Họ đã sống hàng tháng trời trong tầng hầm giống như lũ chuột. Khi quân Anh giội bom vào ban ngày và quân Mỹ giội bom vào ban đêm thì cũng chẳng còn lựa chọn nào khác. Tầng hầm bên dưới tòa chung cư ở Savignyplatz ẩm ướt và nhớp nhúa, có một ngọn đèn dầu hỏa nhỏ để thắp sáng và một cái xô để đi vệ sinh, tuy nhiên tầng hầm này còn tốt hơn những hầm trú ẩn trong thị trấn. Cô và Frieda từng gặp phải một cuộc không kích vào ban ngày ở gần sở thú và đã trú ẩn trong tòa tháp hỏa lực phòng không được dựng lên ở đó - hàng nghìn người chen chúc trong đó, lượng ôxy được đo bởi một ngọn nến (như thể họ là những con chim hoàng yến). Ai đó nói với cô rằng nếu ngọn nến tắt, tất cả mọi người đều phải ra ngoài trời cho dù cuộc không kích đang diễn ra. Hai mẹ con cô bị ép sát vào tường, gần chỗ họ đứng có một người đàn ông và một người phụ nữ đang ôm nhau (đó chỉ là cách nói lịch sự cho những gì họ đang làm). Rồi khi hai mẹ con rời đi, họ phải bước qua xác một cụ già đã chết trong cuộc không kích. Điều tệ nhất, thậm chí còn tệ hơn chuyện này, đó là thành lũy bằng bê tông khổng lồ này không chỉ là chỗ trú ẩn, nó còn là một khẩu đội pháo phòng không đồ sộ, những khẩu pháo to nặng liên tục bắn uỳnh uỳnh trên mái suốt thời gian họ ở đó, khiến căn hầm trú ẩn rung lên từng hồi theo từng cú dội. Cảm giác như đang ở dưới địa ngục vậy.
Một cú nổ lớn làm rung chuyển cả tòa tháp, một quả bom rơi xuống ngay gần sở thú. Cô cảm thấy sức ép của vụ nổ tràn đến như một cơn sóng, hút lấy và xô đẩy cơ thể cô, và cô sợ rằng hai lá phổi của Frieda có thể nổ tung. Thế rồi sức ép ấy cũng tan đi. Vài người bắt đầu nôn mửa, mặc dù rủi thay, chẳng có chỗ nào để nôn mửa ngoài chính đôi chân của mình, hoặc có lẽ tệ hơn, chân của người khác. Ursula thề rằng cô sẽ không bao giờ chui vào một tòa tháp hỏa lực phòng không một lần nào nữa. Cô thà chết thật nhanh ở ngoài đường cùng với Frieda còn hơn. Đó là điều mà dạo gần đây cô rất hay nghĩ đến. Một cái chết nhanh gọn, với Frieda được bao bọc trong vòng tay của cô.
Có lẽ Teddy đang ở trên kia và thả bom xuống bọn họ. Cô hy vọng như vậy, vì như thế có nghĩa là em trai cô vẫn còn sống. Có lần, có người gõ cửa nhà cô - hồi họ vẫn còn có một cánh cửa, trước khi quân Anh bắt đầu những cuộc ném bom không ngừng nghỉ vào tháng 11 năm 1943. Khi Ursula mở cửa, cô thấy một cậu thiếu niên gầy gò chừng mười lăm, mười sáu tuổi đứng đó. Cậu ta có vẻ nóng ruột và Ursula tự hỏi phải chăng cậu ta đang tìm chỗ trú ẩn, nhưng cậu ta chỉ nhét một lá thư vào tay cô rồi chạy đi trước khi cô kịp nói lời nào.
Chiếc phong bì nhăn nhúm và bẩn thỉu. Tên và địa chỉ của cô được viết trên đó, và cô bật khóc khi nhìn thấy chữ viết tay của Pamela. Những tờ giấy màu xanh lam mỏng manh đề ngày tháng từ vài tuần trước, miêu tả chi tiết tất cả những sự kiện xảy ra trong gia đình cô - Jimmy đã nhập ngũ, Sylvie "chiến đấu quả cảm" ở hậu phương ("một vũ khí mới - đàn gà!"). Pamela vẫn khỏe và đang sống ở Góc Cáo, cô nói giờ cô đã có bốn đứa con trai. Teddy thì đang ở trong RAF - Không lực Hoàng gia Anh, anh đã là thiếu tá với một tấm huân chương DFC. Quả là một bức thư dài tuyệt vời cho đến khi cô đọc đến đoạn cuối, gần như là tái bút. "Chị để dành tin buồn đến phút chót." Hugh đã mất "Vào mùa thu năm 1940, ông ra đi trong yên bình vì một cơn đau tim." Ursula ước gì mình không nhận được lá thư này, cô ước gì mình có thể nghĩ rằng Hugh vẫn còn sống, còn Teddy và Jimmy vẫn là những thường dân sống ngoài lề cuộc chiến trong một mỏ than hay một đội dân quân tự vệ.
"Chị thường nghĩ về em." Pamela nói. Không có lời trách móc nào kiểu như "Chị đã bảo em rồi mà" hay "Tại sao em không về nhà khi còn có thể?". Cô đã cố gắng trở về nhưng dĩ nhiên khi đó đã quá muộn. Ngay sau ngày Đức tuyên chiến với Ba Lan, cô đã đi khắp thành phố, làm những việc mà cô nghĩ là mình phải làm khi chiến tranh sắp xảy ra. Cô tích trữ pin, đèn pin và nến, cô mua thức ăn đóng hộp và vải đen để che cửa kính, cô mua quần áo cho Frieda ở cửa hàng bách hóa Wertheim - lựa chọn những bộ quần áo to hơn một, hai số phòng khi cuộc chiến kéo dài. Cô chẳng mua gì cho mình, lờ đi tất cả những chiếc áo khoác ấm áp, giày, tất và những bộ váy trang nhã. Đến bấy giờ cô mới chua chát nuối tiếc về chuyện đó.
Cô nghe Chamberlain phát biểu những lời đáng buồn trên đài BBC: Bây giờ chúng ta đang chiến tranh với nước Đức và cảm thấy tê liệt rã rời suốt mấy tiếng đồng hồ. Cô cố gắng gọi điện cho Pamela nhưng mọi đường dây đều bận. Gần đến tối (Jürgen làm việc ở bộ cả ngày), cô đột nhiên bừng tỉnh, nàng Bạch Tuyết đã thức dậy. Cô phải rời đi, cô phải trở lại nước Anh, dù có hộ chiếu hay không. Cô vội vã gói ghém hành lý và kéo Frieda lên xe điện để tới nhà ga. Nếu cô có thể lên được một chuyến tàu, có lẽ mọi chuyện sẽ ổn. Nhưng chẳng có chuyến tàu nào cả, một nhân viên ở nhà ga đã nói với cô như vậy. Các biên giới đều đã bị đóng lại. "Chiến tranh đang diễn ra, cô không biết sao?" Ông ta nói.
Cô lôi xềnh xệch Frieda tội nghiệp chạy tới Đại sứ quán Anh ở đường Wilhelmstrasse. Mẹ con cô là công dân Đức nhưng cô sẽ van vỉ người của đại sứ quán rủ lòng thương. Chắc chắn họ sẽ có thể làm gì đó, dù gì cô vẫn là người Anh. Lúc đó trời đã sẩm tối, cổng đại sứ quán đã khóa và bên trong không có ánh đèn nào. "Họ đi rồi." Một người qua đường nói với cô. "Cô đã chậm chân."
"Đi rồi ư?"
"Trở về nước Anh."
Cô phải đưa tay lên bịt miệng để ngăn tiếng gào khóc đang dâng lên từ sâu thẳm trong lòng mình. Sao cô có thể ngốc nghếch đến thế? Sao cô không thấy trước được chuyện gì sắp xảy ra? Một kẻ khờ chỉ nhận thức được nguy hiểm khi nó đã trôi qua. Lại là một câu nói của Elizabeth I.
❄
Cô khóc lên khóc xuống suốt hai ngày sau khi nhận được lá thư của Pamela. Jürgen tỏ vẻ cảm thông, anh mang ít cà phê xịn về nhà cho cô và cô cũng không buồn hỏi anh kiếm được chúng từ đâu. Một tách cà phê ngon (dù tuyệt vời đến mức nào) cũng khó có thể xoa dịu nỗi thương tiếc của cô dành cho cha mình, cho Frieda, cho chính bản thân cô. Cho tất cả mọi người. Jürgen chết trong một cuộc không kích của Mỹ vào năm 1944. Ursula cảm thấy xấu hổ khi thấy mình có cảm giác nhẹ nhõm lúc nghe được tin ấy, đặc biệt là khi Frieda quá đỗi đau buồn. Con bé yêu bố mình và anh cũng yêu nó, đó là điểm sáng duy nhất trong cuộc hôn nhân đáng tiếc của họ.
Frieda đang bị bệnh. Con bé có vẻ hốc hác và ốm yếu xanh xao giống như hầu hết những người mà họ thấy trên các đường phố dạo gần đây, nhưng hai lá phổi của con bé đầy đàm nhớt, và con bé có những cơn ho khủng khiếp dường như không bao giờ kết thúc. Khi Ursula áp tai vào lồng ngực con bé, cô có cảm giác như mình đang nghe thấy một chiếc thuyền buồm lớn kẽo kẹt nhấp nhô băng qua những cơn sóng biển. Giá mà cô có thể đặt nó ngồi bên một ngọn lửa lớn ấm áp, cho nó uống một tách ca cao nóng hổi và ăn món canh bò hầm, bánh hấp và cà rốt. Cô tự hỏi ở trên Berg họ có còn được ăn uống ngon lành không? Liệu có còn ai ở trên đó không?
❄
Phía trên đầu họ, tòa chung cư vẫn đứng sừng sững mặc dù phần lớn bức tường ở mặt tiền đã bị bom thổi bay đi. Họ vẫn thường đi lên đó để lục tìm những gì hữu ích. Nó đã thoát được nạn cướp bóc bởi cầu thang chất đầy gạch vụn, gần như không thể leo lên nổi. Cô và Frieda phải buộc những miếng giẻ vào đầu gối để làm đệm lót, đeo đôi găng tay bằng da dày của Jürgen, rồi trèo qua những hòn đá và gạch vụn giống như những con khỉ lạc bầy.
Thứ duy nhất không có trong căn hộ cũng là thứ duy nhất họ quan tâm - thức ăn. Ngày hôm qua, họ đã đứng xếp hàng suốt ba tiếng đồng hồ chỉ để lấy một ổ bánh mì. Khi ăn chiếc bánh ấy, họ cảm thấy dường như nó không được làm từ bột thật, mặc dù cũng khó mà đoán được thành phần của nó có những gì - bụi xi măng và vữa chăng? Nó có vị hệt như xi măng và vữa vậy. Ursula nhớ đến tiệm bánh Rogerson ở làng cô, mùi bánh mì nướng thơm phức thường lan ra khắp phố, còn ô cửa sổ của tiệm bánh bày đầy những ổ bánh màu trắng xinh xắn, mềm mại được quết một lớp phủ màu đồng dấp dính. Cô cũng nhớ đến căn bếp ở Góc Cáo vào những ngày bà Glover nướng bánh - với những ổ bánh màu nâu "lành mạnh" mập mạp mà Sylvie yêu cầu, ngoài ra còn có cả bánh bông lan, bánh tạc và bánh sữa nhỏ. Cô tưởng tượng mình đang ăn một miếng bánh mì nâu ấm áp phết đầy bơ và mứt làm từ quả mâm xôi và lý chua ở Góc Cáo. (Cô suốt ngày tự hành hạ mình bằng những ký ức về thức ăn.) Sẽ không còn sữa để uống nữa, một người đứng cùng hàng đợi bánh mì nói với cô.
Sáng nay, cô gái trẻ Farber và người chị gái đã lấy chồng của cô ấy, là cô Meyer, đã cho Ursula hai củ khoai tây và cho Frieda một mẩu xúc xích chín, Aus Anstand, họ nói. Hai chị em họ vốn sống cùng nhau ở tầng áp mái nhưng bây giờ họ hiếm khi rời khỏi tầng hầm. Ông Richter, cũng là một cư dân ở tầng hầm, nói với Ursula rằng hai chị em cô ấy đã quyết định ngừng ăn. (Một việc quá dễ dàng khi chẳng có gì để ăn, Ursula nghĩ.) Ông ta nói họ đã chịu hết nổi. Họ không thể đối mặt với những gì sẽ xảy ra khi quân Nga tràn tới đây.
Họ nghe đồn rằng ở miền Đông, người ta đã khổ đến mức phải ăn cỏ. Những người ấy thật may mắn, Ursula nghĩ, ở Berlin còn chẳng có cỏ mà ăn, chỉ còn những bộ khung đen sì của một thành phố kiêu hãnh và xinh đẹp. London có giống thế này không? Có vẻ không, nhưng cũng có vẻ có. Speer đã có những tàn tích tráng lệ sớm hẳn một nghìn năm.
Chiếc bánh mì không thể ăn nổi của ngày hôm qua và hai củ khoai tây nửa sống nửa chín của ngày hôm kia là tất cả những gì Ursula có trong dạ dày của mình. Tất cả những thứ khác - mặc dù rất ít ỏi - cô đã dành cả cho Frieda. Nhưng nếu Ursula chết thì Frieda phải làm thế nào? Cô không thể bỏ mặc con bé một mình trong cái thế giới khủng khiếp này.
Sau khi quân Anh ném bom sở thú, hai mẹ con họ đã tới đó để xem liệu có còn con thú nào có thể ăn được không, nhưng quá nhiều người đã tới đó trước họ. (Chuyện này có thể xảy ra ở quê nhà không? Những người London có đào bới trong sở thú ở công viên Regent không? Tại sao lại không chứ?)
Thi thoảng, họ vẫn nhìn thấy một con chim rõ ràng không phải là loài chim bản địa ở Berlin đã sống sót bất chấp đạn bom. Có lần còn có cả một sinh vật ghẻ lở, gớm ghiếc mà họ nghĩ là một con chó, nhưng rồi nhận ra là một con sói. Frieda cứ nằng nặc đòi mang nó xuống hầm với họ và nuôi nó. Ursula không thể tưởng tượng nổi bà hàng xóm Jaeger sẽ phản ứng thế nào với chuyện đó.
Căn hộ của họ giống như một ngôi nhà búp bê, mở toang hoác trước con mắt của cả thế gian, tất cả những gì riêng tư của cuộc sống gia đình đều bị phơi bày - giường, sofa, tranh treo tường, thậm chí có cả một, hai món đồ trang trí đã thoát nạn kỳ diệu sau vụ nổ. Họ đã lấy đi bất cứ thứ gì thực sự hữu ích nhưng vẫn còn vài bộ quần áo và mấy cuốn sách. Mới hôm qua thôi, cô đã tìm thấy một lô nến dự trữ bên dưới một đống bát đĩa vỡ. Ursula đang hy vọng có thể đổi chúng để lấy thuốc cho Frieda. Trong buồng tắm vẫn còn bồn cầu và thi thoảng, chẳng hiểu tại sao, vẫn có nước. Một trong hai người sẽ đứng che một tấm ga giường cũ để bảo vệ sự riêng tư của người kia. Sự riêng tư của họ có còn quan trọng đến thế không?
Ursula đã quyết định về lại căn hộ. Tuy nó lạnh lẽo nhưng không bị hôi hám. Sau khi cân nhắc kĩ, cô đã cho rằng điều đó sẽ tốt hơn cho Frieda. Họ vẫn còn chăn và có thể quấn chúng quanh người rồi ngủ chung trên một tấm đệm trên sàn, đằng sau một rào chắn được tạo thành từ những cái ghế và bàn ăn. Ursula không ngừng nghĩ đến những bữa ăn mà họ đã từng có trên cái bàn đó, các giấc mơ của cô ngập tràn những miếng thịt lợn và thịt bò được nướng, quay và rán.
Việc căn hộ ở trên tầng hai và cái cầu thang bị chặn một phần có thể cản được bước chân của lính Nga. Tuy nhiên, mẹ con họ chẳng khác gì những con búp bê bị trưng bày trong ngôi nhà búp bê, một người phụ nữ và một cô bé, giống như mỡ dâng đến miệng mèo. Frieda sắp mười một tuổi, nhưng cho dù những lời đồn đến từ miền Đông chỉ một phần mười là thật thì tuổi của con bé cũng chẳng cứu được nó khỏi đám lính Nga. Bà Jaeger cứ lo lắng lải nhải mãi về chuyện lính Nga đang hãm hiếp và giết người trên đường tiến tới Berlin. Giờ không còn radio, chỉ có những lời đồn và thi thoảng là một mẩu báo mỏng tang. Cái tên Nemmersdorf hiếm khi rời khỏi môi bà Jaeger ("Một cuộc thảm sát!"). "Ồ, làm ơn thôi đi!" Có lần Ursula nói với bà. Đương nhiên là bằng tiếng Anh, thứ tiếng mà bà không hiểu, mặc dù bà hẳn đã nghe ra giọng điệu thiếu thân thiện của cô. Bà Jaeger giật mình thấy rõ khi Ursula nói với bà bằng ngôn ngữ của kẻ địch và Ursula cảm thấy hối hận, bà ấy chỉ là một bà lão đang hoảng sợ thôi mà, cô tự nhắc nhở mình.
Miền Đông như đang dịch lại gần hơn mỗi ngày. Mối quan tâm dành cho mặt trận phía tây đã nguội lạnh từ lâu, giờ người ta chỉ còn quan tâm đến mặt trận phía đông. Tiếng súng rền xa xa nay đã được thay thế bởi tiếng gầm rống liên tục. Chẳng có ai cứu họ cả. Chỉ có tám mươi nghìn quân Đức bảo vệ họ trước một triệu rưỡi quân Xô Viết, và dường như phần lớn lính Đức là trẻ con hoặc người già. Có lẽ ngay cả bà lão Jaeger tội nghiệp cũng sẽ được kêu gọi chống trả kẻ địch bằng cán chổi. Có thể chỉ vài ngày nữa, thậm chí là vài giờ, họ sẽ nhìn thấy tên lính Nga đầu tiên.
Có tin đồn rằng Hitler đã chết. "Đáng lẽ ông ta phải chết từ lâu rồi mới phải." Ông Richter nói. Ursula nhớ lại cảnh tượng người đàn ông quyền lực ấy nằm ngủ trên cái ghế tắm nắng ngoài hàng hiên ở Berg. Ông ta đã vênh vang và bứt rứt trong giờ khắc của mình trên sân khấu. Để được gì? Một dạng Armageddon*. Cái chết của châu Âu.
Ngày tận thế, ngày diễn ra cuộc chiến quyết liệt giữa thiện và ác, dẫn đến ngày phán xét cuối cùng.
Theo Shakespeare, cuộc sống vốn là thế, đúng không? Cô tự sửa lời mình. Cuộc sống chỉ là một cái bóng di động, một người diễn viên tồi vênh vang và bứt rứt trong giờ khắc của mình trên sân khấu. Họ đều là những cái bóng di động ở Berlin. Cuộc sống từng có ý nghĩa biết bao, vậy mà bây giờ nó lại là thứ rẻ rúng nhất. Cô thoáng nghĩ tới Eva, cô ấy chẳng bao giờ ngần ngại với ý định tự tử, phải chăng cô ấy đã theo lãnh tụ của mình xuống địa ngục?
❄
Frieda giờ rất yếu, hết sốt lại ớn lạnh và kêu đau đầu gần như liên tục. Nếu con bé không ốm, họ đã có thể hòa vào dòng người di tản về phía tây, tránh xa đám lính Nga, nhưng con bé sẽ không thể nào chịu đựng được một hành trình gian lao như thế.
"Con chịu hết nổi rồi, mẹ ơi." Con bé thều thào, giọng nó giống giọng của hai chị em cô gái sống trên tầng áp mái một cách khủng khiếp.
Ursula để nó lại một mình, vội vã chạy tới hiệu thuốc, chệnh choạng bước qua những đống đổ nát rải rác trên các đường phố, thi thoảng còn có một xác chết - cô chẳng còn có cảm giác gì với người chết nữa. Cô nép mình vào những khung cửa khi tiếng súng đại bác dường như vang lên ở quá gần, rồi lại chạy gấp sang góc phố bên cạnh. Tiệm thuốc đang mở cửa nhưng ông dược sĩ chẳng còn loại thuốc nào, ông ta cũng chẳng cần những ngọn nến quý giá hay tiền của cô. Cô thất thểu trở về.
Suốt lúc ở ngoài đường, Ursula cứ lo lắng sẽ có chuyện gì đó xảy ra với Frieda trong lúc cô vắng mặt, và cô tự hứa với lòng sẽ không bao giờ bỏ mặc con bé nữa. Cô đã nhìn thấy một chiếc xe tăng của lính Nga ở cách đó hai con phố. Cô đã hoảng hốt trước cảnh tượng ấy, còn Frieda sẽ sợ hãi biết chừng nào? Tiếng hỏa pháo vang lên liên tục. Ý nghĩ thế giới đang đi đến hồi kết cứ bám lấy cô. Nếu vậy, Frieda phải chết trong vòng tay cô chứ không phải ra đi trong cô độc. Nhưng còn cô, cô sẽ chết trong vòng tay ai? Cô khao khát vòng tay che chở của cha và ý nghĩ về Hugh khiến những giọt lệ dâng lên trong mắt cô.
Lúc trèo lên cái cầu thang lổn ngổn gạch đá, cô đã mệt mỏi, kiệt quệ tới tận xương tủy. Cô thấy Frieda đang lúc mê lúc tỉnh, bèn nằm xuống cạnh con bé trên tấm đệm trên sàn. Cô vuốt ve mái tóc ẩm ướt của con bé, thì thầm nói cho con bé nghe về một thế giới khác. Cô kể cho con bé nghe về những bông hoa chuông xanh bung nở trong mùa xuân ở khu rừng gần Góc Cáo, về những bông hoa mọc trên đồng cỏ nằm ở phía bên kia của rừng cây - lanh, phi yến, mao lương hoa vàng, mỹ nhân thảo, cẩm chướng đỏ và cúc mắt bò. Cô kể cho con bé nghe về mùi cỏ mới cắt từ một thảm cỏ mùa hè ở Anh, mùi những bông hồng của Sylvie, vị chua chua ngọt ngọt của những quả táo trong vườn quả. Cô kể về những cây sồi trên con đường mòn, những cây thông đỏ trong nghĩa địa và cây dẻ gai trong khu vườn của Góc Cáo. Cô kể về lũ cáo, thỏ, chim trĩ, thỏ rừng, bò và những con ngựa cày to lớn. Về vầng mặt trời rạng rỡ tỏa ánh nắng ấm áp xuống những cánh đồng ngô và những cánh đồng xanh. Tiếng hót tươi vui của chim hét, tiếng hót du dương của chim chiền chiện, tiếng gù dịu dàng của bồ câu rừng và tiếng cú kêu chói tai trong đêm tối. "Uống cái này đi con!" Cô nói, nhét viên thuốc vào miệng Frieda. "Mẹ kiếm được nó ở hiệu thuốc, nó sẽ giúp con ngủ ngon."
Cô nói với Frieda rằng cô sẽ sẵn sàng bước đi trên những lưỡi dao để bảo vệ Frieda, sẵn sàng nhảy vào những ngọn lửa nơi hỏa ngục để cứu con bé, sẵn sàng trầm mình xuống đáy nước sâu thẳm nhất để vớt con bé lên, và bây giờ cô sẽ làm điều cuối cùng này cho con bé, điều khó khăn nhất.
Cô choàng hai tay quanh người con gái, hôn nó và thì thầm vào tai nó, kể cho nó nghe về Teddy hồi còn nhỏ, về bữa tiệc sinh nhật bất ngờ của Teddy, về việc Pamela thông minh thế nào, Maurice phiền phức ra sao và Jimmy khôi hài thế nào hồi họ còn là những cô bé, cậu bé. Về tiếng đồng hồ tích tắc ở tiền sảnh, tiếng gió u u trong những cái chụp ống khói, về việc họ thắp một ngọn lửa lớn trong đêm Giáng sinh và treo những chiếc tất trên mặt lò sưởi, về việc ngày hôm sau họ ăn thịt ngỗng quay với bánh pudding mận và bàn bạc xem họ sẽ làm gì cùng nhau vào Giáng sinh năm tới. "Từ giờ mọi chuyện đều ổn cả rồi." Ursula nói với con bé.
Khi cô chắc chắn rằng Frieda đã ngủ, cô lấy viên thuốc con nhộng bằng thủy tinh nhỏ xíu mà chủ hiệu thuốc đã đưa cho cô, nhẹ nhàng nhét nó vào miệng Frieda rồi khép hai hàm của con bé lại. Viên thuốc khẽ "rắc một tiếng", vỡ ra. Một câu trong một bài thơ sonnet của Donne chợt nảy ra trong đầu cô khi cô cắn viên thuốc thủy tinh của chính mình. Tôi chạy đến với cái chết, và cái chết cũng chạy lại đón tôi/ Thế rồi mọi khoái lạc đều trôi vào dĩ vãng. Cô ôm chặt Frieda, chẳng bao lâu sau, họ đã được bao bọc trong đôi cánh nhung của con dơi đen sì và cuộc đời này liền trở nên hư ảo rồi biến mất.
Trước đây cô chưa bao giờ lựa chọn cái chết và khi cô đang rời đi, cô biết thứ gì đó đã nứt vỡ và trật tự của vạn vật đã thay đổi. Thế rồi bóng tối xóa sạch mọi ý nghĩ.