Chuỗi Đời Bất Tận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 109 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tháng 10 Năm 1940

❊ ❊ ❊

"Tối nay hẳn rất náo nhiệt." Bà Woolf nói. Đó là một uyển ngữ thú vị. Một cuộc không kích quy mô lớn đang diễn ra, những chiếc máy bay ném bom đang gầm rú phía trên đầu, thi thoảng chúng lại ánh lên khi bị đèn rọi trúng. Những quả bom HE* lóe sáng, rít gào và những khẩu đội pháo lớn phát ra những tiếng pằng pằng, bùm bùm, tạch tạch - tất cả những âm thanh quen thuộc. Những quả đạn pháo xé gió bay lên vun vút với tốc độ một dặm một giây cho đến khi chúng nhấp nháy và lấp lánh như những ngôi sao trước khi nổ tung. Những mảnh vỡ của chúng lách cách rơi xuống. (Vài ngày trước, một người họ hàng của ông Simms đã bị thiệt mạng bởi mảnh đạn từ những khẩu súng cao xạ ở công viên Hyde. "Thật nhục nhã khi bị chính quân ta giết chết." Ông Palmer nói. "Một cái chết vô nghĩa.") Một quầng đỏ phía trên Holborn chỉ ra rằng một quả bom dầu vừa được thả. Ralph sống ở Holborn nhưng Ursula cho rằng vào một đêm như thế này anh sẽ đang ở St Paul's.

Loại bom có sức công phá lớn.

"Nó gần giống như một bức tranh, phải không?" Bà Woolf nói.

"Có lẽ là bức tranh về ngày tận thế." Ursula nói. Trên bức phông nền tối đen, những đống lửa bắt đầu ngùn ngụt cháy với những màu sắc đa dạng - đỏ tươi, vàng kim, da cam, chàm và vàng chanh nhạt. Thi thoảng, những lưỡi lửa màu xanh lá và xanh lam chói lọi sẽ lóe lên khi có thứ gì đó chứa hóa chất bắt lửa. Những ngọn lửa màu cam và khói đen dày đặc cuồn cuộn bốc ra từ một kho hàng. "Nó cho ta một cách nhìn rất khác, đúng không?" Bà Woolf trầm ngâm. Đúng vậy. Nó có vẻ vừa hoành tráng vừa khủng khiếp khi so sánh với những con người nhỏ bé, lấm lem bọn họ. "Nó khiến tôi tự hào." Ông Simms khẽ nói. "Ý tôi là, việc chúng ta chiến đấu như thế này. Hoàn toàn đơn độc."

"Và quá nhiều bất lợi." Bà Woolf thở dài.

Họ có thể nhìn xa tới tận sông Thames. Mấy quả khí cầu yểm hộ* có hình dáng thon dài lấm chấm trên bầu trời giống như những con cá voi bị mù đang nháo nhác bơi loanh quanh ở nơi không phải là môi trường sống của mình. Họ đang ở trên nóc tòa nhà Shell-Mex. Tòa nhà hiện đã được Bộ Cung ứng - nơi ông Simms làm việc - chiếm ngự, và ông ta đã mời Ursula và bà Woolf tới để "ngắm nhìn quang cảnh từ trên đỉnh".

Loại vũ khí giống như những quả mìn được nhiều người sử dụng, treo trên khắp các thành phố trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, ngăn máy bay kẻ địch hạ xuống thấp, và hạ được máy bay bằng hệ thống dây và thiết bị gây cháy.

"Thật là ngoạn mục, đúng không? Hung bạo nhưng tráng lệ lạ kỳ." Ông Simms nói, như thể họ đang ở trên đỉnh một ngọn đồi ở Lakeland chứ không phải trên nóc một tòa nhà ở phố Strand giữa một cuộc không kích.

"Chà, tôi không nghĩ ta có thể dùng từ tráng lệ để miêu tả nó." Bà Woolf nói.

"Đêm hôm kia Churchill đã ở trên này." Ông Simms nói. "Đây quả là một vị trí đắc địa. Ông ấy đã bị mê hoặc."

Sau đó, khi chỉ còn lại Ursula và bà Woolf, bà Woolf nói: "Cô biết không, tôi từng có ấn tượng rằng ông Simms chỉ là một viên chức tầm thường trong bộ vì ông ấy quá hiền lành, nhưng ắt hẳn ông ấy phải có chức vụ khá cao thì mới được đứng trên nóc nhà cùng với Churchill như vậy." (Một người canh phòng hỏa hoạn từ bom đang trực trên nóc nhà đã nói "Chào buổi tối, ngài Simms" với sự kính trọng mà người ta cảm thấy buộc phải có đối với Maurice, mặc dù đối với ông Simms thì nó được thể hiện một cách ít miễn cưỡng hơn.) "Ông ấy thật khiêm tốn." Bà Woolf nói. "Tôi thích điều đó ở một người đàn ông." Còn tôi lại thích sự tự cao hơn, Ursula nghĩ.

"Nó thực sự giống một cuộc trình diễn." Bà Woolf nói.

"Giống thật, phải không?" Ông Simms hồ hởi nói. Ursula cho rằng họ đều nhận thức được sự kỳ quặc của việc ngưỡng mộ "cuộc trình diễn" này bởi vì họ vốn tường tận đến đau lòng về tác hại của nó trên mặt đất.

"Như thể các vị thần đang tổ chức một bữa tiệc cực kì ồn ào." Ông Simms nói.

"Một bữa tiệc mà tôi chẳng muốn được mời đến dự." Bà Woolf nói.

Một tiếng rít đáng sợ quen thuộc vang lên khiến tất cả bọn họ thụp xuống tìm chỗ nấp, nhưng những quả bom phát nổ cách họ một quãng xa. Mặc dù họ nghe thấy những tiếng nổ bùm bùm bùm bùm nhưng họ không thể nhìn thấy thứ gì đã bị ném trúng. Ursula cảm thấy kỳ quặc khi nghĩ rằng trên đầu họ là những chiếc máy bay ném bom của Đức và chúng được lái bởi những người đàn ông về cơ bản giống như Teddy. Họ không phải những kẻ độc ác, họ chỉ đang làm những gì mà đất nước họ yêu cầu. Chính chiến tranh mới độc ác chứ không phải con người. Mặc dù cô sẽ trừ ra một ngoại lệ, là Hitler. "Ồ, vâng." Bà Woolf nói. "Tôi nghĩ người đàn ông đó vô cùng, vô cùng điên rồ."

Vào lúc đó, trước sự ngạc nhiên của họ, một rổ bom lửa lao thẳng xuống nóc nhà của bộ. Những quả bom lửa nứt vỡ và tóe lửa, rồi hai người lính cứu hỏa lập tức cầm theo cái bình cứu hỏa xách tay chạy về phía chúng. Bà Woolf chộp lấy một xô cát và chạy tới đó trước họ. (Ông Bullock nhận xét bà Woolf là "một chú chim già nhanh nhẹn".)

"Nếu đây là đêm cuối cùng của thế giới thì sao*?" Một giọng nói quen thuộc cất lên.

Nguyên văn là: What if this were the world's last night, trích câu thơ của John Donne, nhưng chính xác phải là: What if this present were the world's last night.

"A, ông Durkin, ông đã lên được đến đây với chúng tôi rồi." Ông Simms niềm nở nói. "Ông không gặp rắc rối gì với người canh cửa đấy chứ?"

"Không, không, anh ta biết tôi là người được mong đợi." Ông Durkin nói, như thể ông ta nghĩ mình là người quan trọng.

"Ở trạm gác còn ai không nhỉ?" Bà Woolf lẩm bẩm một mình.

Ursula đột nhiên cảm thấy mình buộc phải sửa lại lời trích dẫn của ông Durkin. "Nếu hiện tại là đêm cuối cùng của thế giới thì sao?" Cô nói. "Từ "hiện tại" tạo nên sự khác biệt hoàn toàn, ông không nghĩ vậy ư? Nó khiến cho ta có cảm giác nhân vật chính đang ở giữa tình huống đó, như chúng ta bây giờ, chứ không phải chỉ đang suy tưởng suông. Đây, sự kết thúc đang diễn ra ngay bây giờ đây, không còn lâu la gì."

"Chúa ơi, chỉ là một từ nhỏ nhặt thôi mà quan trọng hóa quá." Ông Durkin nói, có vẻ cáu kỉnh. "Tuy vậy, tôi thừa nhận là mình đã sai." Ursula nghĩ rằng một từ cũng có thể có ý nghĩa lớn lao. Nếu có nhà thơ nào cẩn trọng với ngôn từ thì đó chính là Donne. Donne từng là tu viện trưởng của thánh đường St Paul's, sau khi ông mất, thi hài ông được dời xuống một vị trí gớm ghiếc dưới tầng hầm của thánh đường. Thi hài ông đã thoát được cuộc Đại hỏa hoạn ở London, liệu ông có vượt qua được tai họa lần này nữa không? Mộ của Wellington quá nặng nề nên không thể di chuyển được mà chỉ đơn giản được xây gạch bít đi. Ralph từng dẫn cô đi một vòng - anh vốn canh đêm ở đó. Anh biết mọi thứ cần biết về thánh đường ấy. Anh không phải là người bài trừ thánh tượng như Pamela đã đoán bừa.

Khi họ ra khỏi đó và bước dưới buổi chiều rực rỡ, anh nói: "Chúng ta đi uống một tách trà ở đâu đó nhé?" Ursula đáp: "Không, hãy tới nhà anh ở Holborn và lên giường cùng nhau." Họ đã làm thế và cô cảm thấy mình thật đồi bại, vì cô không thể ngừng nghĩ về Crighton trong lúc Ralph đang nhã nhặn hòa hợp cơ thể mình với cơ thể cô. Sau đó, anh có vẻ lúng túng như thể không còn biết phải đối xử với cô như thế nào khi ở bên cô. Cô nói: "Em vẫn giống như trước khi chúng ta làm chuyện này." Rồi anh nói: "Anh không chắc là anh vẫn như vậy." Và cô nghĩ, ôi Chúa ơi, anh ấy là trai tân, nhưng anh cười nói, không, không, không phải thế - anh không phải là trai tân - chỉ là anh rất yêu cô "và bây giờ anh cảm thấy, anh cũng không biết nói thế nào nữa... thăng hoa".

"Thăng hoa?" Millie nói. "Thật là sến sẩm. Anh ta đã đặt cậu lên một cái bệ mà tôn thờ, cầu Chúa phù hộ cho anh ta khi anh ta phát hiện ra rằng cậu có đôi bàn chân đất sét*."

Hình ảnh ẩn dụ để chỉ khuyết điểm của một người, đặc biệt là những người xuất chúng.

"Cảm ơn."

"Đó là một phép hỗn dụ hay một sự ví von tài tình?" Millie đương nhiên đã luôn...

"Cô Todd?"

"Xin lỗi. Tôi đang mải nghĩ đến chuyện khác."

"Chúng ta nên trở lại khu vực của mình." Bà Woolf nói. "Thật kỳ lạ, nhưng tôi cảm thấy ở trên này khá an toàn."

"Tôi chắc chắn là không an toàn chút nào." Ursula nói. Cô đã đúng, vài ngày sau, tòa nhà Shell-Mex đã bị trúng bom và tổn hại nặng nề.

Cô đang canh phòng với bà Woolf trong căn hộ của bà. Họ ngồi bên ô cửa sổ to lớn trong góc phòng, uống trà, ăn bánh quy và nếu không có tiếng súng rền đều đặn của hàng rào phòng ngự, họ sẽ giống như bất cứ hai người phụ nữ nào đang trò chuyện tâm tình vào buổi tối. Ursula được biết tên của bà Woolf là Dorcas (bà chẳng bao giờ thích cái tên ấy) và vị hôn phu của bà (Richard) đã chết trong cuộc Đại chiến. "Tôi vẫn gọi cuộc chiến ấy bằng cái tên đó." Bà nói. "Mặc dù cuộc chiến này còn lớn hơn. Ít nhất là lần này lẽ phải đứng về phía chúng ta, tôi hy vọng như vậy." Bà Woolf tin vào sự chính nghĩa của cuộc chiến này nhưng niềm tin giống như niềm tin tôn giáo ấy đã bắt đầu "vỡ vụn" từ lúc những cuộc ném bom bắt đầu. "Chúng ta phải bám víu vào những gì đúng đắn. Nhưng nó có vẻ rất tùy tiện. Người ta cứ thắc mắc về cái kế hoạch thần thánh và những thứ tương tự."

"Nó giống một sự chém giết hỗn loạn hơn là một kế hoạch." Ursula đồng ý.

"Và những người Đức tội nghiệp, tôi nghĩ nhiều người trong số họ cũng không ủng hộ cuộc chiến này - đương nhiên người ta không được nói như thế trong tầm nghe của những nhân vật như ông Bullock. Nhưng nếu chúng ta thua trong cuộc Đại chiến và bị gánh một món nợ lớn ngay khi nền kinh tế của thế giới sụp đổ, vậy thì có lẽ chúng ta cũng sẽ giống như một hộp mồi lửa chờ đợi cú chà của một viên đá lửa - một Mosley* hay một kẻ tồi tệ như thế. Cô uống thêm trà nữa chứ, bạn thân mến?"

Oswald Mosley (1896 - 1980): người thành lập Đảng Liên minh Phát xít Anh. Những người theo đảng này đã khuấy động chủ nghĩa bài Do Thái, đặc biệt là ở khu Đông London.

"Tôi biết." Ursula nói. "Nhưng họ đang cố giết chúng ta, bà biết đấy." Và như để chứng minh cho sự thật này, họ nghe thấy tiếng viuuuuùùùùù báo hiệu một quả bom đang bay về phía họ. Họ liền ném mình ra đằng sau sofa với tốc độ đáng kinh ngạc. Hành động đó chưa chắc cứu được họ, nhưng mới hai đêm trước, họ đã kéo một người phụ nữ gần như không bị sây sát gì ra ngoài từ bên dưới một cái ghế dài bị lật ngược bên trong một ngôi nhà ít nhiều đã bị phá hủy.

Quả bom làm rung chuyển những bình đựng kem hình con bò bằng gốm Staffordshire trên chiếc tủ com mốt của bà Woolf, nhưng họ đều nhất trí rằng nó đã rơi xuống bên ngoài khu vực của họ. Dạo gần đây họ phán đoán vị trí bom rơi khá chính xác.

Tinh thần họ cũng cực kì sa sút khi ông Palmer, giám đốc ngân hàng, bị chết vì một quả bom nổ chậm phát nổ khi họ đang tham gia cứu hộ ở một địa điểm bị trúng bom. Sức ép của quả bom đã thổi ông bay đi một đoạn khá xa, rồi họ tìm thấy ông bị chôn vùi một nửa dưới một cái khung giường bằng sắt. Ông đã mất đi cặp kính nhưng trông ông không có vẻ gì bị tổn hại. "Cô có thấy mạch đập không?" Bà Woolf nói và Ursula thắc mắc tại sao bà lại hỏi vậy trong khi bà bắt mạch giỏi hơn cô, thế rồi cô nhận ra bà đang vô cùng rối bời. "Cảm giác thật khác biệt khi chuyện này xảy ra với người mà ta quen biết." Bà nói, nhẹ nhàng xoa trán ông Palmer. "Kính của ông ấy đâu rồi nhỉ? Khi không đeo kính, trông ông ấy không ổn lắm, đúng không?"

Ursula không thấy mạch đập. "Chúng ta khiêng ông ấy đi nhé?" Cô nói. Cô nắm lấy hai vai ông ta, còn bà Woolf cầm lấy hai cổ chân ông ta, thế rồi thi thể ông Palmer tách rời ra như một cây pháo giật Giáng sinh*.

Cuộn giấy có hình viên kẹo lớn màu sắc sặc sỡ. Vào đêm Giáng sinh, hai người sẽ cầm hai đầu "cây pháo" này và cùng giật mạnh, nó sẽ phát ra tiếng nổ và rơi ra những món đồ chơi hoặc món quà ở bên trong.

"Để tôi rót thêm nước nóng vào trong bình." Bà Woolf đề nghị. Để làm bà vui lên, Ursula kể cho bà nghe những câu chuyện về Jimmy và Teddy hồi họ còn nhỏ. Cô chẳng buồn kể về Maurice. Bà Woolf rất thích trẻ con, nỗi tiếc nuối duy nhất trong đời bà là không có đứa con nào. "Nếu Richard còn sống, có lẽ...nhưng người ta không thể nhìn lại đằng sau, chỉ có thể nhìn về phía trước thôi. Thứ gì đã trôi qua sẽ không bao giờ quay trở lại. Heraclitus* đã nói gì nhỉ? Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông?"

Heraclitus (khoảng 535 TrCN - 475 TrCN): một nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng. Những tư tưởng biện chứng của ông rất sâu sắc, tuy vậy cách thức thể hiện lại rất phức tạp và khó hiểu, vì vậy ông thường được gọi là nhà triết học tối nghĩa.

"Đại loại vậy. Tôi cho rằng cách diễn đạt chính xác hơn phải là "Ta có thể tắm trên cùng một dòng sông nhiều lần nhưng nước sông sẽ không bao giờ như cũ"."

"Cô quả là một người phụ nữ trẻ lạc quan." Bà Woolf nói. "Đừng lãng phí cuộc đời của mình nhé! Nếu cô còn giữ được nó."

Vài tuần trước, Ursula đã gặp Jimmy. Cậu được nghỉ phép hai ngày ở London và đã ngủ trên sofa nhà cô và Millie ở Kensington. "Em út của cậu lớn lên đẹp trai quá!" Millie nói. Millie có chiều hướng nghĩ rằng tất cả đàn ông đều đẹp trai, bằng cách này hay cách khác. Cô rủ cậu đi chơi quanh thành phố cả đêm và Jimmy đồng ý ngay tắp lự. Cậu nói cậu đã bị nhốt đủ lâu, "đến lúc vui vẻ một chút rồi." Jimmy vốn luôn giỏi việc bày trò vui. Chuyến dạo chơi của họ chưa thể bắt đầu vì có một quả bom chưa phát nổ trên phố Strand nên họ phải ghé vào khách sạn Charing Cross để ẩn náu.

"Cái gì vậy?" Millie hỏi Ursula khi họ đã ngồi xuống.

"Cái gì là cái gì?"

"Vẻ mặt cậu trông ngộ lắm, cậu thường mang vẻ mặt ấy khi đang cố nhớ điều gì đó."

"Hoặc quên điều gì đó." Jimmy tiếp lời.

"Mình chẳng nghĩ gì cả." Ursula nói. Cũng chẳng có gì, chỉ là chút xao động và cố nhớ lại một ký ức. Một thứ ngớ ngẩn - luôn là vậy - một con cá trích muối hun khói trên kệ của một cái chạn, một căn phòng với tấm vải sơn lót nhà màu xanh lá cây, một cái vòng kiểu cũ lặng lẽ lăn đi. Những khoảnh khắc hư ảo, không thể nắm giữ.

Ursula đi vào nhà vệ sinh và thấy một cô gái đang khóc nức nở với khuôn mặt nhoe nhoét. Cô ta trang điểm rất đậm và lớp mascara của cô ta đang chảy thành dòng xuống má. Ursula đã để ý đến cô ta từ lúc nãy, khi cô ta ngồi uống rượu cùng một lão già mà Millie nhận xét là "khá gian xảo". Cô gái trông trẻ hơn nhiều khi nhìn gần. Ursula giúp cô ta lau nước mắt và trang điểm lại nhưng không thích tọc mạch nguyên nhân khiến cô ta khóc lóc như vậy. "Đó là Nicky." Cô gái tự nguyện kể. "Hắn là một kẻ tồi tệ. Chàng trai trẻ của chị trông thật đáng yêu, chị có thích một cuộc vui bốn người không? Tôi có thể đưa chúng ta vào quán bar Rivoli trong khách sạn Ritz, tôi biết một người gác cửa ở đó."

"Chà!" Ursula nghi ngại nói. "Chàng trai trẻ ấy thực ra là em trai tôi, và tôi không nghĩ rằng..."

Cô gái thúc một cú khá mạnh vào mạng sườn cô và cười to. "Chỉ đùa thôi. Hai chị đang tận dụng cậu ta hả?" Cô ta mời Ursula một điếu thuốc lá nhưng cô từ chối. Cô ta có hộp thuốc lá bằng vàng trông có vẻ giá trị. "Một món quà." Cô ta nói khi bắt gặp Ursula nhìn nó. Cô ta đóng nó lại và giơ nó lên ngắm nghía. Ở mặt trước của nó khắc hình một con tàu chiến tinh xảo với duy nhất một từ "Jutland" ở bên dưới. Nếu cô ta mở cái hộp ra lần nữa, cô biết mình sẽ nhìn thấy chữ "A" và chữ "C" lồng vào nhau bên trong nắp hộp, viết tắt của "Alexander" và "Crighton". Theo bản năng, Ursula giơ tay về phía cái hộp nhưng cô gái giật nó lại và nói: "Dù sao đi nữa cũng phải quay trở lại thôi. Bây giờ tôi ổn cả rồi. Chị có vẻ là một người tốt." Cô ta nói thêm, như thể có ai đã hỏi về tính cách của Ursula. Cô ta chìa tay ra. "Tên tôi là Renee, phòng trường hợp chúng ta tình cờ chạm trán nhau lần nữa, mặc dù tôi không nghĩ chúng ta sống cùng một endroit, như người ta thường nói." Phát âm tiếng Pháp của cô ta rất chuẩn xác. Quái lạ thật, Ursula nghĩ. Cô cầm lấy bàn tay đang chìa ra - nó rắn chắc và nóng ấm như thể cô ta đang bị sốt vậy - và nói: "Rất hân hạnh được gặp cô, tôi là Ursula."

Cô gái - Renee - nhìn mình lần cuối cùng trong gương vẻ hài lòng và nói "Au revoir*," rồi rời đi.

Tiếng Pháp, nghĩa là Tạm biệt.

Khi Ursula trở lại tiệm cà phê, Renee hoàn toàn lờ cô đi. "Quả là một cô gái kỳ lạ." Cô nói với Millie.

"Cô ta cứ nhìn em cả tối." Jimmy nói.

"Chà, cô ta đang lột vỏ nhầm đường, đúng không cưng?" Millie nói, nháy mắt với cậu một cách khoa trương quá lố.

“Cây chứ." Ursula nói. "Lột vỏ nhầm cây*"

Thành ngữ trong tiếng Anh chỉ sự nhầm lẫn.

Bộ ba vui vẻ đi uống rượu ở tất cả những nơi lạ lùng mà Jimmy có vẻ biết rõ. Ngay cả Millie, người thường xuyên lui tới các câu lạc bộ đêm, cũng bày tỏ sự ngạc nhiên trước vài địa điểm mà họ không ngờ mình lại có thể ở đó.

"Chúa ơi!" Millie nói khi họ rời một câu lạc bộ ở phố Orange, lảo đảo về nhà. "Thật là khác lạ."

"Một endroit lạ lùng." Ursula cười. Cô đang ngà ngà say. Cô đã quen nghe Izzie nói từ endroit ấy nên cảm thấy kỳ lạ khi nghe nó thốt ra từ miệng của cô gái Renee.

"Hãy hứa với chị là em sẽ không chết." Ursula nói với Jimmy khi họ mò mẫm về nhà.

"Em sẽ cố hết sức." Jimmy nói.

e nói. "Cô đâu biết chăm sóc người khác, hay nấu nướng, hay đánh máy, hay làm bất cứ việc gì hữu ích." Những lời lẽ ấy được thốt ra gay gắt hơn cô nghĩ, nhưng Izzie quả thực là một kẻ gàn dở. (Bà Glover nhận xét cô ấy là "người đồng bóng".)
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.