Sinh nhật của Teddy. Ngày sinh của cậu thuộc cung Cự Giải. Một cung hoàng đạo bí ẩn, Sylvie nói, mặc dù cô nghĩ đó chỉ là những chuyện "nhảm nhí". "Cậu bốn lên bốn tuổi." Bridget nói, có lẽ lại là một trò chơi chữ.
Sylvie và bà Glover đang chuẩn bị một bữa tiệc trà nhỏ, "một điều bất ngờ". Sylvie yêu quý tất cả những đứa con của mình, có lẽ Maurice thì không nhiều lắm, nhưng Teddy thì được cô cưng như cưng trứng.
Teddy thậm chí còn không biết hôm nay là sinh nhật cậu, vì suốt mấy bữa nay, bọn trẻ đã được dặn dò nghiêm ngặt là không được nhắc gì đến nó. Ursula không thể tin nổi là việc giữ bí mật lại khó khăn đến thế. Sylvie thì lại quá lão luyện trong chuyện này. Cô bảo bọn trẻ dẫn "cậu bé được tổ chức sinh nhật" ra ngoài chơi trong lúc cô chuẩn bị mọi thứ. Pamela kêu ca rằng cô bé chưa bao giờ có một bữa tiệc bất ngờ và Sylvie nói: "Dĩ nhiên là con có rồi, chỉ là con không nhớ thôi." Thật không nhỉ? Pamela cau mày vì cô bé không có cách nào để kiểm chứng điều này. Ursula không biết liệu mình đã từng có một bữa tiệc bất ngờ hoặc thậm chí là một bữa tiệc không hề bất ngờ hay chưa. Với cô, quá khứ là một mớ hỗn độn trong đầu, chứ không phải là một đường thẳng như đối với Pamela.
Bridget nói: "Nào, chúng ta sẽ đi dạo một lát." Sylvie đồng tình: "Phải đấy, tiện thể mang ít mứt tới biếu bà Dodds các con nhé!" Cả ngày hôm qua Sylvie đã giúp bà Glover làm mứt. Tay áo xắn cao, tóc trùm khăn, cô đã cùng bà đun hàng nồi quả mâm xôi hái ngoài vườn với chỗ đường mà họ tích trữ từ khẩu phần của mình. "Cứ như đang làm việc trong một công xưởng quốc phòng vậy." Sylvie nói khi cô rót chỗ mứt vừa được đun vào hết lọ thủy tinh này đến lọ thủy tinh khác. "Làm gì đến nỗi." Bà Glover khẽ lẩm bẩm.
Khu vườn đã có một mùa bội thu. Sylvie đã đọc những cuốn sách dạy cách trồng cây ăn quả và tuyên bố rằng bây giờ cô là một thợ làm vườn chính hiệu. Bà Glover giội cho cô một gáo nước lạnh khi nói rằng trồng quả mọng thì chả có gì khó, cứ đợi đến khi cô bắt tay vào trồng súp lơ xem. Sylvie đã thuê Clarence Dodds để làm những công việc nặng nhọc ở vườn. Anh ta từng là bạn thân của Sam Wellington - "chiếc giày cũ". Trước chiến tranh, Clarence từng là thợ làm vườn phụ ở Lâu đài Ettringham. Anh ta giải ngũ vì lý do sức khỏe, hiện đeo một cái mặt nạ bằng thiếc trên nửa khuôn mặt và nói rằng muốn làm việc trong một cửa hàng tạp hóa. Lần đầu tiên Ursula gặp anh ta là khi anh ta đang chuẩn bị trồng một luống cà rốt. Lúc anh ta bất ngờ quay người lại, cô bé đã thét lên một tiếng đầy khiếm nhã khi nhìn thấy khuôn mặt anh ta. Chiếc mặt nạ có vẽ một con mắt mở to sơn màu xanh dương để cân xứng với con mắt thật. "Đủ để dọa lũ ngựa sợ chết khiếp, đúng không?" Anh ta nói và mỉm cười. Cô bé ước rằng giá mà anh ta đừng cười, bởi vì miệng anh ta không bị chiếc mặt nạ che khuất. Cặp môi của anh ta rúm ró kì dị như thể chúng được khâu thêm vào sau khi anh ta ra đời.
"Một trong những người may mắn." Anh ta nói với cô bé. "Đạn lửa của hỏa pháo, nó chính là quỷ dữ." Ursula lại thấy anh ta chẳng có gì là may mắn cả.
Lúc đám cà rốt vừa nhú phần ngọn giống như những chiếc lông vũ lên khỏi mặt đất, Bridget bắt đầu đi chơi với Clarence. Lúc Sylvie bới lứa khoai tây Vua Edwards* đầu tiên, Bridget và Clarence đính hôn với nhau. Vì Clarence không có đủ tiền để mua một cái nhẫn nên Sylvie đã cho Bridget cái nhẫn gypsy của mình, cô nói đã có nó "từ đời nào rồi" mà chẳng bao giờ đeo. "Nó thực sự chỉ là một món nữ trang rẻ tiền thôi mà." Cô nói. "Chẳng đáng giá là bao." Mặc dù Hugh đã mua nó cho cô ở phố New Bond* sau khi Pamela chào đời và giá của nó không rẻ chút nào.
Một giống khoai tây được trồng ở Anh vào năm 1902, đúng thời điểm Vua Edward VII đăng quang. Vì thế cái tên của giống khoai tây này được cho là để "kỷ niệm" sự kiện đó.
Tên một con phố mua sắm lớn ở khu Tây London.
Bức ảnh của Sam Wellington bị tống vào một cái thùng gỗ cũ trong nhà kho. "Cháu không thể giữ nó." Bridget cáu kỉnh nói với bà Glover. "Nhưng cháu cũng khó lòng ném nó đi, đúng không ạ?"
"Cháu có thể chôn nó." bà Glover gợi ý, nhưng ý kiến đó khiến Bridget thấy rùng mình. "Cứ như là yểm bùa ấy."
❄
Họ lên đường đến nhà bà Dodds, mang theo mứt và một bó hoa đậu thơm màu đỏ tía rực rỡ mà Sylvie rất đỗi hãnh diện vì đã tự tay trồng. "Giống hoa này có tên là "Thượng nghị sĩ", nếu bà Dodds có hứng thú muốn biết." Cô nói với Bridget.
"Bà ấy sẽ chẳng quan tâm đâu." Bridget đáp lại.
Maurice dĩ nhiên không đi cùng họ. Cậu đã đạp xe đi ngay sau khi ăn sáng xong, với bữa trưa dã ngoại được nhét trong ba lô, rồi biến mất dạng cả ngày cùng các bạn của mình. Ursula và Pamela chẳng mấy hứng thú với cuộc sống của Maurice và cậu cũng chẳng quan tâm đến cuộc sống của mấy cô em gái. Teddy thì khác, cậu trung thành và tình cảm như một chú cún nên được hai chị rất mực thương yêu.
Qua lời kể của Sylvie, mẹ của Clarence vẫn làm việc cho Lâu đài Ettringham "theo kiểu bán phong kiến" và có một ngôi nhà tranh trong lòng điền trang ấy, một ngôi nhà xưa cũ, chật hẹp, có mùi nước để lâu ngày và vôi vữa mốc meo. Lớp sơn trên cái trần ẩm thấp phồng lên như da bị bong. Bosun đã chết vì bệnh sài sốt* vào năm ngoái và được chôn bên dưới một gốc hoa hồng Bourbon, đó là cây hoa Sylvie đặc biệt đặt mua để đánh dấu ngôi mộ của con chó. "Giống hoa này có tên là "Louise Odier"." Cô nói. "Nêu các con muốn biết." Bây giờ họ có một con chó khác, một con chó con màu đen vằn vện thuộc giống chó lóc* tên là Trixie, có khi nó còn được gọi là Rắc Rối vì Sylvie luôn cười nói: "Á à, rắc rối đến rồi đây." Pamela từng thấy bà Glover đá Trixie một cú chuẩn xác bằng bàn chân đi giày to tướng và Sylvie đã phải "nói chuyện đôi lời" với bà. Bridget sẽ không cho phép Trixie tới nhà bà Dodds, cô nói bà ta sẽ càm ràm liên miên không dứt nếu nó trót bén mảng tới đó. "Bà ấy không tin tưởng lũ chó." Bridget giải thích.
Từ distemper vừa có nghĩa là sơn quét tường, vừa có nghĩa là bệnh sài sốt ở chó (hay còn gọi là bệnh Carê, một bệnh do virus Canine Distemper (CDV) gây ra, lây lan nhanh và làm cho chó sốt cao, có thể gây ra cái chết cho chúng), vậy nên khi nhìn thấy lớp sơn quét trần bị bong, bọn trẻ mới liên tưởng đến căn bệnh của Bosun.
Giống chó lai giữa chó săn và một giống chó khác, chủ yếu là chó sục hoặc chó chăn gia súc.
"Chó đâu phải là một thứ tín điều mà tin tưởng hay không." Sylvie nói.
Clarence đón họ ở cổng vào điền trang. Tòa lâu đài nằm cách cổng rất xa, ở tít cuối một con đường dài nằm giữa hai hàng du. Gia đình Daunt đã sống ở đó hàng thế kỷ, thi thoảng họ lại bất ngờ xuất hiện ở hội trường của làng để tổ chức những buổi gây quỹ từ thiện và tham dự chớp nhoáng bữa tiệc Giáng sinh hằng năm. Họ có nhà nguyện riêng nên chẳng có ai nhìn thấy họ đi lễ ở nhà thờ bao giờ, còn hiện tại thì không ai còn nhìn thấy họ ở bất cứ đâu, bởi gia đình họ đã lần lượt mất đi ba người con trai vì cuộc chiến và gần như lui về sống một cuộc sống ẩn dật, xa lánh người đời.
Bọn trẻ không thể không nhìn chằm chằm vào nửa khuôn mặt bằng thiếc của Clarence ("Đồng tráng kẽm đấy!"Anh ta sửa lại lời chúng). Chúng lúc nào cũng lo sợ rằng anh ta sẽ cởi mặt nạ ra. Liệu anh ta có cởi nó ra để đi ngủ vào buổi tối không? Nếu Bridget kết hôn với anh ta, liệu chị ấy có nhìn thấy thứ ghê rợn ẩn giấu ở bên dưới? Chúng đã nghe lỏm Bridget nói với bà Glover: "Những gì sót lại bên dưới lớp mặt nạ còn chẳng nhiều bằng những gì đã mất đi."
Bà Dodds (Bridget gọi bà là "Mẹ Dodds*", giống như tên gọi một nhân vật trong một bài hát thiếu nhi) pha trà cho người lớn, thứ trà mà sau đó Bridget chê là "nhạt như nước cho cừu uống". Vì Bridget thích loại trà "đặc đến nỗi thìa khuấy trà có thể đứng thẳng trong đó". Cả Pamela và Ursula đều không thể kết luận được nước cho cừu uống là nước như thế nào, nhưng chúng thấy cách ví von đó có vẻ thú vị. Bà Dodds dùng muôi múc cho bọn trẻ những cốc sữa nguyên kem từ cái bình tráng men to tướng, sữa vẫn còn ấm vì vừa mới được lấy về từ khu chế biến sữa của Lâu đài. Việc ấy khiến Ursula cảm thấy buồn nôn.
Nguyên văn là Old Mother Dodds, dựa theo cách gọi nhân vật trong một bài hát thiếu nhi phổ biến ở Anh là Old Mother Hubbard.
"Đúng là Quý bà Hào Phóng*!" Bà Dodds thì thầm với Clarence khi bọn trẻ đưa cho bà hũ mứt cùng bó hoa đậu thơm khiến anh ta gắt lên: "Kìa mẹ". Bà Dodds chuyển lại bó hoa cho Bridget, cô gái cứ ôm khư khư bó hoa như một cô dâu cho đến khi bà nói với cô: "Cắm chúng vào nước đi chứ, con bé ngớ ngẩn này."
Nguyên văn: Lady Bountiful, một nhân vật trong vở kịch của thế kỷ XVIII, The Beaux' Stratagem của George Farquhar, ngày nay còn được dùng để chỉ một người phụ nữ làm từ thiện vì khoe mẽ hơn là vì lòng tốt.
❄
"Ăn bánh ngọt nhé?" Mẹ của Clarence nói và chia cho mọi người những lát bánh gừng* mỏng tang có vẻ cũng ẩm ướt như ngôi nhà tranh của bà.
Loại bánh nướng thường có hương vị gừng, đinh hương, nhục đậu khấu hoặc quế và có vị ngọt với mật ong, đường hoặc mật. Bánh gừng rất đa dạng, từ loại bánh ổ mềm, xốp đến loại bánh có độ dày như bánh quy gừng.
"Thật tuyệt khi được thấy bọn trẻ con." Bà Dodds nói và nhìn Teddy như thể cậu là một loài động vật quý hiếm. Teddy là một cậu bé không dễ nao núng và cậu chẳng chần chừ gì trước cốc sữa và lát bánh ngọt của mình. Pamela phải dùng khăn tay lau hàng ria bằng sữa trên mép cậu. Ursula ngờ rằng trong thâm tâm bà Dodds chẳng hề vui thích khi gặp trẻ con, trái lại, cô bé cho là thái độ của bà đối với trẻ con cũng y chang bà Glover. Đương nhiên là trừ Teddy. Ai cũng yêu quý Teddy. Kể cả Maurice. Dù chỉ thi thoảng.
Bà Dodds ngắm nghía cái nhẫn gypsy mới trên bàn tay Bridget, rồi kéo ngón tay Bridget về phía mình như thể đang rút một cái xương chạc. "Hồng ngọc và kim cương." Bà nói. "Đắt lắm đây."
"Chỉ là những viên đá nhỏ xíu thôi ạ." Bridget biện bạch. "Nó thực sự chỉ là vật rẻ tiền."
Các cô bé giúp Bridget rửa ấm chén và để mặc Teddy tự mình xoay xở với bà Dodds. Họ rửa ấm chén trong một cái bồn đá to ở phòng rửa bát. Nơi này có một cái máy bơm thay vì vòi nước. Bridget nói hồi cô còn "ở hạt Kilkenny*", họ phải đi bộ tới một cái giếng để xách nước về. Cô cắm những bông hoa đậu thơm vào một lọ mứt cam Dundee rỗng và đặt nó lên cái giá phơi bát đĩa bằng gỗ. Khi họ đã lau khô bộ ấm chén bằng một trong những cái khăn lau bát đĩa sờn mỏng (và dĩ nhiên là cũng ẩm ướt) của bà Dodds, Clarence hỏi xem liệu họ có muốn tới Lâu đài để tham quan khu vườn có tường bao không. "Đừng có quay lại đó nữa, con trai." Bà Dodds nói với anh ta. "Nó chỉ làm con thất vọng thôi."
Một hạt nằm ở vùng Đông Nam của Ireland.
❄
Họ đi vào khu vườn qua một cái cửa gỗ cũ trổ trên một bức tường. Cánh cửa bị kẹt cứng và Bridget khẽ thét lên khi Clarence huých vai vào cánh cửa, đẩy nó mở ra. Ursula đang mong chờ sẽ nhìn thấy thứ gì đó thật diễm tuyệt - chẳng hạn như những đài phun nước lấp lánh, những hàng hiên ngắm cảnh, những bức tượng đủ hình dạng, những lối đi dạo uốn lượn, những góc hóng mát dưới giàn cây và những luống hoa trải dài ngút tầm mắt - nhưng hóa ra nó chẳng hơn gì một cánh đồng um tùm với những bụi gai và bụi kế mọc tràn lan.
"Ầy, giờ nó trở thành rừng rậm rồi." Clarence nói. "Đây từng là vườn rau. Hồi trước chiến tranh, ở Lâu đài có đến mười hai thợ làm vườn." Chỉ có những bông hồng leo trên các bức tường là còn nở rộ và những cây ăn trái ở vườn quả là vẫn sai trĩu cành. Những quả mận đang thối rữa ra trên các nhành cây. Lũ ong vò vẽ đang phấn khích bay lượn khắp nơi. "Năm nay họ chưa hái quả." Clarence nói. "Ba người con trai ở Lâu đài đều đã chết trong cuộc chiến tranh chết tiệt này. Anh cho rằng họ không còn thiết tha gì với bánh nướng nhân mận nữa."
"Chậc!" Bridget cất tiếng. "Hãy chú ý lời ăn tiếng nói."
Có một cái nhà kính hầu như chẳng còn tấm kính nào, họ có thể nhìn thấy những cây đào và mơ héo úa trong đó. "Mẹ kiếp, tiếc thật!" Clarence thốt lên và Bridget lại chậc lưỡi rồi la rầy "Đừng ăn nói kiểu đó trước mặt bọn trẻ" giống như Sylvie hay nói. "Xác xơ hết cả rồi." Clarence nói, chẳng buồn đoái hoài đến lời cô. "Anh phát khóc mất."
"Chà, anh có thể xin làm việc trở lại ở Lâu đài." Bridget nói. "Em chắc chắn họ sẽ mừng lắm. Đâu phải vì... cái đó... mà anh không thể làm việc tốt như cũ." Cô ngập ngừng và rón rén chỉ tay về phía khuôn mặt của Clarence.
"Anh không muốn quay lại đây làm việc." Anh ta càu nhàu. "Cái thời anh làm tôi tớ cho một gia đình giàu sang quyền quý đã chấm dứt rồi. Anh nhớ khu vườn chứ không nhớ cuộc sống ấy. Khu vườn này là một vưu vật."
"Chúng ta có thể tự tạo nên một khu vườn nhỏ của chính mình." Bridget nói. "Hoặc kiếm một khoảnh ruộng để trồng trọt." Bridget kiên nhẫn an ủi, động viên Clarence. Ursula cho rằng có lẽ cô ấy đang tập dượt cho cuộc hôn nhân sắp tới.
"Phải đấy, sao chúng ta không làm thế nhỉ?" Clarence nói với giọng kiên quyết trước viễn cảnh đó. Anh ta nhặt một quả táo nhỏ chua loét bị rụng sớm và giơ cao tay ném mạnh như một cầu thủ cricket. Quả táo rơi xuống nhà kính, làm vỡ tan một trong số những ô kính ít ỏi còn sót lại. "Khốn kiếp!" Clarence nói và Bridget đập vào người anh ta, rít lên: "Lũ trẻ kìa!"
("Một vưu vật!" Pamela nói với vẻ tán tụng vào tối hôm đó, khi bọn trẻ rửa mặt với cục xà phòng cacbonic* nặng trịch trước khi đi ngủ. "Clarence đúng là một thi sĩ.")
Loại xà phòng tiệt trùng có chứa axit cacbonic vàhoặc axit cresylic.
Trên đường lê bước về nhà, Ursula vẫn còn vảng vất ngửi thấy mùi hoa đậu thơm mà họ để lại ở căn bếp nhà bà Dodds. Quả là lãng phí khủng khiếp khi bỏ lại chúng ở nơi không có ai thưởng thức. Lúc đó, Ursula đã quên bẵng bữa tiệc sinh nhật và ngạc nhiên gần bằng Teddy khi họ trở về nhà và thấy hành lang được trang trí những lá cờ, Sylvie thì tươi cười rạng rỡ mang ra một món quà được gói ghém cẩn thận. Cô bé dễ dàng đoán được ngay trong gói quà ấy là một chiếc máy bay đồ chơi.
"Bất ngờ chưa này!" Sylvie nói.