Ursula giật mình tỉnh dậy. Trong phòng ngủ tối om om nhưng cô bé có thể nghe thấy những âm thanh vọng lên từ đâu đó dưới nhà. Tiếng cánh cửa đóng lại, tiếng cười khúc khích và tiếng chân bước loẹt xoẹt. Cô bé nghe ra âm sắc trong trẻo trong tiếng cười không thể nhầm lẫn của Bridget và âm sắc trầm âm của một người đàn ông. Bridget và Clarence đã từ London trở về.
Theo bản năng, Ursula định trèo xuống giường, lay Pamela dậy để hai chị em có thể cùng đi xuống nhà và hỏi thăm Bridget về những trò vui ở lễ mừng chiến thắng, nhưng thứ gì đó chợt ngăn cô bé lại. Khi cô bé nằm lắng tai nghe trong bóng tối, một thứ gì đó vô cùng khủng khiếp bỗng tràn tới như cơn sóng, phủ trùm lên người cô bé, một nỗi sợ hãi to lớn, như thể phía trước có một mối nguy hiểm ghê gớm đang chực chờ. Giống hệt với cảm giác mà cô bé từng có khi theo Pamela lội xuống biển hồi họ đi nghỉ mát ở Cornwall, trước lúc chiến tranh nổ ra không lâu. Họ đã được một người lạ cứu sống. Sau vụ việc đó, Sylvie đã bắt tất cả bọn trẻ đến bể bơi ở thị trấn để học bơi. Thầy giáo của chúng là một cựu thiếu tá trong cuộc chiến tranh Boer*, ông ta liên tục quát tháo chúng cho đến khi chúng sợ đến nỗi không thể chìm xuống nước được nữa. Sylvie thường kể về vụ tai nạn như thể đó là một chuyến phiêu lưu vui vẻ ("ông Winton quả cảm!") trong khi Ursula vẫn còn nhớ rõ như in nỗi kinh hoàng khi ấy.
Cuộc chiến ở Nam Phi từ năm 1899 đến năm 1902 giữa người Anh và người Nam Phi gốc Hà Lan, cuối cùng quân Anh toàn thắng.
Pamela ú ớ gì đó trong giấc ngủ và Ursula khẽ nói: "Suỵt!" Pamela không được dậy. Họ không được xuống dưới nhà. Họ không được gặp Bridget. Ursula không biết tại sao lại như vậy, cũng không biết cảm giác sợ hãi khủng khiếp này từ đâu mà có, nhưng cô bé vẫn kéo những tấm chăn trùm lên đầu để trốn tránh bất cứ thứ gì đang rình rập ngoài kia. Cô bé hy vọng nó ở ngoài đó chứ không phải ở bên trong cô bé. Cô bé nghĩ mình sẽ giả vờ ngủ nhưng chỉ trong vòng vài phút, giấc ngủ thực sự đã đến với cô bé.
❄
Sáng hôm sau, bọn trẻ ăn sáng ở trong bếp bởi Bridget vẫn đang nằm bẹp trên giường vì có cảm giác bị ốm. "Chẳng có gì đáng ngạc nhiên." Bà Glover vừa múc cháo cho mọi người vừa nói với vẻ chê trách. "Tôi phát sợ khi nghĩ đến thời khắc mà con bé đó lảo đảo bước vào nhà."
Sylvie bước từ trên gác xuống, mang theo khay thức ăn chưa được động đến. "Tôi nghĩ Bridget thực sự không ổn rồi, bà Glover à." Cô nói.
"Uống quá nhiều rượu đấy mà." Bà Glover quở trách, đập những quả trứng như thể bà đang trừng phạt chúng. Ursula ho mấy tiếng và Sylvie cau mày liếc nhìn cô bé. "Tôi nghĩ chúng ta nên mời bác sĩ Fellowes tới." Sylvie nói với bà Glover.
"Vì Bridget ư?" Bà Glover nói. "Con bé đó khỏe như ngựa vậy. Bác sĩ Fellowes sẽ bỏ về ngay khi ông ta ngửi thấy mùi rượu trên người nó."
"Bà Glover" Sylvie nói với giọng mà cô thường dùng khi cô vô cùng nghiêm túc về một vấn đề nào đó và muốn người khác lắng nghe (Đừng có để lại vết chân bẩn trên sàn nhà, đừng bao giờ đối xử thô lỗ với những đứa trẻ khác, cho dù chúng khiêu khích thế nào). "Tôi nghĩ Bridget bị ốm thật đấy." Bà Glover có vẻ đột nhiên hiểu ra.
"Bà để mắt tới bọn trẻ nhé!" Sylvie nói. "Tôi đi gọi điện cho bác sĩ Fellowes rồi sau đó sẽ lên trông Bridget."
"Bọn trẻ sẽ không đi học à?" Bà Glover hỏi.
"Có, dĩ nhiên là có chứ." Sylvie nói. "Mà có lẽ là không. Không... có... chúng vẫn sẽ đi học. Mà chúng có nên đi không nhỉ?" Cô chần chừ lưỡng lự ở cửa bếp lâu đến mức khiến người khác phải bực bội, trong khi bà Glover vẫn chờ đợi cô quyết định với sự kiên nhẫn đáng kinh ngạc.
"Tôi nghĩ hôm nay chúng ta nên để chúng ở nhà." Cuối cùng Sylvie nói. "Các phòng học đông người lắm..." Cô hít sâu một hơi và nhìn chằm chằm lên trần nhà. "Nhưng lúc này cần phải giữ chúng ở dưới này." Pamela nhướng mày với Ursula. Ursula cũng nhướng mày lại mặc dù cô bé không biết chắc là hai đứa đang cố nói gì với nhau. Chủ yếu là nỗi khiếp sợ, cô bé nghĩ, khi chúng bị giao cho bà Glover trông nom.
Chúng phải ngồi ở cái bàn trong bếp để bà Glover có thể "để mắt đến chúng", rồi sau đó, mặc kệ những lời phản đối dữ dội của chúng, bà bắt chúng lấy sách vở ra để làm bài tập - với Pamela là luyện phép tính cộng, với Teddy là học chữ cái (Q trong chữ Quả, R trong chữ Rau) còn với Ursula là rèn chữ để cải thiện thứ chữ viết "xấu tệ hại" của cô bé. Ursula nghĩ thật là vô cùng không công bằng khi một người chẳng viết gì mấy ngoài nguệch ngoạc những danh sách đồ cần mua (mỡ cật, xi đánh lò, sườn cừu và thuốc nhuận tràng của hãng Dinneford's) lại được quyền đánh giá về chữ viết của cô bé.
Trong khi đó, bà Glover bận rộn ép một cái lưỡi bê. Bà lọc sụn và xương rồi cuộn cái lưỡi lại trước khi nhét nó vào cái khuôn ép. Quan sát hoạt động này còn thú vị hơn nhiều so với việc viết Quick wafting zephyrs vex bold Jim hay The five boxing wizards jumped quickly*. "Chị ghét phải học ở trường nào có bà ấy làm cô giáo." Pamela thì thầm, đánh vật với các phép tính.
Đây là những câu có chứa tất cả những chữ cái trong tiếng Anh, thường được dùng để luyện chữ, luyện gõ bàn phím, vv...
Họ đều bị sao lãng khi cậu bé giao thịt đến và nhấn chuông xe đạp reng reng để thông báo cho họ biết về sự xuất hiện của mình. Cậu mười bốn tuổi, tên là Fred Smith. Cả Maurice và hai cô bé nhà Todd đều cực kì ngưỡng mộ cậu. Hai cô bé bày tỏ thiện cảm của mình với cậu bằng cách gọi cậu là "Freddy" trong khi Maurice gọi cậu là "Smithy" một cách thân mật. Pamela có lần tuyên bố rằng Maurice mê mẩn Fred, đúng lúc ấy bà Glover tình cờ đi ngang qua và nghe được, bà đã dùng cây đánh trứng cầm tay quất vào khoeo chân cô. Pamela rất tức tối vì không biết mình bị phạt vì tội gì. Fred Smith thì kính cẩn gọi các cô bé là "cô Todd" và Maurice là "cậu Todd", mặc dù cậu ta chẳng thích thú gì ai trong số họ. Đối với bà Glover, cậu là "thằng nhóc Fred", còn đối với Sylvie, cậu là "thằng bé giao thịt", thi thoảng là "thằng bé giao thịt ngoan ngoãn" để phân biệt cậu với cậu bé giao thịt trước kia. Đó là Leonard Ash, "một thằng ranh tắt mắt" (theo lời bà Glover vì bà đã bắt quả tang cậu ta lấy trộm trứng trong chuồng gà). Leonard Ash chết trong trận Somme* sau khi nói dối tuổi của mình để đăng lính và bà Glover nói cậu ta đã gặp quả báo. Đó có vẻ là một đòn quả báo hơi tàn nhẫn.
Trận Somme là trận đánh diễn ra dọc sông Somme ở miền Bắc nước Pháp vào mùa hè và mùa thu năm 1916, là một trong những trận đánh lớn nhất của Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Với con số thương vong hơn một triệu người, đây được xem là một trong những trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử loài người.
Fred đưa cho bà Glover một cái gói bọc giấy trắng và nói "Món lòng của bà đấy", sau đó cậu đặt cái xác dài ngoằng, mềm mại của một con thỏ rừng lên cái giá úp bát đĩa bằng gỗ.
"Đã treo năm ngày rồi. Con này ngon đấy, bà Glover ạ."
Dù bà Glover vốn không thích khen ngợi ai hay thứ gì, ngay cả trong những lúc dễ dãi nhất, nhưng bà vẫn phải công nhận đó là con thỏ hảo hạng. Rồi bà mở cái hộp bánh ngày thường vẫn đóng chặt và cho phép Fred chọn cái bánh quy cứng nhân trái cây khô to nhất bên trong.
Vì cái lưỡi bê đã nằm yên ổn trong khuôn ép nên bà Glover lập tức bắt tay vào việc lột da con thỏ. Quá trình đó vừa ghê rợn vừa cuốn hút, vậy nên khi sinh vật tội nghiệp ấy đã bị lột hết lớp da lông và trơ ra lớp thịt bóng loáng, mọi người mới nhận ra Teddy đã biến mất.
"Đi tìm thằng bé về đi!" Bà Glover nói với Ursula. "Rồi tất cả các cháu sẽ được uống một cốc sữa và ăn một chiếc bánh quy cứng nhân trái cây khô, mặc dù có Chúa chứng giám, các cháu chẳng làm gì để xứng đáng nhận được phần thưởng đó cả."
Teddy thích chơi trốn tìm, nên khi Ursula gọi mà không nghe cậu trả lời, cô bé bèn tìm ở những chỗ trốn bí mật của cậu, chẳng hạn như đằng sau những tấm rèm phòng khách hay dưới gầm bàn ăn. Rồi khi không thể tìm thấy bóng dáng cậu ở đâu cả, cô bé bắt đầu đi lên cầu thang để tới các phòng ngủ.
Tiếng chuông cửa lanh lảnh vọng lên cầu thang sau lưng cô bé. Từ khúc quành ở cầu thang, cô bé nhìn thấy Sylvie ra mở cửa cho bác sĩ Fellowes. Ursula cho rằng ắt hẳn mẹ mình đã xuống từ cầu thang đằng sau chứ không phải thình lình hiện ra nhờ phép thuật. Bác sĩ Fellowes và Sylvie thì thầm trò chuyện với vẻ căng thẳng, có lẽ là về Bridget, nhưng Ursula không nghe được từ nào cả.
Teddy không có trong phòng của Sylvie (từ lâu bọn trẻ đã chẳng còn nghĩ đó là phòng của cả bố và mẹ họ); cũng không có trong phòng của Maurice, nơi quá rộng đối với một người sống hơn nửa thời gian của cuộc đời ở trường học; không có trong căn phòng ngủ dành cho khách thứ nhất hay căn phòng ngủ dành cho khách thứ hai hay căn phòng nhỏ của chính Teddy nằm ở tận trong cùng, nơi bị bộ đồ chơi tàu hỏa của cậu gần như chiếm hết diện tích; không có trong phòng tắm hay tủ đựng đồ vải; cũng không có dấu hiệu gì của Teddy dưới gầm giường hay trong tủ quần áo hay biết bao cái tủ khác nữa, hay nằm im bất động như một xác chết bên dưới tấm ga trải giường to tướng nhồi lông vịt biển của Sylvie - vốn là trò đùa yêu thích của cậu.
"Dưới nhà có bánh ngọt đấy, Teddy!" Cô bé gọi vọng lên những căn phòng trống. Thường thì lời hứa hẹn về bánh ngọt, dù có đúng sự thật hay không, đã là đủ để dụ được Teddy ra khỏi chỗ trốn.
Ursula chậm chạp bước từng bước lên chiếc cầu thang gỗ chật hẹp tối om dẫn tới những căn phòng ngủ trên tầng áp mái. Ngay khi đặt chân lên bậc thang đầu tiên, cô bé đột nhiên cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi sợ hãi. Cô bé không biết nó từ đâu đến hay tại sao nó lại xuất hiện.
"Teddy! Teddy, em ở đâu đấy?" Ursula cố gắng cất cao giọng nhưng tiếng gọi của cô bé khi thốt ra lại chẳng khác nào một tiếng thì thầm.
Không có trong căn phòng ngủ của cô bé và Pamela, không có trong căn phòng cũ của bà Glover, không có trong phòng chứa đồ nho nhỏ, nơi từng là phòng trẻ và giờ là chỗ cư ngụ của những rương hòm và thùng đựng quần áo, đồ chơi cũ. Chỉ còn phòng của Bridget là vẫn chưa được tìm kiếm.
Cửa mở he hé và Ursula phải cố gắng lắm mới có thể nhấc chân bước về phía đó. Một thứ gì khủng khiếp đang ở phía bên kia cánh cửa mở. Cô bé không muốn đối mặt với nó, nhưng biết mình buộc phải làm vậy.
"Teddy!" Cô bé thốt lên, cả người nhẹ nhõm khi nhìn thấy cậu. Teddy đang ngồi trên giường của Bridget, trên đầu gối cậu là chiếc máy bay mà cậu được tặng nhân dịp sinh nhật. "Chị đã tìm em khắp nơi." Ursula nói. Trixie đang nằm trên sàn ngay cạnh giường và hăm hở đứng bật dậy khi nó nhìn thấy Ursula.
"Em nghĩ cái này có thể khiến Bridget cảm thấy khỏe hơn." Teddy nói, vuốt ve cái máy bay. Teddy có niềm tin rất lớn vào khả năng chữa bệnh của những đoàn tàu và những chiếc máy bay đồ chơi. (Cậu quả quyết với họ rằng khi nào lớn lên cậu sẽ trở thành phi công.) "Em nghĩ Bridget đang ngủ nhưng mắt chị ấy lại mở." Cậu nói.
Đúng là chúng đang mở. Đôi mắt mở to của Bridget đang nhìn chằm chằm vô hồn lên trần nhà. Trong đôi mắt đáng sợ ấy như bị phủ một lớp màng đẫm nước màu xanh sẫm và da cô ấy có màu tím hoa cà kỳ lạ. Màu tím cô ban trong bộ màu nước Winsor & Newton của Ursula. Cô bé có thể nhìn thấy đầu lưỡi của Bridget thè ra khỏi miệng và thoáng nhớ lại hình ảnh bà Glover nhét cái lưỡi bê vào trong khuôn ép.
Ursula chưa bao giờ nhìn thấy người chết nhưng cô bé biết chắc rằng Bridget đã trở thành người thiên cổ.
"Xuống khỏi giường ngay, Teddy!" Cô bé cẩn trọng nói, như thể em trai mình là một con thú hoang sắp sửa chạy lồng lên. Cô bé bắt đầu run rẩy khắp người. Không chỉ vì Bridget đã chết, mặc dù chỉ riêng điều đó đã đủ tồi tệ lắm rồi, mà ở đây có thứ gì đó còn nguy hiểm hơn. Những bức tường trống trơn, tấm khăn trải giường mỏng dệt hoa phủ trên khung giường bằng sắt, bộ lược tráng men đặt trên cái bàn trang điểm, tấm thảm kết bằng vải vụn dưới sàn nhà, tất cả đều đột nhiên trở nên cực kì ghê rợn như thể chúng không còn là những vật thể bình thường nữa. Ursula nghe thấy Sylvie và bác sĩ Fellowes lên cầu thang. Giọng Sylvie có vẻ cuống quýt, còn giọng bác sĩ Fellowes thì dửng dưng hơn.
Sylvie bước vào và thốt lên một tiếng "Ôi Chúa ơi" đầy hoảng hốt khi nhìn thấy bọn trẻ trong phòng của Bridget. Cô bế thốc Teddy ra khỏi giường rồi kéo tay Ursula ra hành lang. Trixie hăm hở vẫy đuôi trước sự náo động ấy và chạy lon ton theo sau họ.
"Về phòng con đi." Sylvie nói. "Không, về phòng của Teddy ấy. Không, tới phòng của mẹ ấy. Đi ngay đi." Cô nói, nghe giọng có vẻ hoảng loạn, rối rít, khác hẳn với Sylvie mà bọn trẻ vẫn biết. Sylvie quay trở lại phòng của Bridget và đóng cửa một cách dứt khoát. Chúng chỉ có thể nghe thấy những tiếng lầm rầm trao đổi giữa Sylvie và bác sĩ Fellowes, rồi cuối cùng Ursula nói với Teddy "Đi thôi" và cầm lấy tay cậu. Cậu ngoan ngoãn để mặc Ursula dẫn trở xuống cầu thang, tới phòng của Sylvie. "Chị đã nói là có bánh ngọt à?" Cậu hỏi.
❄
"Màu da của Teddy giống hệt màu da của Bridget." Sylvie nói. Trong lòng cô tràn ngập nỗi sợ hãi. Cô biết thứ cô nhìn thấy là gì. Ursula thì chỉ xanh xao thôi, mặc dù đôi mí mắt đang khép của cô bé thâm sì và da cô bé nhợt nhạt kỳ lạ.
"Da đổi màu xanh tím." Bác sĩ Fellowes nói, bắt mạch cho Teddy. "Và bà có nhìn thấy những nốt màu gụ trên hai má cậu bé không? Tôi e rằng cậu bé đã mắc phải chủng cúm nguy hiểm hơn."
"Thôi đi, làm ơn thôi đi." Sylvie rít lên. "Đừng có giảng giải như thể tôi là một sinh viên y khoa. Tôi là mẹ của chúng." Vào khoảnh khắc đó, sao mà cô căm ghét bác sĩ Fellowes đến thế. Bridget đang nằm ở giường của mình trên gác, cơ thể vẫn còn ấm nhưng đã chết cứng. "Bệnh cúm Tây Ban Nha." bác sĩ Fellowes vẫn tiếp tục, không chút nao núng. "Ngày hôm qua, cô hầu gái của bà đã hòa vào những đám đông ở London - đó là môi trường hoàn hảo để bệnh dịch lây lan. Họ có thể nhiễm bệnh chỉ trong nháy mắt."
"Nhưng chuyện này không thể xảy ra..." Sylvie gay gắt nói, nắm lấy tay Teddy. "... với con của tôi, với các con của tôi." Cô sửa lại lời mình, vươn tay vuốt ve cái trán nóng bừng của Ursula.
Pamela thập thò ở cửa và Sylvie xua tay đuổi cô bé đi. Pamela òa khóc nhưng Sylvie không có thời gian để rơi nước mắt. Không phải bây giờ, không phải trước mặt của Tử thần.
"Tôi có thể làm gì đây?" Cô nói với bác sĩ Fellowes.
"Cô có thể cầu nguyện."
"Cầu nguyện ư?"
Sylvie không tin vào Chúa (vì chuyện của Tiffin và nhiều chuyện khác nữa). Cô cho rằng vị Chúa trong Kinh thánh ấy cũng chẳng có thật, giống như thần Zeus hay thần Pan. Tuy nhiên, cô vẫn tới nhà thờ vào mỗi Chủ nhật theo đúng bổn phận và tránh làm Hugh hoảng hốt với những ý nghĩ dị giáo của cô. Đó là điều buộc phải làm. Giờ thì cô cầu nguyện với niềm tin sinh ra từ nỗi tuyệt vọng chứ không có đức tin, và cô nghi ngờ rằng dù có nó hay không thì cũng chẳng mấy khác biệt.
Khi một thứ bọt quái quỷ, giống như thứ bọt bám ở lá cây để che chở ấu trùng sâu bọ, sùi ra qua hai lỗ mũi của Teddy, Sylvie rú lên như một con thú bị thương. Bà Glover và Pamela ở bên ngoài cánh cửa đang chăm chú lắng nghe động tĩnh liền siết chặt tay nhau trong giây phút hòa hợp hiếm hoi. Sylvie bế thốc Teddy lên khỏi giường, áp chặt cậu vào ngực mình và gào lên đau đớn.
Chúa ơi, bác sĩ Fellowes nghĩ, người phụ nữ này than khóc như một kẻ hoang dã vậy.
❄
Hai đứa trẻ cùng đầm đìa mồ hôi trong mớ chăn lanh lộn xộn của Sylvie. Teddy đang nằm dang tay trên gối. Ursula muốn ôm cậu nhưng người cậu quá nóng, vì vậy cô bé chỉ nắm lấy một bên cổ chân cậu, như thể đang cố ngăn không cho cậu chạy đi. Có cảm giác như hai lá phổi của Ursula chứa đầy sữa trứng. Cô bé tưởng tượng rằng lớp sữa trứng ấy hẳn là dày dặn, vàng ươm và ngọt ngào lắm.
Teddy mất vào lúc sẩm tối. Ursula biết khoảnh khắc cậu ra đi. Trong lòng cô bé cảm nhận rõ điều đó. Cô bé chỉ vừa nghe thấy tiếng rú đầy đau khổ của Sylvie thì ai đó đã bế thốc Teddy ra khỏi giường. Mặc dù cậu bé chỉ là một đứa trẻ nhưng cô bé có cảm giác như thứ gì đó rất nặng bên cạnh mình vừa bị nhấc lên. Và rồi, Ursula chỉ còn trơ trọi một mình trên giường. Cô bé có thể nghe thấy những tiếng nức nở nghẹn ngào của Sylvie, một âm thanh khủng khiếp, như thể có kẻ nào đó đã chặt đứt tay chân của mẹ cô bé.
Mỗi lần hít thở là mỗi lần lớp sữa trứng trong hai lá phổi của cô bé bị siết chặt lại. Thế giới trước mắt cô bé đang mờ đi và trong lòng cô bé bắt đầu trào dâng một cảm giác háo hức, như thể sắp đến Giáng sinh hay sinh nhật của mình. Thế rồi, màn đêm giống như một con dơi đen sì tiến đến, bao phủ lấy cô bé bằng đôi cánh của nó. Một hơi thở cuối cùng và rồi không còn hơi thở nào nữa. Cô bé giơ tay ra với Teddy, quên mất rằng cậu bé đã không còn ở đó.
Bóng tối phủ xuống.