Ursula thận trọng bước đi trên phố. Lòng đường thật nguy hiểm - gồ ghề và mấp mô bởi những kẽ nứt và lằn gợn trên mặt băng. Vỉa hè còn nguy hiểm hơn, chúng chẳng khác nào những khối tuyết xấu xí bị đông cứng lại, hoặc, tệ hơn, những đường trượt băng do bọn trẻ con trong khu tạo ra. Khi trường học đã đóng cửa, chúng chẳng có gì làm ngoài việc bày ra mấy trò chơi ấy. Ôi, Chúa ơi, Ursula nghĩ, mình đã trở nên xấu tính làm sao. Cuộc chiến quái quỷ. Thứ hòa bình quái quỷ.
Lúc cô tra chìa khóa vào ổ của cổng chính khu nhà, cô đã mệt lả. Trước đây, một chuyến đi mua sắm chưa bao giờ gian nan đến vậy, ngay cả trong những ngày tồi tệ nhất của Cuộc oanh kích Blitz*. Cơn gió căm căm quất vào mặt cô rát buốt và những ngón chân cô tê dại vì lạnh. Nhiệt độ chưa nhích nổi lên quá 0 độ trong hàng tuần lễ nay, thậm chí còn lạnh hơn cả hồi năm 1941. Ursula tưởng tượng rằng vào một ngày nào đó trong tương lai, khi cô cố gắng hồi tưởng lại đợt lạnh giá khủng khiếp này, cô sẽ chẳng thể nào hình dung ra nổi. Nó quá gắn liền với những cảm nhận của cơ thể, tưởng như xương cốt sẽ nát vụn, da dẻ sẽ nứt toác. Ngày hôm qua, cô đã nhìn thấy hai người đàn ông cố gắng mở một cái nắp cống trên đường bằng thứ dụng cụ trông như khẩu súng phun lửa. Có lẽ tuyết sẽ chẳng bao giờ tan và trời sẽ chẳng bao giờ ấm lên nổi, có lẽ đây chính là sự khởi đầu của kỷ Băng Hà mới. Hết lửa thì đến băng mà.
Là cuộc oanh kích Anh Quốc của Phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai từ 07/09/1940 tới 10/05/1941. Trong chiến dịch này, quân Đức đã thực hiện việc oanh tạc một loạt thành phố và thị trấn dọc vương quốc Anh, trong đó London bị tấn công trong 57 ngày liên tiếp khiến hơn 43.000 dân thường bị giết hại và hơn 1 triệu ngôi nhà bị phá hủy.
Cô nghĩ, chiến tranh cũng đã cướp đi gu thời trang của mình. Theo thứ tự từ trong ra ngoài, cô đang mặc một cái áo lót mình ngắn tay, một cái áo lót mình dài tay, một cái áo len chui đầu dài tay, một cái áo khoác len và ngoài cùng là cái áo khoác mùa đông cũ sờn căng ních được cô mua mới ở cửa hàng Peter Robinson chừng hai năm trước khi chiến tranh nổ ra. Đương nhiên là chưa kể bộ đồ lót xám xịt thường lệ, một cái váy vải tuýt dày dặn, đôi tất len dài màu xám, đôi găng tay thường và đôi găng tay hở ngón, khăn quàng cổ, mũ và đôi giày viền lông cũ của mẹ cô. Tội nghiệp cho kẻ nào có ý định hãm hiếp cô. "Đó là chuyện mong mãi mà chẳng được, nhỉ?" Enid Barker, một trong các thư ký, đã nói như vậy bên bình hãm trà thơm phức. Enid từng thử vai một người phụ nữ London trẻ táo bạo hồi năm 1940 và từ đó đến nay cô ấy vẫn thích thú diễn tròn vai diễn đó. Ursula tự trách mình vì lại có những ý nghĩ không tốt. Enid là người giỏi giang. Cô ấy cực kì thuần thục việc lập bảng biểu, một kỹ năng mà Ursula mãi vẫn không học nổi hồi cô còn học ở trường đào tạo thư ký. Cô đã tham gia một khóa học về đánh máy và tốc ký nhiều năm về trước - tất cả những gì xảy ra (trong cuộc đời cô) từ trước chiến tranh đều giống như đã diễn ra từ thời kỳ cổ đại. Cô đã thành thạo đến mức đáng kinh ngạc. Ông Carver, người điều hành trường đào tạo thư ký, đã khuyên cô rằng khả năng tốc ký của cô đủ tốt để có thể trở thành phóng viên tòa án ở Old Bailey*. Đó sẽ là một cuộc sống rất khác, có lẽ là tốt hơn nhiều so với cuộc sống bây giờ. Đương nhiên, chẳng có cách nào để biết được những chuyện như vậy.
Tòa án hình sự tối cao của Anh và xứ Wales, nó được gọi là Old Bailey vì tọa lạc trên con đường có tên như vậy.
Cô lê bước lên cái cầu thang tù mù để tới căn hộ của mình. Hiện giờ cô đang sống một mình. Millie đã kết hôn với một sĩ quan không lực Mỹ và chuyển tới bang New York sinh sống ("Mình - một cô dâu thời chiến - lấy chồng ngoại quốc! Ai mà ngờ được chứ?"). Vách tường hai bên cầu thang phủ một lớp mỏng bồ hóng và thứ gì đó có vẻ là dầu mỡ. Đây là một tòa nhà cũ, ngay tại Soho* (Cô "buộc phải" sống ở nơi này, như giọng điệu mẹ cô thường hay nói). Người phụ nữ sống ở tầng trên có rất nhiều vị khách đàn ông, Ursula đã quen với tiếng lò xo giường kêu cọt kẹt và những âm thanh lạ lùng vọng xuống qua trần nhà. Nhưng cô ấy rất dễ thương, luôn tươi cười chào hỏi cô và không bao giờ quên khi đến lượt mình quét dọn cầu thang.
Khu vực được coi là "khu đèn đỏ" nổi tiếng ở London thời bây giờ với nhiều nhà hát, nhà thổ và câu lạc bộ.
Ngay từ đầu, tòa nhà đã ảm đạm như những tòa nhà được mô tả trong truyện của Dickens*, thậm chí bây giờ nó còn trông nhếch nhác và hoang phế hơn. Cơ mà cả thành phố London đều mang vẻ tồi tàn như vậy. Nhem nhuốc và trì trệ. Cô nhớ bà Woolf từng nói rằng bà không nghĩ "London cổ kính đáng thương" sẽ còn lấy lại được dáng vẻ sạch sẽ. ("Tất cả mọi thứ đều xơ xác khủng khiếp.") Có lẽ bà đã đúng.
Charles Dickens (1812 -1870): nhà văn nổi tiếng người Anh. Các tác phẩm của ông chủ yếu dành cho thiếu nhi và mang tính chất hiện thực. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là Oliver Twist, David Copperfield, Chuyện hai thành phố, Ước vọng lớn lao, Bài ca mừng Giáng sinh,...
"Ai mà nghĩ chúng ta đã thắng cuộc chiến chứ." Jimmy nói khi anh đến thăm cô, bảnh chọe trong bộ quần áo kiểu Mỹ, đầy vui vẻ và lạc quan. Cô dễ dàng tha thứ cho tinh thần phơi phới kiểu Tân Thế Giới* của cậu em trai. Em cô đã phải trải qua một cuộc chiến gian khổ. Chẳng phải tất cả bọn họ đều như vậy sao? "Một cuộc chiến gian khổ dài lâu." Churchill* đã tiên báo như vậy. Ông ta đã nói đúng.
Chỉ Bắc Mỹ và Nam Mỹ theo cách gọi của người châu Âu sau khi Columbus tìm ra châu Mỹ.
Winston Churchill (1874 - 1965): Thủ tướng Anh trong thời Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
Đây chỉ là chỗ trú chân tạm thời. Cô có đủ tiền để ở một chỗ tốt hơn nhưng vấn đề là cô thực sự không bận tâm lắm. Căn hộ chỉ có duy nhất một phòng. Nó có một ô cửa sổ bên trên bồn rửa và một thùng đun nước nóng, còn nhà vệ sinh nằm ở ngoài hành lang. Ursula vẫn nhớ căn hộ cũ ở Kensington* mà cô từng ở chung với Millie. Họ đã bị ném bom trong cuộc không kích quy mô lớn hồi tháng 5 năm 1941. Ursula đã nghĩ ngay đến Bessie Smith* đang hát câu Như con cáo không có hang, nhưng rồi cô đã trở lại sống ở căn hộ không còn nóc đó trong vài tuần. Nó rất lạnh lẽo nhưng cô vốn quen với việc cắm trại nơi dã ngoại. Cô từng tham gia sinh hoạt với tổ chức Bund Deutscher Mädel*, mặc dù đây không phải là chuyện mà ta có thể đem ra kể lể lung tung trong những ngày tăm tối đó.
Khu vực nằm ở phía tây thuộc trung tâm London.
Bessie Smith (1894 - 1937): nữ ca sĩ người Mỹ, được mệnh danh là Nữ hoàng nhạc Blues, là nữ ca sĩ nhạc Blues nổi tiếng nhất trong những năm 1920 -1930.
Tạm dịch: Liên đoàn Thanh nữ Đức, một tổ chức dành cho thiếu nữ của Đức Quốc xã.
Nhưng có một bất ngờ đáng yêu đang chờ đợi cô. Một món quà từ Pammy - một thùng gỗ đựng khoai tây, tỏi tây, hành tây, một cây bắp cải xoăn Savoy khổng lồ màu xanh hơi ngả sang màu ngọc lục bảo (một vưu vật), và trên cùng là nửa tá trứng được bọc lót bằng bông thô xếp trong lòng cái mũ nỉ mềm cũ của Hugh. Những quả trứng xinh đẹp có màu nâu lốm đốm ấy quý giá như những viên đá quý chưa được gọt giũa, đôi chỗ vẫn còn vương những sợi lông vũ bé tí xíu. Trên cái nhãn dán ở ngoài thùng gỗ có ghi chữ Thương gửi từ Góc Cáo. Cứ như nhận được một thùng hàng cứu trợ của hội Chữ Thập Đỏ ấy. Làm thế nào mà nó tới được đây nhỉ? Chẳng có chuyến tàu nào chạy cả và Pamela gần như chắc chắn đã bị tuyết cầm chân. Điều càng khó hiểu hơn là làm thế nào mà chị cô thu hoạch được những loại rau củ mùa đông này khi đất đai rắn đanh như sắt?
Khi mở cửa, cô thấy một mảnh giấy ở trên sàn. Cô phải đeo kính vào để đọc. Đó là một lời nhắn từ Bea Shawcross. Em tới thăm nhưng chị không có nhà. Sẽ ghé lại sau. Bea XXX. Ursula thấy tiếc vì đã lỡ mất chuyến viếng thăm của Bea. Tiêu khiển buổi chiều thứ Bảy cùng cô ấy hẳn sẽ thú vị hơn nhiều so với việc lang thang ở khu Tây tàn tạ của thành phố. Nhìn thấy cây bắp cải khiến cô vui vẻ hẳn lên. Nhưng cây bắp cải cũng khơi gợi một ký ức không mong muốn về một "bọc vải nhỏ" trong tầng hầm ở đường Argyll - nó hiện lên một cách bất ngờ như thường lệ trong những khoảnh khắc thế này - rồi cô lại chìm vào nỗi âu sầu. Dạo gần đây, tâm trạng cô rất thất thường. Ôi trời ơi, cô tự mắng mình, phấn chấn lên đi nào, vì Chúa.
Có cảm giác như bên trong căn hộ còn lạnh lẽo hơn cả ngoài trời. Chân tay bị cước hết cả khiến cô đau đớn khủng khiếp. Ngay cả tai cô cũng cóng lạnh. Cô ước gì mình có một cái mũ len che tai hoặc mũ len trùm đầu, giống như những cái mũ len màu xám mà Teddy và Jimmy thường đội khi tới trường. Có một câu thơ trong bài Đêm trước ngày Thánh Agnes*, như thế nào ấy nhỉ? Nó nói về những hình điêu khắc bằng đá trong nhà thờ đội mũ trùm đầu và mặc áo giáp bằng băng. Mỗi lần đọc đến câu thơ ấy, cô lại thấy rét run cả người. Hồi còn đi học, Ursula đã phải học thuộc lòng toàn bộ bài thơ này, một kỳ công của trí nhớ mà có lẽ bây giờ đã nằm ngoài khả năng của cô, và, suy cho cùng, việc đó có ích gì khi mà hiện tại cô chẳng thể nhớ nổi một câu hoàn chỉnh? Cô đột nhiên mơ tưởng đến cái áo choàng lông của Sylvie mà bây giờ đã thuộc về Pamela, một cái áo choàng bằng lông chồn vizon lù xù giống như một con thú to lớn thân thiện. Sylvie đã tự sát vào ngày Chiến thắng*. Trong khi những người phụ nữ khác đang xoay xở góp thức ăn với nhau để tổ chức những bữa tiệc trà và nhảy múa trên các đường phố ở Anh thì Sylvie lại nằm trên chiếc giường của Teddy hồi nhỏ và uống một lọ thuốc ngủ. Không có lá thư tuyệt mệnh nào, nhưng ý định và động cơ của bà đã quá rõ ràng đối với cái gia đình mà bà vừa bỏ lại. Một bữa tiệc đám ma khủng khiếp đã được tổ chức ở Góc Cáo để tiễn biệt bà. Pamela nói đó là cách giải thoát hèn nhát, nhưng Ursula không đồng tình lắm. Cô nghĩ cái chết của bà có mục đích rõ ràng đến đáng phục. Sylvie là một nạn nhân nữa của chiến tranh, một số liệu thống kê nữa.
Nguyên văn: The Eve of St. Agnes, tên bài thơ của nhà thơ John Keats. Ngày Thánh Agnes là ngày 21 tháng 1.
Ngày chiến thắng (8 tháng 5 năm 1945) còn được gọi là Ngày Chiến thắng ở châu Âu (tiếng Anh là VE Day hoặc V-E Day). Đây là ngày mà quân đội các nước đồng minh chính thức chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của các lực lượng vũ trang Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
"Em biết không!" Pamela nói. "Chị thường tranh cãi với mẹ vì mẹ nói khoa học đã khiến thế giới trở nên tồi tệ hơn, người ta chỉ toàn phát minh ra những cách thức giết người mới. Nhưng bây giờ chị lại băn khoăn tự hỏi có chắc là mẹ đã nói không đúng." Đương nhiên đó là khi sự kiện Hiroshima* chưa xảy ra.
Sự kiện quân đội Mỹ thả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản vào ngày 6 tháng 8 năm 1945.
Ursula thắp lò sưởi đốt bằng khí gas, một cái lò sưởi nhỏ xíu hiệu Radiant trông như có từ hồi đầu thế kỷ, rồi nhét đồng xu vào khe nạp tiền. Nghe đồn những đồng penny và shilling* đang cạn kiệt. Ursula tự hỏi tại sao họ không nấu chảy các loại vũ khí. Như biến súng ống thành lưỡi cày, đại loại thế.
Những đồng tiền xu của Anh.
Cô dỡ cái thùng gỗ của Pammy, bày mọi thứ lên cái giá úp bát đĩa nhỏ bé bằng gỗ như thể đó là bức tranh tĩnh vật của một người đàn ông nghèo. Đám rau củ lấm lem bùn đất nhưng chẳng hy vọng gì rửa sạch được vì các ống nước đều đóng băng cả rồi, ngay cả nước trong cái bình đun nước nóng nhỏ bé hiệu Ascot cũng thế, dù sao thì áp lực gas cũng thấp đến nỗi gần như chẳng thể làm nước nóng lên được. Nước cứ như cục đá. Dưới đáy thùng gỗ, cô phát hiện một chai Whisky còn một nửa. Chị Pammy đáng mến lúc nào cũng chu đáo như vậy.
Cô múc ít nước từ cái xô đã hứng đầy ở vòi nước công cộng trên phố vào một cái nồi và đặt nồi nước lên bếp gas. Cô nghĩ là có thể luộc một quả trứng, mặc dù việc đó sẽ rất mất thời gian vì ngọn lửa xanh trên bếp chỉ cháy leo lét. Người ta vẫn cảnh báo mọi người phải cảnh giác với áp lực gas - đề phòng trường hợp khí gas rò rỉ khi ngọn lửa mồi* bị tắt.
Trong các loại bếp gas, lò sưởi bằng gas... ngày xưa, luôn có một ngọn lửa nhỏ được duy trì, nó có nhiệm vụ đốt cháy khí gas thành ngọn lửa lớn. Nếu ngọn lửa mồi này bị tắt, khí gas không bị đốt cháy sẽ rò rỉ ra ngoài, khi lượng khí gas rò rỉ quá nhiều trong phòng kín sẽ gây ngộ độc cho người nào ngửi phải, thậm chí gây chết người.
Bị ngạt hơi gas có khủng khiếp lắm không nhỉ? Ursula tự hỏi. Ngạt hơi gas. Cô nghĩ về Auschwitz*, Treblinka*. Jimmy từng là một đặc công và vào cuối cuộc chiến anh đã gia nhập trung đoàn chống tăng giải phóng Bergen-Belsen*. Theo lời anh, việc gia nhập là khá tình cờ (mặc dù mọi thứ liên quan đến Jimmy đều luôn có chút tình cờ). Ursula nằng nặc đòi anh kể cho cô nghe anh đã thấy gì ở đó. Anh kể khá miễn cưỡng và có lẽ còn giấu giếm những gì tệ nhất, nhưng cô cần được biết. Cần phải có người chứng thực. (Cô nghe thấy giọng bà Woolf vang lên trong đầu: Mai này, khi chúng ta đã an toàn, chúng ta phải nhớ tới những người đó.)
Mạng lưới trại tập trung và trại hủy diệt do Đức Quốc xã dựng lên tại vùng lãnh thổ Ba Lan bị Đức thôn tính trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
Là một trại hủy diệt do Đức Quốc xã dựng lên trên vùng lãnh thổ Ba Lan bị Đức chiếm đóng trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Vị trí của nó ở gần ngôi làng Treblinka nằm về phía đông bắc thủ đô Warsaw. Ước tính đã có khoảng từ 700.000 đến 900.000 người Do Thái cùng với 2.000 người Di gan bị hành quyết tại các phòng hơi ngạt tại đây, số lượng người Do Thái bị tiêu diệt nhiều hơn bất kỳ trại hủy diệt nào khác ngoại trừ Auschwitz.
Một trại tập trung của Đức quốc xã nằm ở miền Bắc nước Đức.
Công việc của cô trong chiến tranh là thống kê số người chết, tầng tầng lớp lớp số liệu đại diện cho những người tử vong trong các cuộc oanh tạc bày la liệt trên bàn làm việc của cô, chờ được sắp xếp và ghi chép lại. Chúng có vẻ nhiều đến mức có thể nhấn chìm cô, nhưng những số liệu lớn hơn - sáu triệu người chết, năm mươi triệu người chết, hằng hà sa số linh hồn - còn nằm ngoài sức tưởng tượng của mọi người.
Ursula đã đi lấy nước vào ngày hôm qua. Họ - "Họ" là ai? Sau sáu năm chiến tranh, tất cả mọi người đều đã quen làm theo lệnh "của họ", dân Anh đúng là đám người dễ bảo - họ đã lắp đặt một vòi nước công cộng ở phố bên cạnh, Ursula đã hứng đầy một cái ấm và một cái xô từ vòi nước đó. Người phụ nữ đứng xếp hàng trước cô trông cực kì thanh lịch khi khoác trên người chiếc áo choàng lông chồn zibelin màu xám bạc dài chấm đất đáng ghen tỵ, vậy mà cô ấy phải đứng ở đó, kiên nhẫn chờ đợi trong cái lạnh cắt da cắt thịt với những cái xô của mình. Cô ấy trông có vẻ lạc lõng ở khu Soho này, nhưng ai mà biết câu chuyện cuộc đời của cô ấy ra sao chứ?
Những người phụ nữ bên giếng nước. Ursula láng máng nhớ rằng Chúa Jesus từng có một cuộc đối thoại đặc biệt với người phụ nữ ở bên giếng nước*. Người phụ nữ Samaria* - đương nhiên là vô danh. Ursula nhớ bà ta có năm người chồng và đang sống với một người đàn ông không phải là chồng mình, nhưng bản Kinh thánh của Vua James* không hề nhắc đến chuyện gì đã xảy ra với năm ông chồng kia. Có lẽ bà ta đã bỏ thuốc độc vào trong giếng.
Là một câu chuyện được thuật lại qua Phúc âm John 4:4-26.
Là một thành phố cổ đại ở vùng đất Israel.
Bản dịch của Kinh thánh do Vua James khởi xướng, bắt đầu dịch từ năm 1604 và hoàn thành vào năm 1611. Đây là một trong những bản dịch lâu đời nhất của Kinh thánh và ngày nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi.
Ursula nhớ Bridget từng kể với họ rằng hồi cô ấy còn nhỏ và còn đang sống ở Ireland, ngày nào cô ấy cũng phải đi bộ tới một cái giếng đế lấy nước. Đất nước tiến bộ này giờ đã quay về thời đó rồi! Nền văn minh lật mặt trái mới nhanh làm sao! Hãy nhìn người Đức xem, những con người có văn hóa và lịch sự nhất, vậy mà... Auschwitz, Treblinka, Bergen-Belsen. Nếu bị đặt trong hoàn cảnh giống như họ, người Anh cũng có thể như vậy lắm chứ, nhưng đây cũng là một điều mà ta không thể nói ra miệng. Bà Woolf đã tin như vậy, bà đã nói...
"Này chị!" Người phụ nữ mặc áo lông chồn cất tiếng, cắt ngang dòng suy nghĩ của cô. "Chị có biết tại sao nước trong nhà tôi bị đông cứng còn nước ở đây lại không bị không?" Cô ta có giọng nói của tầng lớp thượng lưu.
"Tôi không biết." Ursula nói. "Tôi chẳng biết gì cả."
Người phụ nữ kia cười nói: "Ồ, tôi cũng có cảm giác giống chị đấy, tin tôi đi." Ursula nghĩ có lẽ đây là người mà cô sẽ muốn làm bạn cùng, nhưng một người phụ nữ đằng sau họ giục: "Tiến lên đi, mấy cưng." Người phụ nữ mặc áo lông chồn liền nhấc những cái xô của mình lên, dáng vẻ khỏe khoắn như một cô nông dân thuộc tổ chức Lực lượng Phụ nữ Hậu Phương, rồi nói: "Chà, đến lượt tôi rồi, chào chị nhé!"
❄
Cô mở radio lên. Kênh Ba đã tạm ngừng phát sóng trong thời gian này. Trong cuộc chiến với thời tiết. Bắt được kênh Home hay kênh Light* đã là may mắn lắm rồi, nhiều nơi còn bị cúp điện nữa kìa. Cô cần tiếng động, cần âm thanh của cuộc sống quen thuộc. Jimmy đã cho cô chiếc máy hát cũ của anh trước khi anh đi. Đáng buồn là chiếc máy hát và hầu hết những chiếc đĩa hát của cô đều đã bị mất hồi ở Kensington. May mà cô còn vớt vát được một cặp đĩa không bị vỡ (kỳ diệu làm sao) và giờ đang đặt một cái lên máy hát. "Thà tôi chết và bị chôn dưới mộ*." Ursula cười. "Có vui không nhỉ?" Cô nói to. Cô lắng nghe âm thanh lạo xạo phát ra từ cái đĩa cũ. Tâm trạng cô có giống như vậy không?
Kênh Ba, kênh Home và kênh Light là tên ba kênh phát thanh của đài BBC thời bấy giờ.
Nguyên văn: I'd Rather Be Dead And Buried In My Grave, tên một ca khúc của nữ ca sĩ da màu Bessie Smith.
Cô liếc nhìn đồng hồ, cái đồng hồ quả lắc cầm tay nhỏ bé bằng vàng của Sylvie. Cô đã mang nó về nhà sau đám tang của bà. Mới bốn giờ. Chúa ơi, ngày nào cũng dài lê thê. Cô nghe thấy tiếng píp píp báo giờ trên radio và tắt chương trình tin tức đi. Có ý nghĩa gì chứ?
Cả chiều nay cô đã lang thang trên phố Oxford và phố Regent để giải khuây - để có cớ thoát ra khỏi căn hộ một phòng giống như căn buồng của một nữ tu này. Tất cả các cửa hàng đều lờ mờ, ảm đạm. Ở Swan & Edgar's thì người ta thắp đèn dầu hỏa, còn ở Selfridge's thì thắp nến - bên trong toàn những khuôn mặt rầu rĩ, tối tăm giống như các nhân vật trong một bức họa của Goya*. Chẳng có gì để mua, hay đúng hơn là chẳng có thứ gì mà cô muốn mua cả, còn bất cứ thứ gì cô mong muốn, chẳng hạn như một đôi giày cổ lông đáng yêu trông có vẻ ấm áp thì lại đắt khủng khiếp (mười lăm guinea*!). Thật là ngán ngẩm. "Còn tệ hơn cả hồi chiến tranh nữa." Cô nàng Fawcett ở chỗ làm đã nói như vậy. Cô ấy sắp nghỉ việc để lấy chồng, họ đã chung tiền với nhau để mua quà cưới cho cô ấy, một cái lọ hoa khá bình thường, nhưng Ursula muốn tặng riêng cô ấy thứ gì đó đặc biệt hơn, có điều cô không thể nghĩ ra thứ gì nên đã hy vọng các cửa hàng bách hóa ở khu Tây có thể có thứ cô cần. Nhưng hóa ra chúng cũng chẳng có.
Francisco de Goya (1746 -1828): là một họa sĩ thuộc trường phái Lãng mạn người Tây Ban Nha.
Một đồng tiền vàng của Anh.
Cô đã vào một nhà hàng thuộc chuỗi Lyon's để uống một tách trà, nó nhạt như nước cho cừu uống, theo cách nói của Bridget, và ăn một cái bánh dở tệ. Cô đếm được đúng hai quả nho khô cứng ngắc và một lớp bơ thực vật mỏng dính, cố gắng tưởng tượng mình đang ăn một thứ gì đó tuyệt hảo - một chiếc Cremeschnitte* thơm ngon hoặc một miếng Dobostorte*. Cô cho rằng vào lúc này người Đức cũng chẳng được thưởng thức nhiều loại bánh trái gì.
Một loại bánh nhân kem vani và sữa trứng phổ biến ở một số nước Trung Âu.
Một loại bánh ga tô của Hungary, với nhiều lớp kem bơ sô cô la, trên cùng phủ caramel.
Cô buột miệng thốt ra từ Schwarzwälder Kirschtorte (một cái tên lạ thường, một cái bánh lạ thường) và thu hút sự chú ý không mong muốn của người phụ nữ đang lặng lẽ ăn một chiếc bánh mì phủ kem to tướng ở bàn bên cạnh. "Người tị nạn à cưng?" Cô ta hỏi với giọng đầy vẻ thông cảm khiến Ursula ngạc nhiên.
"Đại loại thế." Ursula nói.
❄
Trong lúc đợi trứng chín - nước vẫn chỉ âm ấm - cô lục những quyển sách chưa từng được dỡ ra khỏi thùng giấy sau khi rời khỏi Kensington. Cô tìm thấy cuốn sách của Dante* mà Izzie đã cho cô - nó được bọc bìa da màu đỏ dập nổi rất đẹp, nhưng các trang bên trong đều đã bị ố; một quyển sách của Donne* (cuốn sách mà cô yêu thích); cuốn Đất hoang* (một bản in đầu hiếm hoi mà cô lấy trộm của Izzie); một cuốn Tuyển tập Shakespeare, những bài thơ siêu hình yêu thích của cô và, cuối cùng, ở đáy thùng giấy, là quyển thơ tả tơi của Keats mà cô có từ hồi còn đi học với lời đề tặng: Tặng Ursula Todd, vì thành tích tốt. Cô cho rằng lời đề tặng này cũng có thể được dùng để làm văn bia. Cô lật giở các trang giấy cũ mèm cho đến khi tìm thấy bài Đêm trước ngày Thánh Agnes.
Dante (1265 -1321): là một nhà thơ lớn, nhà thần học người Ý, tác giả của hai kiệt tác La Divina Commedia (Thần khúc) và La Vita Nuova (Cuộc đời mới).
John Donne (1572 - 1631): nhà thơ Anh theo trường phái siêu hình, tác giả của thơ sonnet, thơ tình, bi ca và những lời thuyết giáo nổi tiếng, là một trong những nhà thơ lớn của Anh thế kỷ XVII.
Nguyên văn: The Waste Land, là một bản trường thi hiện đại của nhà thơ Mỹ, T. S. Eliot, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1948.
Ôi, trời rét căm căm!
Cú nhiều lông vẫn cóng;
Chân thỏ run lập cập
Trên bãi cỏ giá băng;
Cừu lặng lẽ im lìm
Trong lớp len bao phủ.
Cô đọc to những câu thơ ấy và chúng khiến cô run rẩy. Cô nên đọc thứ gì đó ấm áp, Keats và những con ong của ông - Mùa hè khiến các tổ ong tràn trề mật ngọt*.Đáng lẽ Keats nên chết trên đất Anh. Ngủ trong một khu vườn ở Anh vào một buổi chiều hè. Giống như Hugh.
Trích trong bài thơ To Autumn của John Keats.
Cô ăn trứng trong lúc đọc tờ Times số ra ngày hôm qua, ông Hobbs ở phòng thư tín đã đưa tờ báo cho cô sau khi ông đọc xong, một thủ tục thường nhật nho nhỏ mà họ tự quy ước với nhau. Khổ của tờ báo mới bị co lại khiến nó có vẻ kỳ cục, như thể những tin tức trên báo không còn quan trọng như trước. Mà đúng là nó không còn quan trọng nữa, nhỉ?
❄
Những bông tuyết đang rơi ngoài cửa sổ như những tàn tro xám xịt. Cô nghĩ về những người thân của gia đình Cole ở Ba Lan - tàn tro của họ bay lên phía trên trại Auschwitz* giống như một đám mây khói bụi bốc lên từ miệng núi lửa, vây quanh trái đất và che khuất mặt trời. Ngay cả bây giờ, sau tất cả những gì mà người ta biết được về các trại tập trung và các trại hành quyết, hay những nơi giống như thế, tư tưởng bài Do Thái vẫn còn rất phổ biến. "Thằng Do Thái", hôm qua cô đã nghe thấy có người bị gọi như vậy, hay khi cô nàng Andrews thoái thác việc góp tiền mua quà cưới cho Fawcett, Enid Barker đã chế nhạo "Đúng là đồ Do Thái", như thể đó là câu xúc phạm nhẹ nhàng nhất.
Chỉ việc những người Do Thái bị sát hại ở trại Auschwitz và xác họ bị đưa vào các lò thiêu.
Dạo gần đây, văn phòng là một nơi tẻ ngắt, dễ khiến người ta cáu kỉnh - có lẽ họ mệt mỏi vì lạnh và thiếu thốn các loại thức ăn ngon lành, nhiều chất dinh dưỡng. Công việc này cũng nhàm chán nữa, hàng núi số liệu thống kê cần được ghi chép, phân loại, sắp xếp để được chuyển đến những nơi lưu trữ ở đâu đó - chắc là để cho các sử gia tương lai nghiền ngẫm, nghiên cứu, cô đoán vậy. Họ vẫn đang "thu dọn và sắp xếp", theo cách nói của Maurice, như thể những thương vong trong chiến tranh là đống đồ bừa bộn cần cất đi và quên lãng. Lực lượng Dân quân đã bị giải thể hơn một năm rưỡi nay nhưng cô vẫn chưa thoát khỏi công việc hành chính tẩn mẩn này. Những cái cối xay của Chúa* (hay của chính phủ) đúng là xay rất chậm và tỉ mỉ.
Trong tiếng Anh có một thành ngữ là: Mills of God grind slowly, yet they grind exceeding small, nghĩa đen là "Những cái cối xay của Chúa xay rất chậm nhưng chúng xay rất kĩ", nghĩa bóng hiểu nôm na là quả báo sẽ đến với những người gây ra tội lỗi dù có thể sẽ đến rất muộn.
❄
Quả trứng thật tươi ngon, như thể nó vừa được đẻ ra sáng nay. Cô tìm thấy một tấm bưu thiếp cũ in hình cung điện Brighton* (được mua trong một chuyến đi chơi trong ngày với Crighton) mà cô chưa bao giờ gửi đi đâu, và viết nguệch ngoạc lời cảm ơn Pammy vào mặt sau của nó - Tuyệt quá! Cứ như thùng hàng cứu trợ của hội Chữ Thập Đỏ vậy - rồi dựng nó lên bên cạnh chiếc đồng hồ của Sylvie trên mặt lò sưởi. Bên cạnh tấm ảnh của Teddy nữa. Teddy và các đồng đội trên chiếc máy bay Halifax* của anh đã chụp bức ảnh ấy vào một buổi chiều chan hòa ánh nắng. Họ đang ngồi ngả ngớn trên những chiếc ghế cũ. Vĩnh viễn tươi trẻ. Con chó tên Lucky đứng hiên ngang trên đầu gối Teddy như bức tượng nhỏ gắn ở đầu mũi tàu. Giá mà vẫn còn Lucky thì vui biết bao. Tấm huân chương DFC* của Teddy được dựng trên mặt kính của khung ảnh. Ursula cũng có một tấm huân chương nhưng nó chẳng có ý nghĩa gì với cô cả.
Cung điện hoàng gia cũ tọa lạc ở Brighton, Anh.
Distinguished Flying Cross: Huân chương chữ thập cao quý vì thành tích đặc biệt khi phục vụ trong Không quân của Hoàng gia Anh.
Handley Page Halifax: một loại máy bay ném bom hạng nặng của không quân Hoàng gia Anh trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
Cô sẽ gửi tấm bưu thiếp vào chiều mai. Chắc phải rất lâu nó mới tới được Góc Cáo, cô nghĩ.
Năm giờ. Cô mang cái đĩa tới bồn rửa, bỏ chung với những cái đĩa chưa rửa khác. Những bông tuyết xám xịt như tàn tro giờ đã dày lên thành một trận bão tuyết trên bầu trời u ám. Cô kéo tấm rèm cotton mỏng manh, cố gắng che khuất cảnh tượng ấy. Tấm rèm bị kẹt, kéo mãi cũng chẳng nhúc nhích, cô đành bỏ cuộc vì sợ lỡ tay giật đứt nó. Khung cửa sổ đã cũ và lỏng lẻo nên gió lùa vào lạnh buốt.
Điện bị cắt và cô mò mẫm tìm nến trên mặt lò sưởi. Còn có thể tồi tệ hơn nữa không? Ursula mang cây nến và chai whisky tới giường, vẫn mặc nguyên áo khoác mà chui vào dưới những tấm chăn. Cô mệt mỏi quá!
Ngọn lửa trên cái lò sưởi nhỏ hiệu Radiant chập chờn chực tắt. Liệu có khủng khiếp lắm không nhỉ? Kết thúc cuộc đời vào lúc nửa đêm không chút đau đớn*. Có những cách còn tồi tệ hơn. Auschwitz, Treblinka. Chiếc Halifax của Teddy đã rơi xuống, toàn thân bao trùm trong lửa. Cách duy nhất để ngăn những giọt nước mắt là uống whisky liên tục. Chị Pammy đáng mến. Ngọn lửa trên cái lò sưởi Radiant lập lòe và tắt ngúm. Ngọn lửa mồi cũng vậy. Cô tự hỏi khi nào thì có gas trở lại. Nếu mùi gas đánh thức cô, liệu cô có dậy và thắp lại lò sưởi không? Cô không mong mình chết như một con cáo bị đông cứng trong hang. Pammy sẽ nhìn thấy tấm bưu thiếp và biết rằng cô cảm kích chị ấy. Ursula nhắm mắt. Cô có cảm giác mình đã thức cả trăm năm. Cô thực sự vô cùng mệt mỏi.
Một câu thơ trong bài Ode to a Nightingale của John Keats.
Bóng tối bắt đầu phủ xuống.