô lo rằng tài xế tắc xi sẽ từ chối chở mình, nhưng khi cô đưa tiền ra, anh ta đồng ý liền. Họ lặng lẽ đi qua các đường phố của London, chúng đã được tắm trong màn mưa suốt đêm qua, và bây giờ những viên đá của các tòa nhà đang lấp lánh trong những tia sáng đầu tiên của ban ngày, buổi bình minh u ám ướt át đang biến đổi sang sắc hồng và sắc xanh rạng rỡ. Cô đã quên mất mình từng thích London nhiều thế nào. Trái tim cô phấn chấn hơn. Cô đã quyết định sống tiếp và bây giờ cô khao khát được sống biết bao.

Tài xế tắc xi giúp cô xuống xe khi đã chở cô đến nơi. "Cô chắc chắn là ở đây chứ, thưa cô?" Anh ta nhìn tòa nhà gạch đỏ bề thế ở đường Melbury với ánh mắt nghi ngại và nói. Cô lặng lẽ gật đầu.

Đây là đích đến không thể tránh khỏi.

Cô nhấn chuông và cửa trước mở ra. Izzie đưa tay lên che miệng trong nỗi kinh hãi khi nhìn thấy mặt cô. "Ôi Chúa ơi. Chuyện gì xảy ra với cháu vậy?"

"Chồng cháu đã cố giết cháu."

"Cháu nên vào nhà đi." Izzie nói.

Những vết bầm rồi cũng tan, nhưng rất chậm. "Giống như những vết sẹo từ chiến tranh." Izzie nói.

Nha sĩ của Izzie đã sửa lại răng cho Ursula và tay phải của cô phải đeo băng đeo trong một thời gian. Mũi cô đã lại bị gãy còn xương gò má và hàm bị nứt. Cô đã bị sứt mẻ, không còn nguyên vẹn. Tuy vậy, cô cảm thấy mình như được thanh tẩy. Quá khứ không còn đè nặng lên hiện tại nữa. Cô gửi lời nhắn tới Góc Cáo rằng cô đã đi nghỉ hè, "một chuyến du lịch đến vùng cao cùng với Derek". Cô khá chắc chắn Derek sẽ không liên lạc với Góc Cáo. Anh ta sẽ liếm láp những vết thương của mình ở đâu đó. Có thể là Barnet. Anh ta không biết Izzie sống ở đâu, ơn Chúa.

Izzie tỏ ra thông cảm đến mức khiến Ursula cảm thấy kinh ngạc. "Cháu cứ ở bao lâu tùy ý." Bà nói. "Lâu nay cô cứ phải vò võ một mình, giờ cháu đến đây có thể giúp bầu không khí thay đổi. Và có Chúa chứng giám, cô thừa sức nuôi cháu. Cứ thong thả." Bà nói thêm. "Không việc gì phải vội. Cháu mới hai mươi ba tuổi, vì Chúa." Ursula không biết điều gì đáng ngạc nhiên hơn - lòng hiếu khách thật tình của Izzie hay việc bà biết cô bao nhiêu tuổi. Có lẽ Izzie cũng bị sự kiện Belgravia làm cho thay đổi.

Một buổi tối, Ursula đang ở nhà một mình thì Teddy xuất hiện ở ngoài cửa. "Tìm chị khó quá!" Cậu nói, ôm cô một cái thật chặt. Tim Ursula nảy lên vui sướng. Teddy luôn có vẻ chân thật hơn những người khác. Cậu có làn da nâu và vóc dáng khỏe khoắn sau cả mùa hè dài làm việc trong trang trại của Lâu đài Ettringham. Gần đây cậu đã tuyên bố rằng mình muốn làm nông dân.

"Mẹ sẽ lấy lại số tiền đã chi cho việc học hành của con." Sylvie nói - nhưng mỉm cười, bởi vì Teddy là con cưng của bà.

"Anh tin rằng đó là tiền của anh chứ." Hugh nói. (Hugh cưng ai nhất nhỉ? "Chị nghĩ là em đây." Pamela nói.)

"Mặt chị bị làm sao vậy?" Teddy hỏi cô.

"Một tai nạn nhỏ, lúc trước nó còn khủng khiếp hơn kìa." Cô cười.

"Chị không ở vùng cao." Teddy nói.

"Có vẻ là vậy, đúng không?"

"Vậy là chị đã bỏ anh ta?"

"Ừ."

"Tốt rồi." Teddy, giống như Hugh, không thích những lời kể lể dài dòng. "Bà cô phù phiếm của chúng ta đâu rồi?" Cậu hỏi.

"Đi ăn chơi phù phiếm rồi. Tới câu lạc bộ Embassy, chị nghĩ vậy." Họ uống chút sâm banh của Izzie để chúc mừng cho sự tự do của Ursula.

"Em nghĩ chị sẽ bị mẹ ghét bỏ đấy." Teddy nói.

"Đừng lo, chị tin rằng chị đã bị mẹ ghét bỏ rồi."

Họ cùng nhau làm món trứng tráng và sa lát cà chua rồi đặt đĩa lên đầu gối mà ăn trong khi nghe nhạc của Ambrose và dàn nhạc của ông trên radio. Sau khi ăn xong, Teddy châm một điếu thuốc.

"Dạo này em lớn quá rồi." Ursula cười.

"Em có cơ bắp rồi đấy." Cậu nói rồi khoe bắp tay của mình như một lực sĩ ở rạp xiếc.

Teddy đang học ngành Ngôn ngữ Anh ở trường Oxford. Cậu nói rằng thật là nhẹ nhõm khi có thời gian để ngừng suy nghĩ và "làm việc với đất đai". Cậu nói cậu cũng đang làm thơ. Về đất đai, không phải về "cảm xúc". Trái tim của Teddy đã rạn nứt sau cái chết của Nancy và cậu nói một khi thứ gì đó đã rạn vỡ, nó không bao giờ lành lặn hoàn toàn được nữa.

"Tư tưởng rất giống với Henry James, đúng không chị?" Cậu rầu rĩ nói. (Ursula thầm nghĩ về bản thân mình.)

Teddy luôn mang trong mình những vết thương, một vết sẹo ở trái tim nơi Nancy Shawcross bé nhỏ đã bị tước đi.

"Giống như là..." Cậu nói với Ursula. "... Chị bước vào một căn phòng và cuộc đời chị kết thúc nhưng chị vẫn phải sống tiếp."

"Chị nghĩ chị hiểu được điều đó. Chị thực sự hiểu." Ursula nói.

Ursula gục đầu lên vai Teddy mà ngủ. Cô vẫn vô cùng mệt mỏi. ("Giấc ngủ là liều thuốc chữa trị tuyệt vời." Izzie nói khi mang khay đồ ăn sáng đến cho cô vào mỗi sáng.)

Cuối cùng, Teddy thở dài và vươn vai, nói: "Chắc là em phải trở về Góc Cáo rồi. Em có nên kể là đã gặp chị không? Hay cứ coi như chị vẫn đang ở Brigadoon?" Cậu mang mấy cái đĩa của họ vào bếp. "Em sẽ rửa đĩa trong lúc chị suy nghĩ câu trả lời."

Khi chuông cửa kêu, Ursula cho rằng đó là Izzie. Vì bây giờ có Ursula ở cùng nên bà thường quên mang chìa khóa cửa. "Cháu lúc nào mà chả ở đây, cháu yêu." Bà đã nói khi Ursula phải bò ra khỏi giường vào lúc ba giờ sáng để mở cửa cho bà vào nhà.

Nhưng người bấm chuông không phải Izzie, mà là Derek. Cô ngạc nhiên đến nỗi không thốt nên lời. Cô đã dứt khoát rời bỏ anh ta nên đã coi như anh ta không còn tồn tại. Anh ta không thuộc về Holland Park mà thuộc về một chỗ nào đó tối tăm trong trí tưởng tượng.

Anh ta bẻ quặt tay cô ra sau và đẩy cô đi vào trong phòng khách. Anh ta liếc nhìn cái bàn uống cà phê bằng gỗ nặng nề được chạm khắc theo phong cách phương Đông. Nhìn thấy những ly sâm banh trống rỗng vẫn đang ở trên bàn và cái gạt tàn mã não to tướng đựng đầu mẩu thuốc lá của Teddy, anh ta rít lên: "Ai đang ở đây với cô vậy?" Anh ta bừng bừng phẫn nộ. "Cô đang thông dâm với kẻ nào vậy?"

"Thông dâm ư?" Ursula nói, ngạc nhiên trước lời lẽ ấy. Anh ta quá lậm ngôn từ trong Kinh thánh. Teddy trở lại phòng khách, chiếc khăn lau bát đĩa vắt hờ hững trên vai.

"Có chuyện gì vậy?" Cậu nói rồi quát lên. "Buông chị ấy ra."

"Là nó phải không?" Derek hỏi Ursula. "Đây là cái thằng dan díu cùng cô khắp London phải không?"

Không đợi câu trả lời, anh ta đã đập đầu cô vào bàn uống cà phê khiến cô ngã khuỵu xuống đất. Đầu cô đau điếng và cơn đau càng lúc càng tăng lên, như thể cô đang bị một cái kìm kẹp chặt và nó càng lúc càng siết mạnh. Derek giơ cao cái gạt tàn bằng mã não nặng nề trên bàn như thể nó là một cốc rượu lễ, chẳng buồn bận tâm đến những đầu mẩu và tàn thuốc lá rơi xuống tấm thảm như mưa rào. Ursula biết rằng bộ não cô không hoạt động bình thường, bởi vì đáng lẽ cô nên co rúm lại trong nỗi sợ hãi nhưng lúc bấy giờ đầu cô chỉ nghĩ chuyện này khá giống với sự kiện quả trứng chần lần trước và cuộc đời cô mới xuẩn ngốc làm sao. Teddy hét lên gì đó với Derek và Derek ném cái gạt tàn vào cậu thay vì đập vỡ sọ Ursula. Ursula không biết cái gạt tàn có trúng vào Teddy không bởi vì Derek đã tóm lấy tóc cô, nhấc đầu cô lên và lại đập nó vào bàn uống cà phê. Một tia chớp lóe qua trước mắt cô nhưng cơn đau bắt đầu tan biến dần.

Cô ngã phịch xuống thảm, không thể cử động. Máu ngập tràn trong mắt khiến cô hầu như không thể nhìn thấy gì. Trong lần thứ hai bị đập đầu vào bàn, cô cảm thấy có thứ gì đó trong cô đã kiệt quệ, có lẽ là bản năng sống. Từ tiếng huỳnh huỵch và làu bàu chửi rủa xung quanh mình, cô biết rằng Derek và Teddy đang đánh nhau. Ít nhất thì Teddy vẫn đang đứng chứ không phải nằm bất tỉnh, nhưng cô không muốn cậu đánh nhau, cô muốn cậu bỏ chạy để tránh bị tổn hại. Cô không sợ chết, cô thực sự không sợ, chỉ cần Teddy được an toàn. Cô cố gắng nói gì đó nhưng thứ thoát ra chỉ là những âm thanh vô nghĩa. Cô lạnh và mệt biết bao. Cô nhớ mình từng có cảm giác này lúc nằm trong bệnh viện sau vụ Belgravia. Lúc ấy Hugh đã có mặt ở đó, ông đã cầm chặt tay cô và giữ cô lại với cuộc đời này.

Ambrose vẫn đang chỉ huy dàn nhạc trên radio, Sam Browne đang hát bài The sun has got his hat on. Đó là một khúc ca tươi vui, không thích hợp để nghe lúc từ giã cõi đời. Không phải là thứ ta mong đợi.

Con dơi màu đen đang tới với cô. Cô không muốn đi. Bóng tối len lỏi vây quanh cô. Cái chết thanh thản. Lạnh quá! Cô nghĩ tối nay sẽ có tuyết dù chưa đến mùa đông. Tuyết đang rơi rồi, những bông tuyết lạnh giá tan ra trên da cô như bọt xà phòng. Ursula giơ tay về phía Teddy để cậu nắm lấy tay cô, nhưng lần này chẳng thứ gì có thể ngăn cô rơi vào màn đêm thăm thẳm.

e nói. "Cô đâu biết chăm sóc người khác, hay nấu nướng, hay đánh máy, hay làm bất cứ việc gì hữu ích." Những lời lẽ ấy được thốt ra gay gắt hơn cô nghĩ, nhưng Izzie quả thực là một kẻ gàn dở. (Bà Glover nhận xét cô ấy là "người đồng bóng".)
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.