Der Zauberberg - Ngọn núi kỳ diệu.
“Aaw. Sie ist so niedlich*." Tách, tách, tách. Eva* yêu chiếc máy ảnh Rolleflex của cô ấy. Eva yêu Frieda. Cô ấy nói con bé quá dễ thương. Họ đang ở trên hàng hiên rộng lớn của biệt thự Berghof, nơi ngập tràn ánh mặt trời của vùng núi Alps, chờ đợi bữa trưa được mang ra. Ngồi ăn ở ngoài trời thế này dễ chịu hơn nhiều so với trong căn phòng rộng rãi mà âm u với những ô cửa sổ đồ sộ chỉ nhìn thấy toàn núi là núi. Các nhà độc tài thích thứ gì cũng phải hoành tráng, ngay cả phong cảnh. Bitte lächeln! - Cười tươi lên! Frieda làm theo. Con bé là một đứa trẻ ngoan ngoãn.
Tiếng Đức, nghĩa là "A, con bé dễ thương quá!"
Tức Eva Braun (1912 - 1945): là bạn gái lâu năm và vợ của Adolf Hitler trong một thời gian ngắn. Bà gặp Hitler lần đầu tiên tại Munich khi mới mười bảy tuổi khi bà là phụ tá và người mẫu cho một thợ ảnh riêng của Hitler. Năm 1936, Hitler đưa bà tới sống tại một ngôi nhà gần căn hộ của ông ta và sau đó là tới biệt thự Berghof ở Berchtesgaden. Braun đã có một cuộc sống xa hoa nhưng bị cô lập trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Trong suốt những năm tháng ấy, bà không xuất hiện trước công chúng và rất ít người Đức biết về sự tồn tại của bà.
Eva đã thuyết phục Frieda cởi bộ váy đầm kiểu Anh (do Sylvie mua ở cửa hàng Bourne & Hollingsworth và gửi tặng Frieda nhân dịp sinh nhật) và mặc vào bộ trang phục truyền thống của vùng Bavaria - váy Dimdl*, tạp dề, đôi tất trắng cao đến đầu gối. Trong đôi mắt Anh quốc của Ursula (cô cảm thấy càng ngày cô càng Anh quốc hơn), bộ trang phục ấy trông như thuộc về một tủ đồ hóa trang hoặc có lẽ một vở kịch ở trường học. Có lần, ở trường của cô (giờ đây thời điểm ấy có vẻ đã quá lâu lắc và xa xôi), họ đã biểu diễn vở kịch Người thổi kèn mặc bộ đồ sặc sỡ ở thành Hamelin và Ursula đã đóng vai một cô bé trong làng. Cô đã mặc bộ trang phục rất giống chiếc váy mà Frieda đang mặc bấy giờ.
Loại áo đầm có vạt trên hẹp, cổ khoét sâu, tay áo ngắn, được xem là trang phục truyền thống ở Đức và Áo.
Millie đã đóng vai Vua Chuột và diễn rất hay. Sylvie đã nói: "Mấy đứa con gái nhà Shawcross thích được chú ý nhỉ?" Ở Eva có điểm gì đó giống Millie - đó là vẻ vui tươi giả tạo không ngừng nghỉ cần được bồi đắp liên tục. Tuy nhiên Eva cũng là một diễn viên, cô ấy đang đóng vai diễn lớn nhất của cuộc đời mình. Thực tế thì, cuộc đời của cô ấy chính là vai diễn của cô ấy, chẳng có gì khác biệt.
Frieda, Frieda bé bỏng đáng yêu mới năm tuổi, đôi mắt xanh biếc và hai bím tóc vàng hoe dày dặn. Nước da của Frieda lúc mới tới rất xanh xao vàng vọt nhưng bây giờ đã trở nên hồng hào và rám vàng từ ánh nắng của vùng núi Alps. Khi Quốc trưởng nhìn thấy Frieda, Ursula đã bắt gặp trong đôi mắt xanh thẳm lạnh giá như hổ Königsee dưới kia lóe lên ánh nhìn cuồng tín, và cô biết ông ta đang nhìn thấy tương lai của Tausendjähriges Reich* trải ra trước mắt ông ta, hết Mädchen* này đến Mädchen khác. ("Con bé không giống cô nhỉ?" Eva nói. Không có ý gì xấu, cô ấy vốn không có ác ý.)
Tiếng Đức, nghĩa là "đế chế nghìn năm".
Tiếng Đức, nghĩa là "cô gái".
Hồi cô còn nhỏ - một giai đoạn trong cuộc đời mà dạo gần đây Ursula thấy mình gần như bắt buộc phải hồi tưởng lại - cô đã đọc những câu chuyện cổ tích về các nàng công chúa bị ngược đãi đã tự cứu mình khỏi những người cha xấu xa và những bà mẹ kế có tính đố kỵ, bằng cách bôi nước quả óc chó lên khuôn mặt trắng trẻo và xoa tro lên tóc của mình để ngụy trang - giống như dân Di gan, dân ngoại tộc, hay những người bị kỳ thị. Ursula tự hỏi làm thế nào để kiếm được nước quả óc chó, dường như đó không phải là thứ mà ta có thể mua trong một cửa hàng. Và bây giờ cũng không còn an toàn để là một kẻ ngoại tộc có nước da màu nâu sẫm, nhất là khi ta muốn sống sót ở đây, ở Obersalzberg - Der Zauberberg - trong vương quốc của sự giả bộ, hay "Berg", như cách những kẻ quyền cao chức trọng ở đây gọi nó một cách thân mật.
Cô đang làm gì ở đây, Ursula tự hỏi, và khi nào thì cô có thể rời đi? Frieda giờ đã khỏe lại rồi, nó đã gần như hồi phục hoàn toàn. Ursula quyết định sẽ nói với Eva vào ngày hôm nay. Dù sao đi nữa, họ không phải là tù nhân, họ có thể rời đi bất cứ lúc nào.
❄
Eva châm một điếu thuốc. Chủ vắng nhà, gà vọc niêu tôm. Quốc trưởng vốn không thích cô ấy hút thuốc, uống rượu hoặc trang điểm. Ursula khá ngưỡng mộ những hành động chống đối nho nhỏ của Eva. Kể từ khi Ursula và Frieda đến biệt thự Berghof này hai tuần trước, Quốc trưởng đã đến và đi hai lần, những lần đến và đi đó của ông ta là những khoảnh khắc cao trào của một vở kịch đối với Eva và tất cả mọi người. Từ rất lâu trước đây, Ursula đã kết luận được rằng Đức Quốc xã chỉ toàn là những vở kịch. "Một câu chuyện do một thằng ngốc kể, đầy những âm thanh và cuồng nộ." Cô viết cho Pamela. "Nhưng thật không may, chẳng phải là không có ý nghĩa gì."
Theo sự chỉ dẫn của Eva, Frieda xoay một vòng và cười to. Con bé là phần lõi nóng chảy ở trung tâm trái tim Ursula, là căn nguyên của hầu như tất cả những gì cô nghĩ hay làm. Ursula sẵn sàng bước đi trên những lưỡi dao suốt phần đời còn lại để bảo vệ Frieda, sẵn sàng nhảy vào những ngọn lửa nơi hỏa ngục để cứu con bé. Sẵn sàng trầm mình xuống đáy nước sâu thẳm nhất để vớt con bé lên. (Cô đã nghiên cứu những tình huống xấu nhất. Tốt hơn hết là phải chuẩn bị tinh thần trước.) Trước đây cô đã không biết rằng tình mẫu tử có thể khiến cô đau thấu tâm can đến vậy (Sylvie chẳng chỉ dẫn cho cô mấy).
"Ồ, đúng thế đấy." Pamela nói, như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời này. "Nó biến ta thành một con sói cái." Ursula không nghĩ mình là một con sói cái, suy cho cùng, cô là một con gấu.
Ở Berg có những con sói cái thực thụ đang đi lảng vảng khắp nơi - Magda, Emmy, Margarete, Gerda - vợ của những thành viên cấp cao trong Đảng Quốc xã, tất cả bọn họ đều phải ganh đua, kèn cựa để giành lấy một chút quyền lực cho mình và liên tục sinh ra những đứa trẻ cho quốc gia, cho Quốc trưởng. Những con sói cái ấy là loài thú ăn thịt nguy hiểm, và họ ghét Eva, "con bò cái ngu ngốc" - die blöde Kuh - bằng cách nào đó đã xoay xở chiến thắng tất cả bọn họ.
Họ chắc chắn sẽ đánh đổi bất cứ thứ gì để có thể trở thành bạn đời của vị lãnh tụ quyền cao chức trọng kia thay cho cô nàng Eva tầm thường. Một người đàn ông có địa vị như ông ta xứng đáng với một nàng Brünnhilde* - hay ít nhất cũng là một nàng Magda* hoặc Leni* chứ? Hoặc có lẽ là nàng Valkyrie*, das Fräulein Mitford - "Cô nàng Mitford ấy*", theo cách gọi của Eva. Quốc trưởng ngưỡng mộ nước Anh, đặc biệt là nước Anh vương giả, quý tộc, mặc dù Ursula nghĩ sự ngưỡng mộ ấy sẽ chẳng ngăn nổi ông ta cố gắng hủy hoại nó khi thời điểm đến.
Hay còn gọi là Brynhild, một nữ chiến binh và một nữ tỳ phục vụ cho vị thần tối cao Odin trong thần thoại Bắc Âu.
Magda Goebbels (1901 - 1945): là vợ của Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã Joseph Goebbel, có mối quan hệ thân thiết với Hitler. Bà được vài sử gia gọi là Đệ nhất phu nhân không chính thức của Đức Quốc xã.
Tức Leni Riefenstahl (1902 - 2003): một đạo diễn, vũ công và diễn viên người Đức. Bà được biết đến nhiều nhất với bộ phim Niềm tin chiến thắng tuyên truyền về hội nghị Nuremberg của Đảng Quốc xã. Mối quan hệ cá nhân của bà với Adolf Hitler và Joseph Goebbels trong Đức Quốc xã đã cản trở sự nghiệp của bà sau khi nước Đức bại trận trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
Trong thần thoại Bắc Âu, Valkyrie còn là tên gọi chung của các nữ tỳ của thần Odin.
Tức Unity Valkyrie Freeman-Mitford (1914 -1948): một tiểu thư người Anh xinh đẹp, người tình trẻ của Adolf Hitler.
Eva không thích bất cứ người nào có thể là đối thủ của cô trong cuộc ganh đua giành sự chú ý của Quốc trưởng, những cảm xúc mạnh mẽ nhất của cô được sinh ra từ nỗi sợ hãi. Người mà cô ác cảm nhất là Bormann*, quân sư của Berg. Chính hắn là kẻ nắm giữ hầu bao, là kẻ thay Quốc trưởng mua những món quà cho Eva và chi tiền cho tất cả những chiếc áo lông thú và giày Ferragamo, như nhắc khéo cô rằng cô chỉ là một gái điếm hạng sang. Ursula tự hỏi họ kiếm những chiếc áo lông thú ấy ở đâu, bởi vì hầu hết những người bán đồ lông thú mà cô từng nhìn thấy ở Berlin đều là người Do Thái.
Martin Bormann (1900 - 1945): Viên thư kí trung thành, người được xem là có quyền lực cao thứ hai chỉ sau Hitler trong chế độ phát xít.
Đám sói cái ấy hẳn không thể nuốt trôi chuyện người đàn bà của Quốc trưởng lại là một cô bán hàng. Eva kể với Ursula rằng cô ấy gặp ông ta lần đầu tiên là khi cô ấy đang làm việc ở Photohaus* của Hoffmann, cô ấy đã gọi ông ta là ngài Sói. "Trong tiếng Đức, Adolf có nghĩa là con sói cao quý." Cô ấy nói. Ông ta quả đúng là thế, Ursula nghĩ. Cô chưa bao giờ nghe thấy ai gọi ông ta là Adolf. (Liệu Eva có gọi ông ta là mein Fuhrer* ngay cả khi ở trên giường không? Có thể lắm.) "Và cô có biết rằng bài hát yêu thích của ông ấy..." Eva cười. "... Là bài Ai sợ con sói to lớn xấu xa không?"
Tiếng Đức, nghĩa là ảnh viện, hiệu ảnh.
Tiếng Đức, nghĩa là "Quốc trưởng của em".
"Trong bộ phim hoạt hình Ba chú lợn con của hãng Disney ư?" Ursula ngờ vực hỏi.
"Đúng vậy!"
Ồ, Ursula nghĩ, mình nóng lòng muốn kể điều này cho chị Pamela quá!
❄
"Và bây giờ là một tấm ảnh với Mutti nào." Eva nói. "Ôm lấy cô bé đi! Sehr schön*. Cười lên nào!" Ursula từng quan sát Eva hoan hỉ cầm máy ảnh theo dõi Quốc trưởng nhằm săn được một bức ảnh mà ông ta không ngoảnh đi khỏi ống kính hoặc kéo vành mũ sụp xuống thấp đến mức kỳ cục, giống như một điệp viên ngụy trang quá kém. Ông ta không thích cô chụp ảnh cho mình mà thích những tấm hình chụp ở ảnh viện với thuật bố trí ánh sáng giúp tôn lên vẻ đẹp của ông ta hoặc một tư thế oai hùng hơn những tư thế ngẫu hứng mà Eva thích. Eva, trái lại, thích được chụp ảnh. Cô không chỉ muốn được chụp ảnh mà còn muốn xuất hiện trong một bộ phim. "Ein* bộ phim điện ảnh." Cô sẽ tới Hollywood ("vào một ngày nào đó") và diễn vai diễn chính mình, "câu chuyện cuộc đời tôi", cô nói. (Máy quay biến mọi thứ trở thành thật đối với Eva.) Có vẻ Quốc trưởng đã hứa hẹn. Dĩ nhiên, Quốc trưởng hứa hẹn rất nhiều điều. Nhờ thế ông ta mới lên được tới địa vị ngày hôm nay.
Tiếng Đức, nghĩa là "Đẹp lắm!"
Tiếng Đức, nghĩa là "một".
Eva chỉnh lại tiêu cự chiếc Rolleiflex. Ursula thấy mừng vì cô không mang theo cái máy ảnh hiệu Kodak cũ của mình, nó sẽ chẳng thể nào sánh nổi với chiếc máy ảnh của cô ấy. "Tôi sẽ rửa cho cô mấy tấm." Eva nói. "Cô có thể gửi chúng về Anh cho cha mẹ cô. Trông nó rất đẹp với những ngọn núi làm nền. Giờ hãy cười thật tươi nào! - Jetzt lach doch mal richtig!"
Hình ảnh ngọn núi chính là bức phông nền cho mọi bức ảnh được chụp ở đây, là bức phông nền cho tất cả mọi thứ. Hồi đầu, Ursula thấy nó thật đẹp, nhưng bây giờ cô bắt đầu cảm thấy sự hùng vĩ của nó thật ngột ngạt. Những vách đá lớn băng giá, những thác nước cuồn cuộn, những rặng thông trải dài bất tận - thiên nhiên và thần thoại hòa quyện vào nhau đã hình thành nên tâm hồn Đức thanh cao. Ursula cảm thấy dường như chủ nghĩa lãng mạn Đức đã được tôn lên lớn lao và huyền bí hơn, so với nó, vùng Hồ* của nước Anh có vẻ khá tẻ nhạt. Và tâm hồn Anh, nếu nó ngự trị ở đâu đó, thì đó hẳn là một khu vườn nằm e ấp sau nhà - với một thảm cỏ, một luống hoa hồng, một luống đậu đũa.
Lake District là một khu vực miền núi Tây Bắc nước Anh, nổi tiếng với hồ nước, rừng núi qua các tác phẩm đầu thế kỷ XIX của William Wordsworth và các nhà thơ khác sống ở khu vực này như Samuel Taylor Coleridge, Robert Southey... Họ được gọi là các nhà thơ Vùng Hồ, được coi là những người có đóng góp lớn cho trào lưu văn học theo chủ nghĩa lãng mạn.
Cô nên về nhà. Không phải Berlin, không phải Savignyplatz, mà là nước Anh. Là Góc Cáo.
Eva đặt Frieda lên lan can và Ursula lập tức giằng lấy cô bé. "Nó sợ độ cao." Cô nói. Eva luôn ngồi cheo leo trên cái lan can này hoặc dắt chó hay những đứa trẻ đi dọc theo nó. Vực sâu hun hút bên dưới nhìn mà hoa mắt chóng mặt. Từ đây có thể nhìn xuyên qua Berchtesgaden tới tận hồ Königsee. Ursula cảm thấy khá tiếc nuối cho Berchtesgaden nhỏ bé với những bồn hoa phong lữ tươi vui, giản dị bên dưới những ô cửa sổ cùng những đồng cỏ dốc xuống một hồ nước. Dường như đã lâu lắm rồi kể từ lần cô đến đây cùng Klara vào năm 1933. Giáo sư của Klara đã ly dị vợ, bây giờ Klara đã kết hôn với ông ta và họ có với nhau hai đứa con.
"Giống người lùn Nibelungen* sống ở trên đó đấy." Eva chỉ về phía những đỉnh núi xung quanh họ và nói với Frieda. "Cả những con yêu quái, phù thủy và quỷ khuyển nữa."
Trong tiếng Anh là Nibelung, là giống người lùn bị Siegfried tước đoạt kho báu trong thần thoại Bắc Âu.
"Quỷ khuyển ạ?" Frieda rụt rè hỏi lại. Chỉ riêng hai con chó sục Scotland phiền phức của Eva là Negus và Stasi đã khiến con bé sợ hãi rồi, chưa cần phải nghe nói đến giống người lùn và yêu quái.
Và mình đã nghe nói rằng, Ursula nghĩ, chính Charlemagne* đang ẩn náu ở Untersberg, ông ta đang ngủ trong một cái hang, chờ đợi được đánh thức để tham gia trận chiến cuối cùng giữa thiện và ác. Cô tự hỏi khi nào thì chuyện đó xảy ra. Có lẽ cũng sắp rồi.
Charlemagne của đế quốc Karolinger (742 hoặc 747 - 814): là vua của người Frank, được vinh danh là hoàng đế vĩ đại nhất nước Đức.
❄
"Một tấm nữa nào." Eva nói. "Cười tươi lên!" Chiếc máy ảnh Rolleiflex chớp nháy liên tục dưới ánh mặt trời. Eva còn có một cái máy quay phim, món quà đắt tiền do chính ngài Sói của cô ấy tặng, và Ursula cho rằng cô nên vui mừng vì họ không bị lưu lại hình ảnh cho hậu thế trong những thước phim màu. Ursula hình dung vào một thời điểm nào đó trong tương lai, có người sẽ lật giở những cuốn album ảnh (nhiều vô số) của Eva và tự hỏi Ursula là ai, có lẽ họ sẽ tưởng nhầm cô là em gái Gretl của Eva hoặc bạn của Eva là Herta, những nhân vật bên lề trong lịch sử.
Một ngày nào đó, đương nhiên, toàn bộ chuyện này sẽ được lưu lại trong lịch sử, kể cả những ngọn núi - suy cho cùng, cát chính là tương lai của những tảng đá. Hầu hết mọi người loay hoay trải qua những sự kiện và chỉ khi hồi tưởng lại họ mới nhận ra tầm quan trọng của chúng. Quốc trưởng thì khác, ông ta đang chủ động tạo nên lịch sử cho tương lai. Chỉ có người nào thực sự yêu bản thân mình mới có thể làm được điều đó. Và Speer đang thiết kế những tòa cao ốc cho Berlin để chúng trở thành những tàn tích tuyệt đẹp sau một ngàn năm nữa, đó chính là món quà ông ta dâng tặng cho Quốc trưởng. (Tầm vóc suy nghĩ của họ thật lớn lao! Ursula thì chỉ nghĩ đến những giờ khắc trước mắt, đấy chính là một hậu quả nữa của thiên chức làm mẹ, tương lai đối với cô cũng bí ẩn như quá khứ vậy.)
Speer là người duy nhất đối xử tử tế với Eva, do đó có lẽ Ursula đánh giá về ông ta thoáng hơn những gì ông ta xứng đáng nhận được. Ông ta cũng là người duy nhất trong số những Hiệp sĩ Teuton tương lai này có vẻ ngoài ưa nhìn, không bị tập tễnh hay trông giống như một con cóc hay một con lợn béo ục ịch, hoặc - tệ hơn - giống như một viên chức cấp thấp. ("Và tất cả bọn họ đều mặc quân phục!" Cô viết cho Pammy. "Nhưng tất cả đều chỉ là giả bộ. Giống như đang sống trong những trang sách của cuốn Tù nhân của Zenda* vậy. Họ cực kì giỏi trò giả ngốc." Cô ước gì Pammy đang ở đây bên cô, chị gái cô sẽ thích thú biết bao với việc phân tích tính cách của Quốc trưởng và đám bầy tôi trung thành của ông ta. Cô ấy sẽ kết luận rằng họ đều là những kẻ đạo đức giả bịp bợm và khoa trương.)
The Prisoner of Zenda: cuốn tiểu thuyết phiêu lưu của Anthony Hope, xuất bản năm 1894.
Lúc riêng tư, Jürgen tuyên bố rằng anh thấy tất cả bọn họ đều "cực kì" khiếm khuyết, nhưng ở chốn công cộng, anh lại cư xử như bất kỳ bầy tôi trung thành nào khác của Đức Quốc xã. Anh nói đó chỉ là Lippenbekenntnis - sự phục tùng ngoài mặt. (Buộc phải làm vậy, Sylvie sẽ nói thế.) Anh nói đó là cách để xoay xở trong thế giới này. Ursula cho rằng về mặt này, anh khá giống Maurice. Maurice nói ta phải thỏa hiệp với những kẻ ngốc và những con lừa cứng đầu thì mới thăng tiến được trong sự nghiệp. Đương nhiên, Maurice cũng là một luật sư. Dạo gần đây anh ta có chức vụ khá cao trong Bộ Nội vụ. Nếu chiến tranh xảy ra, liệu chuyện này có trở thành một vấn đề rắc rối với cô không? Liệu chiếc áo giáp "công dân Đức" - được khoác lên người cô một cách miễn cưỡng - có đủ để bảo vệ cô? (Nếu chiến tranh xảy ra! Liệu cô có thể thực sự chấp nhận được việc phải ở lại phía bên này của eo biển Anh*?)
Tức eo biển Manche, một đoạn eo biển dài thuộc Đại Tây Dương xen giữa đảo Anh và bờ biển phía bắc của Pháp, ngăn cách nước Anh và phần còn lại của châu Âu.
Jürgen là một luật sư. Nếu anh muốn hành nghề luật, anh phải gia nhập Đảng Quốc xã, anh không có sự lựa chọn. Lippenbekenntnis. Anh làm việc cho Bộ Tư pháp ở Berlin. Vào thời điểm anh cầu hôn cô ("Một mối tình tiến triển nhanh đến chóng mặt." Cô viết cho Sylvie), anh đã từ bỏ quan điểm chính trị cũ của mình.
Bây giờ Jürgen đã từ bỏ quan điểm chính trị cánh tả và trung thành với Quốc xã để bảo vệ những gì đã đạt được - đất nước này đang phát triển trở lại - một công việc chính thức, thức ăn, sức khỏe, sự tự tôn. Anh nói, những công việc mới, những con đường mới, những nhà máy mới, những hy vọng mới - còn cách nào khác để họ có được những thứ này? Nhưng đi cùng với chúng là một sự sùng bái giả tạo và một vị cứu tinh giả dối đáng phẫn nộ. "Mọi thứ đều có giá của nó." Jürgen nói. Nhưng có lẽ giá của chúng không cao như thế này. (Bằng cách nào mà họ làm được như vậy chứ? Ursula thường tự hỏi. Chủ yếu là sự sợ hãi và nghệ thuật dựng kịch. Nhưng toàn bộ tiền bạc và việc làm này đến từ đâu? Có lẽ chỉ từ việc sản xuất ra những lá cờ và những bộ quân phục, những thứ đó đủ để cứu vãn hầu hết các nền kinh tế. "Dù sao đi nữa nền kinh tế cũng đang hồi phục." Pamela viết. "Quả là một sự trùng hợp đáng mừng đối với Đảng Quốc xã vì họ có thể nhận vơ là mình đã tạo ra sự hồi phục này.") Phải, anh nói, ban đầu thì có bạo lực, nhưng đó chỉ là một sự bùng phát, một cơn sóng, là sự xả giận của phe Sturmabteilung*. Nhưng bây giờ tất cả mọi thứ, tất cả mọi người đều đã thông suốt hơn.
Sturmabteilung, viết tắt là SA (tiếng Đức nghĩa là Binh đoàn bão táp hay Lực lượng bão táp), hoạt động như một tổ chức bán quân sự của Đảng Quốc xã Đức. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tiến lên nắm chính quyền của Adolf Hitler vào những năm 30 của thế kỷ XX cho đến khi bị thay thế bởi SS sau cuộc thanh trừng "Đêm của những con dao dài".
Vào tháng Tư, họ tham gia buổi diễu hành mừng sinh nhật lần thứ năm mươi của Quốc trưởng ở Berlin. Jürgen cũng có được vài chỗ ở khán đài dành cho khách. "Một niềm vinh dự." Anh nói. Cô tự hỏi anh đã làm gì để có được "niềm vinh dự" ấy? (Anh có vui vì điều đó không? Đôi khi thật khó để nhận ra.) Anh đã không thể kiếm được cho họ vé xem Olympics vào năm 1936 nhưng bây giờ họ đang ở đây, sánh vai với những vị khách VIP của Đệ tam Quốc xã. Dạo này anh luôn bận rộn. "Luật sư chẳng bao giờ ngủ." Anh nói. (Nhưng theo những gì Ursula thấy thì họ đang chuẩn bị ngủ giấc ngủ ngàn thu.)
Buổi diễu hành kéo dài mãi không dứt, là sự phô diễn lớn nhất về nghệ thuật quảng bá của Goebbels. Những khúc nhạc chiến vang lên hùng hồn rồi sau đó là sự mở màn của Không quân Đức - hết đội máy bay này đến đội máy bay khác tập hợp thành hàng ngũ chỉnh tề ồn ào và oai vệ bay dọc theo trục đông tây và bên trên cổng Brandenburg. Lại là "âm thanh và cuồng nộ". "Chúng là máy bay Heinkel và Messerchmitt." Jürgen nói. Làm sao anh biết? Đàn ông ai chả biết về máy bay, anh nói.
Tiếp đó là cuộc diễu hành qua lễ đài của các trung đoàn, hàng hàng lớp lớp đội ngũ binh sĩ nối đuôi nhau không biết mệt mỏi, chân vung thẳng tắp theo kiểu chân ngỗng, đi đều dọc theo con đường. Họ khiến Ursula nghĩ đến những cô gái trong nhóm nhảy Tiller với kiểu đá cao chân đặc trưng. "Stechschritt*." Ursula nói. "Ai đã sáng tạo ra nó nhỉ?"
Tiếng Đức, tên gọi của kiểu bước đều với chân vung cao, thẳng về đằng trước, đầu gối không cong gập. Tiếng Anh gọi là bước kiểu chân ngỗng.
"Người Phổ." Jurgen cười. "Đương nhiên rồi."
❄
Cô lấy ra một thanh sô cô la, bẻ một mẩu và mời Jürgen. Anh cau mày và lắc đầu như thể cô đã tỏ ra thiếu tôn trọng sức mạnh của quân đội. Cô ăn một mẩu nữa. Những hành động chống đối nho nhỏ.
Anh ghé sát vào cô để cô có thể nghe thấy lời anh - đám đông đang reo hò vô cùng huyên náo - "Em thực sự phải ngưỡng mộ sự chuẩn xác của họ." Anh nói. Có chứ, cô ngưỡng mộ điều đó. Nó thật phi thường. Hoàn hảo đến mức trông họ như những người máy giống hệt nhau được sản xuất ra từ cùng một dây chuyền. Nhìn họ không giống người lắm, nhưng các đội quân đâu cần phải trông giống người, đúng không? ("Tất cả đều mang khí thế mạnh mẽ của giống đực." Cô kể với Pamela.) Liệu quân đội Anh có thể diễu hành đều tăm tắp như người máy với quy mô thế này không? Quân đội Xô Viết thì có lẽ có, nhưng quân đội Anh phần nào ít tận tâm hơn.
Frieda đã ngủ trên đầu gối cô khi buổi diễu hành chỉ vừa mới bắt đầu. Suốt lúc đó Hitler luôn giơ tay chào, cánh tay ông ta cứng nhắc giơ thẳng ra trước mặt (cô có thể loáng thoáng nhìn thấy ông ta từ chỗ họ đang ngồi, thực ra là chỉ có cánh tay ông ta thôi, nó vươn thẳng như một que cời lửa vậy). Hiển nhiên là quyền lực tạo cho người ta một sức chịu đựng dị thường. Nếu đây là sinh nhật lần thứ năm mươi của mình, Ursula nghĩ, mình sẽ tổ chức bên bờ sông Thames, sông Bray hoặc sông Henley hoặc một nơi nào quanh đó, với một bữa ăn ngoài trời kiểu Anh chính hiệu - một bình thủy đựng trà hiệu Thermos, bánh mì cuộn xúc xích, sandwich kẹp trứng và cải xoong, bánh kem và bánh nướng. Cả gia đình cô sẽ có mặt trong bức tranh này, nhưng liệu Jürgen có phải là một phần của bức họa đồng quê ấy không? Anh sẽ rất hòa hợp. Anh sẽ nằm dài trên bãi cỏ trong bộ đồ chèo thuyền bằng vải flannel và nói chuyện về môn cricket với Hugh. Họ đã gặp gỡ và có mối quan hệ tốt đẹp. Vợ chồng cô đã từng về thăm nước Anh, về thăm Góc Cáo vào năm 1935. "Cậu ấy có vẻ là một chàng trai tốt." Hugh nói, tuy nhiên khi biết rằng cô đã trở thành công dân Đức, ông kém vui hơn hẳn. Giờ thì cô biết đó là một sai lầm khủng khiếp. "Nhận thức muộn màng là một điều tuyệt vời." Klara nói. "Nếu tất cả chúng ta đều sáng suốt, sẽ chẳng có cái gọi là lịch sử."
Đáng lẽ cô nên ở lại Anh. Đáng lẽ cô nên ở lại Góc Cáo, với đồng cỏ, rừng cây và con suối chảy qua rừng hoa chuông xanh.
Những "cỗ máy của chiến tranh" bắt đầu diễu qua. "Xe tăng đây rồi." Jürgen nói bằng tiếng Anh khi chiếc Panzer* đầu tiên xuất hiện, được chở trên thùng sau của xe tải. Tiếng Anh của anh rất tốt vì anh từng học một năm ở Oxford (do đó anh mới có kiến thức về môn cricket). Tiếp đó là những chiếc Panzer khác tự mình lăn bánh, những chiếc mô tô ba bánh, những chiếc xe bọc giáp, rồi đến đội kỵ binh lịch lãm đi nước kiệu (đấy là một đơn vị được đặc biệt yêu mến - Ursula đánh thức Frieda dậy để xem lũ ngựa), và kế đến là pháo binh, từ những khẩu pháo dã chiến hạng nhẹ đến những khẩu pháo phòng không đồ sộ và những khẩu đại bác khổng lồ.
Trong tiếng Đức có nghĩa là "bọc giáp", chỉ các loại xe tăng chiến đấu của quân Đức trong Thế chiến thứ Hai. Trong một vài trường hợp, thuật ngữ này còn được dùng để chỉ các đơn vị thiết giáp của Đức.
"K-3 đấy." Jürgen nói với vẻ tán thưởng, như thể nó sẽ có ý nghĩa gì đó với cô.
Cuộc diễu hành cho Ursula thấy một tình yêu với trật tự và hình học mà cô không tài nào hiểu nổi. Điều này không khác gì so với tất cả những cuộc diễu hành và biểu dương lực lượng khác - tất cả những "rạp hát" đó - nhưng cuộc diễu hành này dường như quá hiếu chiến. Quá nhiều loại vũ khí đến mức choáng váng - đất nước này được trang bị vũ khí đến tận răng! Ursula đã không hề hay biết gì. Thảo nào mọi người có nhiều việc để làm đến vậy. "Maurice nói nếu ta muốn giải cứu nền kinh tế ta cần một cuộc chiến." Pamela viết. Và ta cần vũ khí làm gì nếu không phải để phục vụ cho chiến tranh?
"Việc củng cố quân đội đã giúp khôi phục lại tinh thần của chúng ta." Jürgen nói. "Trả lại cho chúng ta niềm tự hào về đất nước mình. Khi các vị tướng đầu hàng vào năm 1918..." Ursula chẳng buồn nghe nữa, lý lẽ này cô đã nghe quá nhiều lần. "Chính họ đã gây ra cuộc chiến lần trước." Cô giận dữ viết thư cho Pamela. "Và thành thực mà nói, họ cứ làm như họ là những người duy nhất phải vật lộn với cuộc sống thời hậu chiến, ngoài họ ra thì chẳng có ai khác nghèo đói hoặc mất đi người thân vậy." Frieda lại tỉnh dậy và nổi cáu. Cô cho con bé ăn sô cô la. Ursula cũng nổi cáu. Cả hai mẹ con cùng ăn hết thanh sô cô la ấy.
Màn cuối cùng thực sự khá ấn tượng. Những lá cờ nhiều màu sắc của các trung đoàn được xếp thành một hàng dài trước bục lễ đài của Hiler - một đội hình ngay hàng thẳng lối đến mức các cạnh của nó như được cắt bằng lưỡi dao cạo - và rồi họ ngả những lá cờ về đằng trước để tỏ lòng tôn kính ông ta. Đám đông trở nên cuồng loạn.
"Em nghĩ thế nào?" Jürgen hỏi khi họ lê bước ra khỏi khán đài. Anh kiệu Frieda trên vai.
"Hoành tráng." Ursula nói. "Thật là hoành tráng!" Cô có thể cảm thấy cơn đau đầu đang len lỏi vào thái dương cô.
❄
Frieda bắt đầu bị bệnh vào một buổi sáng của vài tuần trước với một cơn sốt nhẹ. "Con thấy mệt quá." Frieda nói. Khi sờ trán con bé, Ursula thấy trán nó dấp dính và cô nói: "Con không phải đến nhà trẻ, hôm nay con có thể ở nhà với mẹ."
"Một cơn cảm lạnh mùa hè ấy mà." Jürgen nói khi anh về nhà. Frieda rất dễ mắc bệnh về phổi ("Giống mẹ của mẹ." Sylvie rầu rĩ nói) và họ đã quen với những cơn cảm lạnh, hắt hơi, sổ mũi và viêm họng của con bé, nhưng lần này bệnh tình của con bé chuyển biến xấu rất nhanh, Frieda bị sốt nặng rồi lơ mơ. Da con bé như sắp bốc cháy. "Hãy chườm mát cho cô bé." Bác sĩ nói. Ursula đặt những mảnh vải ướt lên trán con bé rồi đọc truyện cho con bé nghe, nhưng dù Frieda cố gắng thế nào cũng không thể có hứng thú với những câu chuyện ấy. Sau đó, con bé bị mê sảng. Sau khi nghe hai lá phổi rin rít của con bé, bác sĩ nói: "Viêm phế quản, cô phải đợi cho bệnh tự hết thôi."
Đêm đó, bệnh của Frieda đột nhiên nặng hẳn lên và họ quấn thân hình nhỏ bé gần như bất động của con bé trong một tấm chăn và xồng xộc lao lên một chiếc taxi để tới bệnh viện gần nhất, một bệnh viện Công giáo. Con bé được chẩn đoán mắc bệnh viêm phổi. "Cô bé nhỏ và yếu quá." Bác sĩ nói, như thể họ là kẻ đáng trách.
Ursula không rời khỏi giường của Frieda suốt hai ngày hai đêm, cô cứ bám chặt vào bàn tay bé bỏng của con bé để giữ con bé lại với thế giới này. "Giá mà anh có thể bị bệnh thay nó." Jürgen thì thầm từ phía bên kia những tấm chăn màu trắng hồ cứng cũng đang giúp ghim chặt Frieda với thế giới này. Các nữ tu lượn lờ quanh phòng bệnh giống như những chiếc thuyền buồm lớn đang bơi trên những con sóng dữ khổng lồ. Trong một thoáng lơ đãng, khi sự chú ý của cô không tập trung cả vào Frieda, Ursula tự hỏi phải mất bao lâu các vị nữ tu ấy mới mặc xong đồ vào mỗi buổi sáng? Ursula chắc chắn cô sẽ rối hết cả lên. Chỉ riêng chiếc khăn trùm đầu đã là một lý do chính đáng để cô không trở thành một nữ tu.
Họ cầu mong Frieda giữ được mạng sống và con bé đã làm được điều đó. Triumph des Willens*. Cơn bệnh đã qua và con bé bắt đầu chặng đường hồi phục dài đằng đẵng. Con bé vẫn còn xanh rớt và yếu ớt nên cần được dưỡng bệnh. Vào một buổi tối, khi Ursula từ bệnh viện về nhà, cô thấy một chiếc phong bì được giao bằng tay ở cửa nhà họ.
Tiếng Đức, nghĩa là "niềm tin chiến thắng". Đấy cũng là tên một bộ phim tài liệu tuyên truyền về Đại hội Đảng Quốc xã tại Nuremberg năm 1934 của đạo diễn Leni Riefenstahl.
"Từ Eva." Cô nói với Jürgen và đưa cho anh xem lá thư khi anh đi làm về.
"Eva là ai?" Anh hỏi.
❄
"Cười lên nào!" Tách, tách, tách. Cô nghĩ rằng cô sẽ làm bất cứ thứ gì để giúp Eva vui vẻ. Cô sẽ không ngần ngại. Eva đã rất tử tế khi mời họ đến đây để Frieda có thể hít thở bầu không khí trong lành của miền núi, ăn rau tươi, trứng tươi và uống sữa tươi từ Gutshof, trang trại kiểu mẫu trên các con dốc bên dưới Berghof.
"Đó có phải là một lời mời long trọng không?" Jürgen hỏi. "Em có thể từ chối không? Em có muốn từ chối không? Anh hy vọng là không. Không khí ở đó cũng sẽ giúp chữa trị cho bệnh đau đầu của em." Dạo gần đây cô nhận ra rằng anh càng bước lên cao trên những bậc thang quyền lực thì những cuộc trò chuyện của họ càng trở nên giống với những cuộc độc thoại. Anh đưa ra những lời khẳng định, đặt ra những câu hỏi, trả lời những câu hỏi ấy và rút ra kết luận mà chẳng cần cô đáp lời. (Có lẽ đây là cách trò chuyện của một luật sư.) Anh thậm chí còn có vẻ không nhận thức được rằng mình đang làm điều đó.
"Lão dê già cuối cùng cũng có một người phụ nữ rồi sao? Ai mà đoán ra được chứ? Em có biết không? Không, em sẽ nói là không. Và ai mà ngờ em lại quen cô ta chứ. Điều đó sẽ có lợi cho chúng ta, đúng không? Ở quá gần ngai vàng. Điều đó sẽ có lợi cho sự nghiệp của anh, đồng nghĩa với việc có lợi cho chúng ta. Liebling*." Anh hời hợt nói thêm.
Tiếng Đức, nghĩa là "em yêu".
Ursula nghĩ rằng ở quá gần ngai vàng sẽ rất nguy hiểm. "Em không biết Eva." Ursula nói. "Em chưa bao giờ gặp cô ấy. Bà Brenner mới là người biết cô ấy, biết mẹ cô ấy, bà Braun. Klara từng thỉnh thoảng làm việc ở hiệu ảnh của Hoffmann cùng với Eva. Họ học chung trường mẫu giáo với nhau."
"Thật là tuyệt!" Jürgen nói. "Từ Kaffeeklatsch* tới cái ghế quyền lực trong ba bước dễ dàng. Cô Eva Braun ấy có biết rằng người bạn cũ học chung trường mẫu giáo với mình là Klara đã kết hôn với một người Do Thái không?" Cái cách anh nói ra từ đó khiến cô ngạc nhiên. Jude*. Cô chưa bao giờ nghe thấy anh nói kiểu như thế - đầy mỉa mai và khinh miệt. Trái tim cô như bị xuyên một cái đinh. "Em không biết." Cô nói. "Em không tham gia vào cái mà anh gọi là Kaffeeklatsch."
Tiếng Đức, nghĩa là cuộc gặp gỡ uống cà phê và trò chuyện thân mật.
Tiếng Đức, nghĩa là "người Do Thái".
❄
Quốc trưởng chiếm quá nhiều chỗ trong cuộc đời của Eva đến nỗi khi ông ta không có ở đấy, cô chỉ còn là một cái bình trống rỗng. Mỗi khi người tình của Eva đi vắng, đêm nào cô cũng thức canh điện thoại và dỏng tai lên như một chú chó để chờ cuộc gọi sẽ mang giọng nói của ông chủ cô tới với cô.
Và ở trên này cũng chẳng có mấy việc để làm. Sau một thời gian, việc dạo bộ dọc theo những con đường mòn trong rừng và bơi trong hồ Königsee (lạnh cóng) chẳng còn tiếp thêm sinh lực cho ta mà chỉ càng khiến ta kiệt sức. Suốt ngày chỉ có hái hoa dại và sưởi nắng trên những chiếc ghế dài ở hàng hiên khiến người ta như sắp phát điên. Trên Berg có vô số bảo mẫu và vú em, tất cả bọn họ đều tranh nhau chơi với Frieda, vì vậy Ursula thấy mình cũng có nhiều thời gian rảnh như Eva vậy. Cô đã ngốc nghếch mang theo đúng một quyển sách, cũng may nó là một quyển sách dài, cuốn Der Zauberberg của Mann. Cô đã không nhận ra nó nằm trong danh sách cấm. Một sĩ quan Wehrmacht* nhìn thấy cô đọc nó đã nói: "Cô to gan quá, đó là một trong những cuốn sách cấm của họ đấy." Cô cho rằng việc anh ta nói từ "của họ" ám chỉ rằng anh ta không phải là một người trong số "họ". Điều tệ nhất mà họ có thể làm là gì? Tước đoạt cuốn sách của cô và ném nó vào cái lò ở trong bếp ư?
Wehrmacht, tạm dịch "Lực lượng Vệ quốc", là tên gọi thống nhất của các lực lượng vũ trang quân đội Đức Quốc xã từ năm 1935 đến năm 1945. Wehrmacht bao gồm Heer (lục quân), Kriegsmarine (hải quân) và Luftwaffe (không quân). Đấy là lực lượng chiến đấu chính của Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, được đánh giá là lực lượng quân đội hùng mạnh nhất thế giới vào thời điểm này.
Người sĩ quan Wehrmacht đó thật tử tế. Anh ta nói bà anh ta là người Scotland và anh ta đã có rất nhiều kỳ nghỉ vui vẻ ở "vùng cao nguyên".
Im Grunde hat es eine merkwürdige Bewandtnis mit diesem Sicheinleben an fremdem Orte, dieser - sei es auch - mühseligen Anpassung und Umgewöhnung*, cô đọc và khó nhọc dịch nó sang tiếng Anh nhưng cô dịch khá tệ - "Có điểm gì đó kỳ lạ ở việc chuyển đến một nơi ở mới, sự thích nghi và làm quen một cách khó nhọc..." Đúng quá! Cô nghĩ. Các tác phẩm của Mann thường khó đọc. Thà rằng cô mang theo một thùng tiểu thuyết Gothic lãng mạn của Bridget còn hơn. Cô chắc chắn chúng sẽ không verboten*.
Tiếng Đức trong nguyên bản.
Tiếng Đức, nghĩa là "bị cấm".
❄
Không khí vùng núi chẳng có tác dụng gì với những cơn đau đầu của cô (Thomas Mann cũng vậy). Chúng chỉ càng trở nên tệ hơn. Kopfschmerzen*, chỉ riêng từ đó đã khiến đầu cô đau nhói. "Tôi không thể tìm ra nguyên nhân." Bác sĩ ở bệnh viện nói với cô. "Chắc là do dây thần kinh của cô." Ông ta kê cho cô một đơn thuốc an thần.
Tiếng Đức, nghĩa là "đau đầu".
Eva cũng chẳng có kiến thức gì để giúp cô nhưng Berg không phải là "triều đình" của giới trí thức. Người duy nhất mà ta có thể gọi là một nhà tư tưởng chính là Speer. Nhưng Ursula ngờ rằng thế không có nghĩa là Eva có một cuộc sống êm đềm. Cô có thể cảm nhận được sự chán nản và rối bời ẩn giấu bên dưới tất cả Lebenslust* đó, nhưng sự lo lắng không phải là thứ mà một người đàn ông tìm kiếm ở cô nhân tình của mình.
Tiếng Đức, nghĩa là "sự yêu đời".
Ursula cho rằng để trở thành một cô nhân tình thành công (mặc dù cô chưa bao giờ là nhân tình của ai, dù thành công hay không thành công), người phụ nữ nên là nguồn an ủi và khuây khỏa, là chiếc gối thư giãn cho cái đầu mệt mỏi. Gemütlichkeit*. Eva rất đáng yêu, cô tán gẫu về những chuyện vụn vặt và không cố gắng tỏ ra khôn khéo hay sắc sảo. Những người đàn ông quyền lực cần người phụ nữ của mình phải thật nhu mì, tổ ấm không nên là vũ đài của sự tranh luận. "Chồng em nói với em như thế nên điều đó hẳn là đúng!" Cô viết cho Pamela. Anh không nói về mình - anh không phải là người đàn ông quyền lực. "Ít ra cũng chưa phải." Anh cười.
Tiếng Đức, nghĩa là "ấm áp", "ấm cúng".
Eva chỉ lo rằng thế giới chính trị sẽ lấy mất đối tượng sùng bái của cô. Cô bị gạt đi một cách thô bạo khỏi con mắt của công chúng, không có địa vị chính thức, hoàn toàn không có địa vị gì, trung thành như một chú chó nhưng còn chẳng được tôn trọng bằng một chú chó. Blondi* còn có địa vị cao hơn Eva. Eva nói nỗi nuối tiếc lớn nhất của cô là không được phép gặp nữ công tước khi vợ chồng Công tước Windsor* đến thăm biệt thự Berghof.
Tên con chó béc giê của Hitler.
Tức Vua Edward VIII (1894 - 1972): Edward trở thành vua của nước Anh sau khi phụ hoàng băng hà đầu năm 1936. Chỉ vài tháng sau khi lên ngôi, ông gây ra một vụ khủng hoảng khi kết hôn với Wallis Simpson, một phụ nữ đến từ Hoa Kỳ đã từng ly dị một lần và đang sống ly thân với người chồng thứ hai. Thủ tướng Anh và các thuộc địa phản đối hôn sự này Edward buộc phải chọn cách thoái vị. Ngai vàng được chuyển cho người em trai của ông, Hoàng tử Albert. Với thời gian trị vì chỉ 326 ngày, Edward là một trong số những vị vua có thời gian cai trị ngắn nhất trong lịch sử Anh quốc.
Ursula cau mày khi nghe thấy điều này. "Nhưng bà ta là người ủng hộ Đảng Quốc xã mà, cô biết đấy." Cô buột miệng nói. ("Em cho rằng em nên cẩn trọng hơn trong lời ăn tiếng nói!" Cô viết cho Pamela.) Eva chỉ trả lời "Vâng, đương nhiên là bà ấy ủng hộ Đảng Quốc xã", như thể việc vợ của người từng là vua Anh ủng hộ Hitler là điều tự nhiên nhất trên đời này vậy.
Hẳn là người ta mong đợi Quốc trưởng bước trên con đường trinh bạch đơn độc và cao quý. Ông ta không thể kết hôn bởi vì ông ta đã hiến mình cho nước Đức. Ông ta đã hiến thân cho số phận của đất nước mình - ít nhất đó là nguyên nhân chính, Ursula nghĩ có lẽ cô đã lén ngủ gật khi nghe đến điều này. (Đó là một trong những vở kịch độc thoại bất tận sau bữa tối của ông ta.) Giống như Nữ vương Đồng trinh* của chúng tôi, cô nghĩ, nhưng không nói ra, vì cô cho rằng Quốc trưởng sẽ không thích bị so sánh với một người phụ nữ, cho dù là một người phụ nữ có dòng dõi vương giả, quý tộc của Anh với trái tim và tinh thần của một vị vua. Hồi Ursula còn đi học, trường cô có một giáo viên lịch sử đặc biệt thích trích dẫn lời của Elizabeth I. Đừng kể bí mật cho những người mà ta chưa kiểm tra được xem họ có đáng tin cậy và giữ được im lặng hay không.
Tức Nữ hoàng Elizabeth I của Anh (1533 - 1603): là nữ vương của nước Anh và Ireland từ ngày 17 tháng 11 năm 1558 cho đến khi qua đời. Bà không kết hôn nên còn được biết đến với biệt danh Nữ vương Đồng trinh.
❄
Eva sẽ vui hơn biết bao nhiêu nếu được ở lại Munich trong ngôi nhà kiểu tiểu tư sản mà Quốc trưởng đã mua cho cô, nơi cô có thể sống một cuộc sống bình thường, được tự do giao lưu với nhiều người. Còn ở đây, trong cái lồng dát vàng này, cô phải tự tiêu khiển bằng cách lật giở những cuốn tạp chí, bàn luận về những kiểu tóc mới nhất và đời sống tình cảm của những ngôi sao điện ảnh (cứ như Ursula hiểu biết về chủ đề ấy vậy), và diện hết bộ đồ này đến bộ đồ khác như một nghệ sĩ biểu diễn trò thay đổi trang phục nhanh. Ursula đã vào phòng ngủ của Eva vài lần, đó là một buồng the xinh đẹp, đầy nữ tính, rất khác so với lối bài trí ngột ngạt của phần còn lại của Berghof, chỉ có một khuyết điểm duy nhất là bức chân dung của Quốc trưởng được treo trang trọng trên tường. Vị anh hùng của cô ấy. Quốc trưởng không treo bức chân dung nào của nhân tình trong phòng mình. Thay vì khuôn mặt của Eva đang mỉm cười với mình ở trên tường, ông ta lại phải đối mặt với những nét nghiêm nghị của vị anh hùng yêu quý của chính ông ta, Frederick Đại đế - Friedrich der Grosse.
"Em luôn nghe nhầm từ "vĩ đại" thành "người bán tạp phẩm", cô viết cho Pamela. Người bán tạp phẩm nói chung không phải là những kẻ hiếu chiến và thích chinh phạt. Quốc trưởng đã làm gì để trở nên vĩ đại như vậy? Eva nhún vai, cô ấy không biết. "Ông ấy luôn là một chính trị gia. Ông ấy sinh ra đã là một chính trị gia." Không, Ursula nghĩ, khi mới sinh ra, ông ta cũng chỉ là một đứa trẻ như tất cả những người khác. Và ông ta đã lựa chọn trở thành một người như thế này.
Phòng ngủ của Quốc trưởng, liền kề với phòng tắm của Eva, là lãnh địa cấm. Thế nhưng Ursula đã từng nhìn thấy ông ta ngủ, không phải trong căn phòng bất khả xâm phạm kia mà dưới ánh nắng ấm áp sau bữa ăn trên hàng hiên của Berghof, cái miệng của người chiến binh vĩ đại hơi há ra làm mất đi vẻ tôn nghiêm. Trông ông ta thật sơ hở nhưng trên Berg không có kẻ ám sát nào. Có rất nhiều súng, Ursula nghĩ, rất dễ để chộp được một khẩu Luger và bắn vào tim hay đầu ông ta. Nhưng rồi chuyện gì sẽ xảy ra với cô? Tệ hơn, chuyện gì sẽ xảy ra với Frieda?
Eva ngồi cạnh ông ta, trìu mến ngắm nhìn ông ta như thể ông ta là một đứa trẻ. Trong giấc ngủ, ông ta chẳng thuộc về ai khác ngoài cô ấy.
Về cơ bản, cô ấy là một người phụ nữ trẻ xinh đẹp. Ta không thể đánh giá một người phụ nữ qua người đàn ông mà cô ấy ngủ cùng. (Đúng không nhỉ?)
Eva có thân hình tuyệt vời giống như một vận động viên khiến Ursula cảm thấy khá ghen tỵ. Cô ấy là một cô gái khỏe khoắn, ham thích thể thao - bơi lội, trượt tuyết, trượt băng, khiêu vũ, thể dục - cô ấy yêu các hoạt động ngoài trời, cô ấy ưa vận động. Vậy mà cô ấy lại bám dính vào một người đàn ông trung niên lười biếng, một sinh vật hoạt động về đêm, theo đúng nghĩa đen, ông ta không ra khỏi giường trước buổi trưa (vậy mà ông ta vẫn có thể ngủ một giấc ngắn vào buổi chiều), ông ta không hút thuốc, uống rượu, nhảy nhót hay có những thói vui vô bổ khác - ông ta có lối sống kỷ luật nghiêm ngặt như người Sparta nhưng lại chẳng chú trọng rèn luyện sức khỏe. Ông ta chẳng bao giờ để ai nhìn thấy mình cởi đồ, chiếc quần ngắn nhất ông ta mặc là chiếc quần Lederhosen truyền thống (trông nó khó coi đến mức khôi hài trong con mắt của một người không phải là dân vùng Bavaria). Hơi thở hôi hám của ông ta đã làm Ursula kinh tởm trong buổi gặp gỡ đầu tiên giữa họ. Ông ta còn uống thuốc như ăn kẹo vì "chứng đầy hơi" của mình ("Anh nghe thấy ông ấy xì hơi." Jürgen nói. "Cũng đã nghe mọi người cảnh báo trước rồi. Hẳn là vì ông ấy ăn nhiều rau quá".) Ông ta quan tâm đến phẩm cách nhưng không thực sự kiêu ngạo. "Chỉ là một kẻ mắc chứng hoang tưởng tự đại thôi." Cô viết cho Pamela.
❄
Eva đã phái một người tài xế đánh xe đến đón hai mẹ con Ursula. Khi hai mẹ con tới Berghof, Quốc trưởng đã đích thân chào đón họ - trên những bậc thang lớn, nơi ông ta chào đón những người quyền cao chức trọng, nơi ông ta chào đón Chamberlain vào năm ngoái. Khi Chamberlain trở về Anh, Chamberlain nói rằng giờ thì ông ta "đã biết trong đầu ngài Hitler suy nghĩ những gì". Ursula ngờ rằng chẳng ai biết được điều đó, kể cả Eva. Đặc biệt là Eva.
"Rất hoan nghênh cô, gnädiges Frau*." Ông ta nói. "Cô nên ở lại cho đến khi sức khỏe của liebe Kleine* trở nên khá hơn."
Tiếng Đức, nghĩa là "quý bà duyên dáng".
Tiếng Đức, nghĩa là "cô bé thân yêu".
"Ông ta thích phụ nữ, trẻ con và chó, thực sự thì có điểm gì đáng để chê trách nào?" Pamela viết. "Chỉ tiếc một điều ông ta là kẻ độc tài không tôn trọng luật pháp hay nhân loại." Pamela có vài người bạn ở Đức từ hồi còn học đại học, nhiều người trong số họ là người Do Thái. Cô có một bầy con đông đúc gồm ba cậu con trai nghịch như quỷ (cô bé Frieda trầm lặng sẽ bị lấn át nếu đến Finchley), và giờ cô viết thư cho Ursula khoe rằng cô lại đang mang thai, "mong rằng nó là con gái". Ursula cảm thấy nhớ Pammy.
Pamela sẽ không thể sống yên ổn dưới chế độ này. Cô dễ dàng phẫn nộ vì những vi phạm nguyên tắc đạo đức nên sẽ không thể giữ im lặng. Cô sẽ không thể cắn lưỡi để kiềm chế không thốt ra miệng những điều không nên nói giống như Ursula (như thể đang đeo một cái niềng kẹp lưỡi* vậy). Những người chỉ đứng đợi cũng là phụng sự rồi*. Điều đó có được áp dụng với nguyên tắc xử thế của một người không? Liệu đây có phải là sự biện bạch của mình? Ursula tự hỏi. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu trích dẫn Edmund Burke* thay vì Milton*. Điều tất yếu giúp cái ác lên ngôi trên thế giới này là những người phụ nữ tốt không làm gì cả.
Một dụng cụ tra tấn thời xưa dành cho những người phụ nữ nói nhiều hoặc bị cho là phù thủy.
Một câu trong bài thơ On his blindness của John Milton.
Edmund Burke (1729 -1797): một chính khách, nhà văn, nhà hùng biện, nhà lý thuyết học chính trị và nhà triết học người Ireland. Edmund Burke được xem là nhà sáng lập tư tưởng của chủ nghĩa bảo thủ hiện đại và là đại diện của chủ nghĩa tự do cổ điển.
John Milton (1608 - 1674): một nhà thơ, soạn giả, nhà bình luận văn học người Anh. Ông nổi tiếng với bài thơ "Thiên đường đã mất" (Paradise Lost), "Thiên đường trở lại" (Paradise Regained) và Areopagitica - bài luận lên án sự kiểm duyệt.
Ngay sau ngày mẹ con Ursula đến đó, nơi này đã tổ chức một bữa tiệc sinh nhật cho con của ai đó, Ursula cũng không rõ đó là đứa trẻ nhà Goebbels hay Bormann - ở đó có quá nhiều trẻ con và chúng trông cứ na ná nhau. Chúng gợi cho Ursula nhớ đến những hàng binh lính trong buổi diễu hành mừng sinh nhật của Quốc trưởng. Đứa nào đứa nấy đều sạch sẽ và tinh tươm, từng đứa sẽ nhận được một lời căn dặn đặc biệt từ Bác Sói* trước khi được phép thưởng thức chiếc bánh kem bày trên một cái bàn dài. Frieda tội nghiệp vốn hảo ngọt (điểm này con bé rõ ràng giống hệt mẹ nó) nhưng chẳng ăn nổi thứ gì vì quá mỏi mệt. Hai mắt con bé cứ trĩu xuống. Ở Berghof luôn có bánh ngọt, nào là bánh Streusel, bánh Torte nhân quế và mận, bánh ngàn lớp, bánh kem sô cô la - những chiếc bánh Schwarzwälder Kirschtorte hình vòm to tướng - Ursula tự hỏi người nào ăn hết chỗ bánh này. Nếu là cô thì chắc chắn sẽ phải cố hết sức mới có thể ăn nổi.
Chỉ Hitler.
Tuy một ngày ở bên Eva tẻ nhạt như vậy nhưng nó vẫn chẳng là gì so với một buổi tối có mặt Quốc trưởng. Sau bữa tối, họ phải dành hàng tiếng đồng hồ bất tận ở đại sảnh - một căn phòng xấu xí, rộng thênh thang nơi họ nghe máy hát hoặc xem phim (hoặc thường thì cả hai). Đương nhiên, Quốc trưởng là người đưa ra những lựa chọn, về âm nhạc, Die Fledermaus và Die lustige Witwe là những vở operetta mà ông ta yêu thích. Vào buổi tối đầu tiên, Ursula nghĩ cô sẽ khó mà quên được cảnh tượng Bormann, Himmler, Goebbels (và những người bạn đời nanh nọc của họ) đều mỉm cười giả tạo (có lẽ lại là một dạng Lippenbekenntnis) trong lúc nghe Die lustige Witwe. Ursula từng xem vở Góa phụ vui vẻ do các bạn sinh viên diễn hồi cô còn học đại học. Khi ấy cô chơi khá thân với cô gái đóng vai chính Hanna. Cô không ngờ được rằng lần tiếp theo cô nghe thấy những lời "Vilja, hỡi Vilja! Phù thủy của khu rừng" là khi cô ở Đức cùng với nhóm khán giả lạ thường nhất này. Vở diễn ấy đã diễn ra vào năm 1931. Hồi đó cô còn chưa biết tương lai của mình ra sao, nói gì đến tương lai của châu Âu.
Hầu như tối nào ở đại sảnh cũng chiếu phim. Người điều khiển máy chiếu sẽ tới và tấm thảm thêu Gobelin to tướng treo trên một bức tường sẽ được cuộn lên, giống như một cái cửa chớp, để lộ ra một màn hình đằng sau nó. Sau đó họ sẽ phải ngồi xem hết một bộ phim lãng mạn, ủy mị khủng khiếp, hoặc một bộ phim phiêu lưu của Mỹ hay tệ hơn, một bộ phim về núi non. Do đó mà Ursula đã xem phim Vua khỉ Kong, Cuộc sống của một kỵ binh ở Bengal và Der Bergruft. Vào buổi tối đầu tiên, họ xem bộ phim Der heilige Berg (lại một bộ phim về núi, lại có Leni đóng). Eva kể với Ursula rằng bộ phim mà Quốc trưởng yêu thích là Nàng Bạch Tuyết. Ursula tự hỏi ông ta đồng cảm với nhân vật nào nhất - mụ phù thủy độc ác hay bảy chú lùn? Chắc không phải là nàng Bạch Tuyết đâu nhỉ? Hẳn là hoàng tử rồi, cô kết luận. (Chàng ta có tên không? Các chàng hoàng tử có bao giờ được đặt tên không, hay chỉ cần gọi họ bằng danh hiệu đó là đủ rồi?) Chàng hoàng tử đánh thức nàng công chúa đang ngủ cũng giống như Quốc trưởng đã đánh thức nước Đức. Nhưng không phải bằng một nụ hôn.
Khi Frieda chào đời, Klara đã tặng Ursula một cuốn Schneewittchen und die sieben Zwerge - Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn tuyệt đẹp do Franz Jüttner minh họa. Ông giáo sư của Klara đã bị câm dạy ở trường mỹ thuật từ lâu. Họ đã lên kế hoạch rời khỏi đây vào năm 1935 và rồi lại dời kế hoạch sang năm 1936. Sau vụ Kristallnacht*, Pamela đã trực tiếp viết thư cho Klara, mặc dù hai người họ chưa từng gặp nhau, để mời cô ấy đến trú ngụ ở Finchley. Nhưng chỉ vì tính ì trệ, cái thói xấu chết tiệt mà dường như ai cũng mắc phải, khiến họ cứ lần lữa... Thế rồi ông giáo sư của cô ấy bị bố ráp và bị đày tới miền Đông - theo lời các nhà chức trách là để làm việc trong một nhà máy. "Đôi bàn tay điêu khắc gia của anh ấy đẹp thế mà!" Klara buồn bã nói.
Một cuộc bạo động chống lại người Do Thái trên toàn Đức Quốc xã và Áo diễn ra vào ngày 9 và 10 tháng 11 năm 1938 do lực lượng Sturmabteilung (SA) và thường dân Đức tiến hành. Giới chức trách Đức không can dự mà đứng bên ngoài quan sát vụ việc. Tên gọi Kristallnacht (Đêm thủy tinh) có nguồn gốc từ những mảnh thủy tinh vỡ nằm rải rác trên đường phố sau khi cửa kính của các cửa hàng, tòa nhà, và giáo đường của người Do Thái bị đập phá.
("Chúng không thực sự là những nhà máy, em biết đấy." Pamela viết.)
Ursula nhớ hồi còn nhỏ cô rất thích truyện cổ tích. Cô đã đặt niềm tin rất lớn không phải vào cái kết có hậu của các câu chuyện mà vào việc lập lại sự công bằng trên thế giới. Cô nghi ngờ rằng mình đã bị die Brüder Grimm* lừa bịp. Spieglein, Spieglein, an der Wand/ Wer ist die Schönste im ganzen Land?* Chắc chắn không phải đám người này, Ursula nghĩ và nhìn quanh đại sảnh trong buổi tối mệt mỏi đầu tiên của cô ở Berg.
Tiếng Đức, nghĩa là Anh em nhà Grimm, là hai anh em người Đức tên là Jacob Ludwig Karl Grimm (1785 - 1863) và Wilhelm Karl Grimm (1786 - 1859), là những nhà ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học dân gian, nổi tiếng với việc xuất bản các bộ sưu tập truyện dân gian và truyện cổ tích, trong đó có nhiều truyện nổi tiếng và phổ biến trên thế giới như Nàng Bạch Tuyết, Cô bé Lọ Lem, Nàng công chúa ngủ trong rừng và Cô bé quàng khăn đỏ...
Tiếng Đức, nghĩa là "Hỡi gương thần đang ngự trên tường/ Thế gian này ai là người đẹp nhất?".
Quốc trưởng là người thích operetta hơn là opera, thích hoạt hình hơn là thứ văn hóa cao siêu. Nhìn ông ta cầm tay Eva trong lúc ngâm nga theo điệu nhạc của Lehar, Ursula giật mình nhận ra ông ta bình thường biết bao (thậm chí là ngốc nghếch), giống chuột Mickey hơn là Siegfried*. Sylvie sẽ xử lý ông ta nhanh gọn. Izzie sẽ giày vò ông ta. Bà Glover - bà Glover sẽ làm gì nhỉ? Ursula tự hỏi. Đấy là trò chơi mới mà cô ưa thích: quyết định xem những người mà cô biết sẽ làm gì với những tay đầu sỏ chính trị của Đức Quốc xã. Cô kết luận rằng có lẽ bà Glover sẽ dùng cây búa dần thịt của mình để giã cho tất cả bọn họ một trận tơi bời. (Bridget sẽ làm gì? Có lẽ cô ấy sẽ hoàn toàn lờ ông ta đi.)
Một nhân vật anh hùng trong trường ca Nibelungenlied của Đức
Khi bộ phim kết thúc, Quốc trưởng sẽ diễn giải (hàng tiếng đồng hồ) về những chủ đề yêu thích của ông ta - hội họa và kiến trúc của Đức (ông ta tự nhận mình là một kiến trúc sư hụt), Blut und Boden*(đất đai, lúc nào cũng đất đai), lối đi cao cả, đơn độc của ông ta (lại chuyện con sói). Ông ta là vị cứu tinh của nước Đức, và nước Đức nghèo khó tội nghiệp - Schneewittchen* của ông ta - sẽ được ông ta cứu vớt dù "nàng" có muốn hay không. Ông ta lải nhải về nghệ thuật và âm nhạc lành mạnh của Đức, về Richard Wagner, vở Die Meistersinger*, câu thoại mà ông ta yêu thích trong vở nhạc kịch này là Wacht auf, es nahet gen den Tag - Dậy đi, trời sáng rồi (nếu ông ta cứ tiếp tục dông dài thế này thì trời sẽ sáng thật mất, cô nghĩ). Trở lại với số phận - của ông ta - cái số phận ấy kết chặt với số phận của Volk* như thế nào. Heimat*, Boden, chiến thắng hay thất bại (Chiến thắng nào? Ursula tự hỏi. Chiến thắng ai?). Kế đến ông ta nói gì đó về Frederick Đại đế mà cô không nghe ra, điều gì đó về kiến trúc La Mã, rồi Tổ quốc. (Người Nga gọi là "mẫu quốc", điều đó có ý nghĩa gì chăng? Ursula tự hỏi. Còn người Anh gọi nó là gì? Cô cho rằng chỉ là "nước Anh" thôi. Cùng lắm là "Jerusalem" như trong bài thơ của Blake.)
Tiếng Đức, nghĩa là máu và đất, là một khẩu hiệu trung tâm của Chủ nghĩa Quốc xã.
Tiếng Đức, nghĩa là "nàng Bạch Tuyết".
Tiếng Đức, nghĩa là "Danh ca". Đây là một vở opera ba màn của Wagner.
Tiếng Đức, nghĩa là "nhân dân".
Tiếng Đức, nghĩa là "nhà cửa".
Rồi ông ta lại quay lại với chủ đề số phận và Tausendjähriges. Cứ liên miên như vậy khiến cơn đau đầu của cô vốn âm ỉ từ trước bữa tối giờ đã trở nên dữ dội như thể có một con sao biển gai trong đầu cô. Cô hình dung Hugh đang nói "Ồ, im miệng đi, ngài Hitler" và đột nhiên cảm thấy nhớ nhà đến phát khóc.
Cô muốn về nhà. Cô muốn về Góc Cáo.
Đối với các vị vua và các quần thần, các quần thần không thể rời đi khi chưa được phép, họ phải nán lại cho đến khi vị chúa thượng quyết định trở về buồng ngủ. Có lúc Ursula bắt gặp Eva hướng về phía ông ta mà ngáp một cách khoa trương như muốn nói "Đủ rồi, Chàng Sói" (Cô biết rằng trí tưởng tượng của mình đang trở nên hơi lố, nhưng trong hoàn cảnh này thì đó là điều có thể chấp nhận được). Thế rồi cuối cùng, ơn Chúa, ông ta cũng rời đi và nhóm người mệt mỏi xung quanh ông ta rục rịch đứng dậy.
❄
Phụ nữ đặc biệt yêu Quốc trưởng. Họ viết cho ông ta hàng nghìn lá thư, nướng bánh cho ông ta, thêu hình chữ thập ngoặc lên những tấm nệm ghế và những chiếc gối cho ông ta, đứng chờ đợi dọc theo con đường dốc dẫn lên Obersalzberg để tận mắt nhìn thấy ông ta trong chiếc Mercedes màu đen to lớn, giống như đội BDM của Hilde và Hanne vậy. Nhiều người phụ nữ hét lên với ông ta rằng họ muốn có con với ông ta. "Nhưng họ ưng ý điểm gì ở ông ta?" Sylvie hỏi. Ursula từng dẫn bà tới một cuộc diễu hành bất tận có vẫy cờ và giăng biểu ngữ ở Berlin, bởi vì bà muốn "tự mình tìm hiểu xem trò lố ấy là như thế nào". (Sylvie quả đúng là người Anh điển hình khi miệt thị Đệ tam đế chế Đức quốc xã là một "trò lố".)
Đường phố là một rừng sắc đỏ, đen và trắng. "Màu sắc của họ thật chói mắt." Sylvie nói như thể bà đang cân nhắc chuyện đề nghị những người theo Chủ nghĩa Quốc xã trang trí căn phòng khách của bà.
Khi Quốc trưởng xuất hiện, đám đông phấn khích càng trở nên cuồng loạn với những tiếng reo hò Sieg Heil và Heil Hitler*. "Mẹ có phải là người duy nhất dửng dưng không?" Sylvie hỏi. "Theo con thì điều này là gì - một dạng quá khích tập thể à?"
Tiếng Đức, nghĩa là "Chào Hitler".
"Con biết." Ursula nói. "Chuyện này giống như chuyện về bộ quần áo mới của Hoàng đế ấy. Chúng ta là những người duy nhất có thể nhìn thấy vị hoàng đế ấy khỏa thân."
"Ông ta là một thằng hề." Sylvie khinh khỉnh nói.
"Suỵt!" Ursula nói. Từ "thằng hề" trong tiếng Anh giống hệt từ "thằng hề" trong tiếng Đức nên cô không muốn chuốc lấy sự thù địch từ những người xung quanh họ. "Mẹ nên giơ tay lên." Cô nói.
"Mẹ ư?" "Bóng hồng Anh quốc" giận dữ hỏi lại.
"Vâng, mẹ đấy."
Sylvie miễn cưỡng giơ tay lên. Ursula nghĩ rằng cho đến lúc chết cô sẽ nhớ mãi hình ảnh mẹ cô chào theo kiểu Quốc xã. Đương nhiên - sau này Ursula tự nhủ - đó là năm 1934, khi lương tâm người ta chưa bị co rúm lại và mụ mẫm vì sợ hãi, khi cô bị che mắt trước những gì thực sự đang diễn ra. Có lẽ cô mù quáng vì tình yêu, hoặc chỉ đơn giản là ngốc nghếch. (Pamela đã nhìn ra, chị cô không hề bị bất cứ thứ gì che mắt.)
Sylvie đã lặn lội tới Đức để xem xét người chồng "từ trên trời rơi xuống" của Ursula. Ursula tự hỏi bà tính làm gì nếu bà thấy Jürgen không phù hợp để làm chồng cô - đánh thuốc mê, bắt cóc cô và lôi cô lên chuyến tàu Schnellzug? Bấy giờ họ vẫn đang ở Munich, Jürgen chưa làm việc cho Bộ Tư pháp ở Berlin, họ chưa chuyển tới Savignyplatz và Frieda còn đang nằm trong bụng Ursula.
"Con sắp trở thành một bà mẹ cơ đấy." Sylvie nói, như thể đó là điều mà bà chưa bao giờ ngờ tới. "Của một người Đức." Bà tư lự nói thêm.
"Của một đứa trẻ." Ursula nói.
❄
"Thật tuyệt khi được đi xa." Sylvie nói. Xa khỏi cái gì? Ursula tự hỏi.
Có hôm Klara gặp họ để ăn trưa, sau đó cô ấy nói: "Mẹ cậu thanh lịch quá!" Ursula chưa bao giờ nghĩ Sylvie là người ăn mặc kiểu cách, nhưng cô cho rằng so với bà Brenner, mẹ của Klara, một người trông giống như ổ bánh mì khoai tây Kartoffelbrot, Sylvie là người khá hợp mốt.
Sau bữa trưa, trên đường trở về, Sylvie nói bà muốn ghé vào cửa hàng bách hóa Oberpollingers để mua một món quà cho Hugh. Khi tới nơi, họ thấy những ô cửa sổ được tô vẽ những khẩu hiệu bài Do Thái và Sylvie nói: "Trời ơi, quả là khủng khiếp." Cửa hàng vẫn đang mở cửa kinh doanh nhưng có hai gã cục mịch mặc quân phục SA đứng lảng vảng ở trước cửa, cười toe toét, ngăn mọi người bước vào. Nhưng họ chẳng ngăn được Sylvie, bà thản nhiên diễu qua những kẻ áo nâu ấy trong lúc Ursula miễn cưỡng đi theo bà vào trong cửa hàng và bước lên cái cầu thang trải thảm dày. Trước mặt những kẻ mặc quân phục, Ursula đã nhún vai tỏ vẻ bất lực như trong hoạt hình và ngại ngùng lẩm bẩm: "Bà ấy là người Anh." Cô đã nghĩ rằng Sylvie không hiểu cuộc sống ở Đức, nhưng khi nghĩ lại, cô cho rằng có lẽ Sylvie đã hiểu rất rõ.
❄
"A, bữa trưa đây rồi." Eva nói, đặt máy ảnh xuống và cầm tay Frieda. Cô ấy dẫn con bé tới bàn, đặt nó lên một cái ghế lót nệm dày gấp đôi bình thường rồi chất đầy đồ ăn vào cái đĩa của nó. Thịt gà, khoai tây nướng và sa lát, tất cả đều lấy từ trang trại Gutshof. Ngồi ăn ở ngoài này mang lại cho họ cảm giác thật ngon miệng. Món tráng miệng của Frieda là Milchreis, chỗ sữa tươi sáng hôm đó được lấy từ trang trại Gutshof. (Ursula thì được dành cho miếng bánh Käsekuchen phù hợp với người lớn hơn, còn Eva thì hút một điếu thuốc lá.) Ursula nhớ món pudding gạo của bà Glover, bên dưới lớp vỏ nâu giòn của nó là một lớp kem màu vàng dấp dính. Cô có thể ngửi thấy mùi nhục đậu khấu cho dù cô biết trong đĩa của Frieda không hề có thứ đó. Cô không thể nhớ hạt nhục đậu khấu trong tiếng Đức được gọi là gì và nghĩ rằng sẽ rất khó để giải thích với Eva. Điều duy nhất mà cô sẽ nhớ ở Berghof chính là thức ăn, do đó cô nghĩ mình nên thưởng thức nó khi còn có thể, và thế là cô bèn tự thưởng cho mình thêm một miếng Käsekuchen nữa.
Phục vụ bữa trưa cho họ là một đội quân giúp việc phục vụ cho Berghof. Berg là sự kết hợp kỳ lạ của một khu biệt thự nghỉ dưỡng trên dãy Alps với một trại huấn luyện quân sự. Nó thực sự là một thị trấn nhỏ với trường học, bưu điện, nhà hát, một doanh trại SS rộng lớn, trường bắn, sàn chơi bowling, bệnh viện Wehrmacht, vân vân, có thể nói là nó có tất cả mọi thứ, trừ một nhà thờ. Ở đây còn có rất nhiều sĩ quan Wehrmacht trẻ trung, đẹp trai, phù hợp để theo đuổi Eva hơn.
Sau bữa trưa, họ đi bộ lên Teehaus trên Mooslahner Kopf. Lũ chó lanh lẹ, ồn ào của Eva chạy lon ton bên cạnh họ. (Giá mà một trong hai con bị ngã khỏi lan can hoặc đài vọng cảnh.) Đầu Ursula bắt đầu đau và cô mừng rỡ ngồi sụp xuống một cái ghế bành bọc vải lanh in hoa màu xanh lá cây mà cô thấy cực kì chướng mắt. Trà - và bánh ngọt, đương nhiên rồi - được mang từ bếp lên. Ursula uống hai viên codeine và chiêu một ngụm trà rồi nói: "Tôi nghĩ bây giờ Frieda đã khỏe mạnh để có thể về nhà được rồi."
❄
Ursula đi ngủ sớm nhất có thể, cô len vào giữa những lớp chăn ga màu trắng mát lạnh của chiếc giường trong căn phòng dành cho khách mà cô ở chung với Frieda. Đầu óc cô căng thẳng đến nỗi chẳng ngủ được, đến hai giờ sáng cô vẫn còn thao thức, vì vậy cô bật chiếc đèn ở cạnh giường lên - Frieda đã chìm vào giấc ngủ sâu của trẻ con, chỉ có bệnh tật mới có thể đánh thức con bé dậy - và lấy giấy bút ra viết thư cho Pamela.
Dĩ nhiên, chưa có lá thư nào viết cho Pamela được gửi đi. Cô không thể hoàn toàn tin chắc rằng sẽ không có ai đọc chúng. Ta không tài nào biết được, đó chính là điều khủng khiếp (đối với những người khác còn khủng khiếp hơn biết bao nhiêu). Bây giờ cô ước gì họ không phải đang ở trong những ngày nóng nực nhất, khi chiếc lò sưởi Kachelofen trong căn phòng ngủ dành cho khách nguội lạnh bởi không được thắp lên, bởi vì nếu đốt những lá thư thì sẽ an toàn hơn. An toàn hơn nữa là không bao giờ viết gì cả. Người ta không còn có thể bày tỏ những suy nghĩ thật của mình nữa. Sự thật vẫn là sự thật đến tận ngày phán xét. Câu này lấy từ tác phẩm nào nhỉ? Ăn miếng trả miếng của Shakespeare chăng? Nhưng có lẽ sự thật vẫn đang ngủ yên cho đến tận ngày phán xét. Sẽ có rất nhiều điều phải phán xét khi nào thời điểm ấy đến.
Cô muốn về nhà. Cô muốn về Góc Cáo. Cô đã tính trở về vào tháng Năm vừa rồi nhưng Frieda lại bị ốm. Cô đã lên kế hoạch, đã đóng gói hành lý và cất chúng dưới gầm giường, nơi bình thường chúng vẫn được để không, để Jürgen không nghi ngờ gì. Cô đã mua vé chuyến xe lửa bắt kịp giờ chạy của tàu thủy. Cô đã không nói chuyện này với ai, kể cả Klara. Cô chưa muốn động đến hộ chiếu của họ vội - may mắn là hộ chiếu của Frieda vẫn còn hợp lệ từ chuyến đi của họ tới Anh năm 1935 - hộ chiếu của họ vẫn nằm trong cái hộp làm bằng lông nhím đồ sộ nơi họ cất giữ tất cả giấy tờ của mình. Cô kiểm tra chúng hầu như mỗi ngày, nhưng rồi, vào hôm trước ngày họ định đi, cô mở hộp ra xem nhưng chẳng còn thấy tăm hơi chúng đâu nữa. Cô nghĩ mình đã nhầm lẫn gì đó, bèn giở qua một lượt giấy khai sinh, giấy chứng tử, giấy đăng ký kết hôn, hợp đồng bảo hiểm, bảo lãnh ngân hàng, di chúc làm sẵn của Jürgen (anh vốn là luật sư mà), nói chung là thấy tất cả các loại giấy tờ, ngoại trừ thứ quan trọng nhất mà cô đang tìm. Càng lúc càng hoảng hốt, cô đổ hết cả mớ giấy tờ lên thảm và kiểm tra lại một lượt từng thứ một, hết lần này đến lần khác. Không có cuốn hộ chiếu nào khác ngoại trừ cuốn hộ chiếu của Jürgen. Trong nỗi tuyệt vọng, cô mở ra từng ngăn kéo trong nhà, kiểm tra bên trong từng hộp giày và tủ chén bát, thậm chí cả bên dưới đệm giường và đệm sofa. Chẳng thấy đâu cả.
Họ ăn tối như bình thường. Cô hầu như không nuốt nổi. "Em ốm à?" Jürgen tỏ vẻ quan tâm, hỏi.
"Không." Cô nói. Giọng cô the thé. Cô có thể nói gì đấy? Anh biết, đương nhiên là anh biết.
"Anh nghĩ chúng ta có thể đi nghỉ." Anh nói. "Ở Sylt."
"Sylt ư?"
"Sylt. Chẳng cần hộ chiếu cũng tới đó được." Anh nói. Có phải anh đã cười không? Có phải thế không? Thế rồi Frieda bị ốm và những chuyện khác chẳng còn quan trọng nữa.
❄
"Er kommt!" Eva vui vẻ nói vào bữa sáng hôm sau. Quốc trưởng đang tới.
"Khi nào? Bây giờ á?"
"Không, chiều nay."
"Tiếc quá, lúc đó thì chúng tôi đi mất rồi." Ursula nói. Ơn Chúa, cô nghĩ. "Phiền cô gửi lời cảm ơn ông ấy giúp chúng tôi, được không?"
❄
Họ được chở về nhà trong một chiếc Mercedes màu đen từ ga ra Platterhof, tài xế vẫn là người đã đưa họ đến Berghof.
Ngày hôm sau, Đức xâm lược Ba Lan.