Cô đang nằm ngửa trong một vũng nước nông, nhưng tình trạng này mới đầu không làm cô lo lắng nhiều lắm. Điều tồi tệ nhất là một thứ mùi khủng khiếp. Nó là sự kết hợp của nhiều loại mùi khác nhau, trong đó không có mùi nào là dễ chịu cả. Ursula đang cố gắng phân tích xem chúng được tạo thành từ những loại mùi nào. Thứ nhất là mùi khí gas khó ngửi (loại dùng trong gia đình), thứ hai là mùi cống rãnh hôi thối đáng ghê tởm khiến cô bất giác nôn ọe. Tiếp đến là mùi vôi vữa cũ ẩm ướt quyện lẫn với mùi bụi gạch, tất cả hòa trộn với những dấu vết về sự cư ngụ của con người - giấy dán tường, quần áo, sách, thức ăn - và mùi chua lòm kỳ lạ của chất nổ. Nói tóm lại, mùi của một ngôi nhà chết chóc.
Có cảm giác bản thân đang nằm dưới đáy của một cái giếng sâu. Qua màn bụi mờ mịt giống như sương mù, cô có thể lờ mờ nhìn thấy một mảng bầu trời đen ngòm và một vầng trăng nhỏ xíu trông như đầu móng tay bị cắt. Cô nhớ là trước đó cũng đã thấy vầng trăng ấy khi nhìn ra ngoài cửa sổ. Cứ như đã lâu lắm rồi.
Cái cửa sổ ấy, hay ít nhất là khung cửa, vẫn còn ở phía trên cao kia nhưng không ở đúng chỗ của nó. Nó nhất định là cái cửa sổ của cô, cô nhận ra những tấm rèm treo trên đó, giờ chúng đã trở thành những miếng giẻ ám đen bay phấp phới trong làn gió nhẹ. Chúng - đã từng - là tấm rèm thêu kim tuyến dệt hoa dày dặn mà Sylvie đã chọn giúp cô từ cửa hàng John Lewis. Căn hộ ở đường Argyll vốn trang bị sẵn đầy đủ đồ đạc khi cô thuê nó, nhưng Sylvie tuyên bố rằng những tấm rèm và thảm "chỉ là loại tồi" và giục Ursula mua đồ mới khi cô chuyển đến đó ở.
Lúc bấy giờ Millie cũng rủ cô dọn tới sống cùng ở Phillimore Gardens. Millie vẫn đang đóng dạng vai thiếu nữ ngây thơ. Cô ấy nói cô ấy mong đợi được chuyển hẳn từ vai nàng Juliet sang vai bà vú nuôi. "Sẽ thú vị lắm đấy!" Millie nói. "Khi được ở chung với nhau." Tuy nhiên, Ursula không dám chắc khái niệm về sự thú vị của Millie trùng khớp với mình. Cô thường cảm thấy mình khá nghiêm túc và trầm lặng so với sự sôi nổi và rạng rỡ của Millie. Hai người họ cứ như một con chim chích bờ giậu làm bạn với một con chim bói cá vậy. Và đôi khi Millie hơi sôi nổi rạng rỡ quá.
Chuyện này xảy ra ngay sau khi Ursula từ Munich về. Lúc bấy giờ cô đã bắt đầu dan díu với Crighton, do đó sẽ tiện hơn nếu cô sống một mình. Khi nghĩ lại, cô nhận ra rằng cô đã đáp ứng những nhu cầu của Crighton nhiều hơn những gì anh đáp ứng cô, như thể Moira và mấy cô con gái của họ quan trọng hơn sự tồn tại của cô vậy.
Hãy nghĩ về Millie, cô tự nhủ, nghĩ về những tấm rèm, nghĩ về Crighton nếu buộc phải làm thế. Hãy nghĩ về bất cứ thứ gì ngoại trừ tình trạng của cô hiện tại. Đặc biệt là mùi gas. Dường như việc cố gắng tránh nghĩ đến mùi gas là vấn đề đặc biệt quan trọng.
Sau khi mua rèm thảm, Sylvie và Ursula đã dùng bữa trà chiều ở nhà hàng thuộc thương xá John Lewis, phục vụ họ là một nữ bồi bàn rất chuyên nghiệp. "Mẹ luôn vui mừng..." Sylvie thì thầm. "... Vì mẹ không phải là những người khác."
"Mẹ rất giỏi là chính mình." Ursula nói, ý thức được rằng nó không giống như một lời khen.
"Chà, mẹ đã có nhiều năm thực hành mà."
Đó là bữa trà chiều rất tuyệt mà người ta không còn cơ hội thưởng thức lần nào nữa ở các thương xá. Sau đó John Lewis đã bị phá hủy, tòa nhà ấy không hơn gì một cái sọ đen sì không có răng. ("Khủng khiếp quá!" Sylvie viết, chưa bao giờ bà xúc động đến thế, ngay cả trong những cuộc không kích đáng sợ ở khu Đông.) Những cuộc không kích diễn ra hết ngày này đến ngày khác, người ta cứ ca ngợi về "tinh thần bất khuất trong Cuộc oanh kích Blitz", nhưng thực sự thì họ làm gì có sự lựa chọn nào khác chứ?
Hôm đó Sylvie có tâm trạng tốt. Vậy là họ đã xích lại gần nhau hơn với chủ đề rèm cửa và sự ngốc nghếch của những người nghĩ rằng mảnh giấy nhỏ ngớ ngẩn của Chamberlain có ý nghĩa gì đó.
❄
Xung quanh tĩnh lặng đến nỗi Ursula băn khoăn tự hỏi liệu rằng màng nhĩ của cô có bị thủng không. Sao cô lại nằm ở đây? Cô nhớ mình đang nhìn ra ngoài cửa sổ căn hộ ở đường Argyll - ô cửa sổ giờ đã ở quá xa - và ngắm nhìn vầng trăng lưỡi liềm. Trước đó thì cô ngồi trên sofa khâu vá một chút - lộn lại cổ của một chiếc áo cánh - trong khi nghe một kênh sóng ngắn của Đức. Cô đang học tiếng Đức ở một lớp học buổi tối (để hiểu được kẻ địch) nhưng nhận thấy khó mà nghe ra bất cứ điều gì ngoài một vài danh từ liên quan đến bạo lực thi thoảng xuất hiện trên sóng phát thanh (như từ Luftangriffe*, Verluste*). Thất vọng về sự kém cỏi của mình, cô đã tắt radio và cho đĩa của Ma Rainey lên máy hát. Trước khi sang Mỹ, Izzie đã tặng lại bộ sưu tập đĩa hát của bà cho Ursula, đó là một kho lưu trữ đầy ấn tượng về những nữ nghệ sĩ hát nhạc Blue người Mỹ. "Cô không nghe loại nhạc đó nữa." Izzie nói. "Nó đã thuộc về passé* rồi. Tương lai đi liền với thứ gì đó soigné* hơn một chút." Ngôi nhà của Izzie ở Holland Park giờ đã khóa cửa, mọi thứ bị bao phủ trong những tấm màn bụi. Bà đã kết hôn với một nhà soạn kịch nổi tiếng và họ đã đào tẩu tới California vào mùa hè. ("Đúng là hai kẻ hèn nhát." Sylvie nói.
Tiếng Đức, nghĩa là không kích.
Tiếng Đức, nghĩa là thiệt hại.
Tiếng Pháp, nghĩa là quá khứ.
Tiếng Pháp, nghĩa là tao nhã hay thanh lịch.
"Ồ, anh không nghĩ vậy." Hugh nói. "Anh chắc chắn nếu anh có thể sang Hollywood để tránh khỏi cuộc chiến tranh này, anh sẽ đi ngay.")
"Tôi thấy chị thường nghe loại nhạc thật thú vị." Người phụ nữ ở cùng tòa nhà tên là Appleyard nói với Ursula trong một lần họ chạm mặt nhau khi đi cầu thang. Bức tường giữa hai căn hộ mỏng như giấy và Ursula nói "Tôi xin lỗi. Tôi không cố ý làm phiền chị", mặc dù cô hoàn toàn có thể nói thêm rằng cô nghe rõ tiếng con chị ta khóc ngằn ngặt cả ngày lẫn đêm và điều đó rất phiền phức. Đứa bé bốn tháng trông khá lớn so với tuổi, bụ bẫm và hồng hào, như thể nó đã hút toàn bộ sinh lực của mẹ nó.
Chị hàng xóm Appleyard xua tay nói: "Đừng bận tâm, tôi không thấy phiền gì đâu." Đứa bé nặng trịch đang ngủ trên tay chị ta, đầu nó tựa vào vai mẹ. Chị ta là một người Đông Âu tội nghiệp, một dạng người tị nạn, Ursula đoán vậy, mặc dù tiếng Anh của chị ta rất chuẩn xác. Chồng chị ta đã biến mất vài tháng trước, có lẽ là đi lính, nhưng Ursula không hỏi han gì, vì rõ ràng (cô có thể nghe thấy) cuộc hôn nhân của họ không hạnh phúc. Chị ta đang mang thai lúc chồng chị ta bỏ đi, và theo những gì Ursula có thể nhận thấy (hoặc nghe thấy), anh ta chưa bao giờ trở về để thăm đứa con sơ sinh suốt ngày khóc ra rả của mình.
Appleyard hẳn đã từng xinh đẹp, nhưng từng ngày trôi qua, chị ta trở nên héo hon, gầy mòn, rầu rĩ hơn cho đến khi dường như chỉ có đứa bé và những nhu cầu của nó mới giữ được chị ta lại với cuộc sống thường nhật.
Trong căn phòng tắm mà họ dùng chung trên tầng hai luôn có một cái xô tráng men. Bên trong là những cái tã bốc mùi khó ngửi của đứa bé. Chúng nằm ướt sũng ở đó trước khi được luộc trong một cái nồi trên cái bếp đôi của chị Appleyard. Bên cạnh cái nồi luộc tã thường có một nồi luộc bắp cải, có lẽ vì việc đun nấu song song này mà kết quả là trên người chị ta luôn thoang thoảng mùi rau chín và mùi đồ vải ẩm ướt. Ursula nhận ra thứ mùi này, đó là mùi của sự nghèo khổ.
Hai chị em bà Nesbit sống ở tầng trên cùng rất lấy làm khó chịu về chị Appleyard và đứa bé như thói thường của mấy bà gái già. Hai chị em bà Nesbit - Lavinia và Ruth - là hai người phụ nữ gầy gò không chồng sống ở tầng gác mái ("Bên dưới mái hiên gie ra, giống như những con chim nhạn vậy." Họ líu lo nói). Họ có thể là chị em sinh đôi, mặc dù chẳng giống nhau chút nào. Ursula phải cố gắng lắm mới nhớ được ai là ai.
Họ đã nghỉ hưu từ lâu - cả hai người họ đều từng là điện thoại viên ở Harrods - và là một cặp chị em tằn tiện, món đồ xa xỉ duy nhất của họ là một bộ sưu tập nữ trang bằng ngọc nhân tạo đầy ấn tượng, được mua chủ yếu ở Woolworths vào giờ ăn trưa thời họ "vẫn còn đi làm". Căn hộ của họ có mùi rất khác so với mùi căn hộ của chị Appleyard, đó là mùi nước hoa oải hương và mùi dầu đánh bóng hiệu Mansion House - mùi của những quý bà lớn tuổi. Thi thoảng Ursula lại mua giúp đồ cho cả hai chị em bà Nesbit và chị Appleyard. Chị Appleyard luôn đợi sẵn ở cửa với đúng số tiền mà chị ta nợ Ursula (chị ta biết giá cả của tất cả mọi thứ) và lịch sự nói "cảm ơn", nhưng hai chị em bà Nesbit luôn cố nài Ursula vào trong căn hộ của họ để uống trà nhạt và ăn bánh bích quy cũ.
Bên dưới họ, trên tầng ba, là căn hộ của ông Bentley ("Một kẻ lập dị." Họ đều nhất trí với nhau như vậy), nó có mùi của món cá tuyết chấm đen xông khói mà ông thường chần trong sữa để ăn tối, và hàng xóm của ông là cô Hartnell sống khép kín (căn hộ của cô chẳng có mùi gì), cô là nhân viên dọn phòng ở khách sạn Hyde Park và khá khắt khe, như thể chẳng có gì đáp ứng nổi những tiêu chuẩn của cô. Cô khiến cho Ursula cảm thấy mình giống như kẻ chẳng được tích sự gì.
"Tôi tin rằng cô ta từng bị thất tình." Ruth Nesbit thì thầm với Ursula, bàn tay nhỏ bé giữ chặt trên ngực như thể trái tim mong manh của bà sắp sửa nhảy ra khỏi lồng ngực và gắn vào ai đó không phù hợp. Cả hai chị em bà Nesbit đều rất ủy mị về chuyện tình yêu, họ chưa bao giờ trải qua sự nghiệt ngã của nó. Cô Hartnell trông có vẻ là người gây ra nỗi thất tình cho người khác hơn.
"Tôi cũng có vài cái đĩa hát." Chị Appleyard nói với sự sốt sắng của một kẻ đồng mưu. "Nhưng, chao ôi, tôi lại chẳng có máy hát." Tiếng "chao ôi" của chị Appleyard có vẻ chất chứa mọi bi kịch của một lục địa bị chia cắt. Nó hầu như không thể chịu được sức nặng mà nó buộc phải mang theo.
"Chà, cứ thoải mái mang chúng sang mở trên cái máy hát của tôi." Ursula nói, nhưng trong lòng lại hy vọng rằng chị Appleyard khốn khổ này sẽ từ chối. Cô tự hỏi chị ta có loại nhạc gì. Có vẻ không thể là loại nhạc vui tươi.
"Nhạc của Brahms." Chị Appleyard trả lời câu hỏi trong lòng Ursula. "Và Mahler." Đứa bé vặn vẹo liên tục như thể khó chịu bởi viễn cảnh phải nghe nhạc của Mahler. Bất cứ khi nào Ursula gặp chị Appleyard trên cầu thang hoặc chiếu nghỉ, nó đều đang ngủ. Như thể có hai đứa bé vậy, đứa ở trong căn hộ không bao giờ ngừng khóc, còn đứa ở ngoài không bao giờ giật mình.
"Phiền chị bế Emil giúp tôi một lát để tôi tìm chìa khóa, có được không?" Chị Appleyard hỏi, đưa đứa bé kềnh càng qua cho Ursula mà chẳng cần nghe câu trả lời.
"Emil." Ursula lẩm bẩm. Cô đã không nghĩ đứa bé có một cái tên. Emil, như thường lệ, được quấn nhiều lớp dày cộp như để chống chọi với mùa đông ở Bắc Cực, nào tã lót, quần lót bằng vải tráng cao su, quần yếm cùng tất cả những loại áo bằng len và thắt ruy băng. Ursula không lạ lẫm gì với bọn trẻ con. Cả cô và Pamela đều đã chăm sóc Teddy và Jimmy với sự tận tụy mà họ dành cho những chú cún con, mèo con, thỏ con. Cô chính là hình ảnh của một bà dì nuông chiều đối với những cậu con trai của Pamela. Thế nhưng, đứa bé của chị Appleyard lại không dễ thương như họ. Những đứa trẻ nhà Todd có hương thơm ngọt ngào của sữa, bột tan và không khí trong lành bám trên quần áo khi được phơi ở ngoài trời, trong khi Emil lại có mùi hơi ôi thiu.
Chị Appleyard lục tìm chìa khóa trong cái túi xách sờn mòn kềnh càng, vật thể này có vẻ cũng đã đến đây từ một đất nước xa xôi ở châu Âu (một đất nước mà Ursula hiển nhiên chẳng biết gì). Chị Appleyard thở phào một cái khi cuối cùng cũng tìm được chùm chìa khóa ở đáy túi xách. Đứa bé có vẻ cảm nhận được mình đã ở gần ngưỡng cửa nên bắt đầu ngọ nguậy trong vòng tay Ursula, như thể đang chuẩn bị cho sự biến đổi. Nó mở mắt và trông khá cau có.
"Cảm ơn, chị Todd." Chị Appleyard nói, đón lại đứa bé. "Rất vui khi được nói chuyện với chị."
"Ursula." Ursula nói. "Làm ơn gọi tôi là Ursula."
Chị Appleyard ngập ngừng trước khi bẽn lẽn nói: "Còn tôi là Eryka, E-r-y-k-a." Họ đã sống cạnh nhau một năm trời nay nhưng đến bây giờ mới thân mật với nhau hơn một chút.
Gần như ngay khi cánh cửa nhà Appleyard đóng lại, đứa bé bắt đầu cất tiếng gào khóc quen thuộc. "Cô ta có châm kim vào nó không đấy?" Pamela viết. Pamela sinh được những đứa con rất ngoan. "Lên hai tuổi chúng mới bắt đầu nghịch ngợm." Cô nói. Cô đã hạ sinh một đứa con trai nữa, tên là Gerald, ngay trước Giáng sinh năm ngoái. "Chúc chị may mắn lần sau." Ursula nói khi gặp chị mình. Cô đã bắt một chuyến tàu đi lên phía bắc để thăm đứa cháu mới sinh, một cuộc hành trình dài và vất vả. Con tàu chật ních các binh lính đang trên đường tới một trại huấn luyện. Gần như suốt chuyến đi, cô ngồi ở toa riêng của trưởng tàu. Cô đã phải chịu đựng một loạt những lời bóng gió về tình dục, ban đầu thì còn thú vị nhưng càng về sau càng trở nên nhạt nhẽo. "Họ hoàn toàn không phải là những chàng hiệp sĩ hào hoa." Cô nói với Pamela khi cuối cùng cũng tới nơi. Chặng cuối của cuộc hành trình, cô phải ngồi trên một cỗ xe lừa kéo như thể cô đã rơi vào một thế kỷ khác, thậm chí là một đất nước khác.
Pammy tội nghiệp đã chán ngấy cuộc chiến tranh giả tạo* này, cô cũng chán ngấy việc bị nhốt chung một chỗ với quá nhiều thằng nhóc, "chị cứ như bà quản lý của một trường nam sinh vậy". Chưa kể đến việc Jeanette hóa ra "hơi lười biếng" (lại còn hay than van và ngủ ngáy nữa). "Ai mà ngờ con gái của một mục sư lại như thế chứ." Pamela viết. "Mặc dù có Chúa mới biết tại sao." Cô đã trở lại Finchley vào mùa xuân, nhưng từ khi các cuộc oanh tạc vào ban đêm bắt đầu, cô đã "tạm thời" mang các con về ẩn náu ở Góc Cáo, bất chấp những nỗi băn khoăn trước đây của cô về việc sống chung với Sylvie. Harold giờ đang làm việc ở bệnh viện St Thomas's ở tiền tuyến. Vài tuần trước, khu nhà của các y tá ở đó đã bị trúng bom và năm y tá đã thiệt mạng. "Đêm nào cũng như địa ngục vậy." Harold thông báo. Ralph cũng thuật lại như vậy từ những địa điểm bị ném bom.
Cuộc chiến tranh giả tạo hay còn có tên gọi khác là Cuộc chiến tranh kỳ quặc, Cuộc chiến Cuội, Cuộc chiến Nhập nhèm, Cuộc chiến Buồn chán... là giai đoạn đầu của Chiến tranh Thế giới thứ Hai, từ lúc Đức xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939 cho đến trước Trận chiến nước Pháp vào tháng 5 năm 1940. Trong giai đoạn này, ba cường quốc của châu Âu là Anh, Pháp và Đức đã tuyên bố chiến tranh với nhau, nhưng không bên nào tiến hành các cuộc tấn công đáng kể và có rất ít các hoạt động quân sự trọng điểm tại châu Âu.
Ralph! Đương nhiên rồi, Ralph. Ursula đã phần nào quên mất anh. Anh cũng đã ở đường Argyll. Anh có ở đó khi bom nổ không? Ursula cố gắng quay đầu để nhìn quanh, như thể sẽ tìm thấy anh giữa đống đổ nát. Chẳng có ai cả, chỉ có mình cô. Đơn độc và bị quây kín trong một cái chuồng được tạo thành từ những thanh xà gỗ bị gãy thành từng mảnh và những thanh rui lởm chởm, nham nhở. Bụi phủ khắp xung quanh cô, trong miệng cô, trong hai lỗ mũi cô, trong mắt cô. Không, Ralph đã rời đi khi còi báo động réo.
Ursula không còn ăn nằm với người đàn ông của cô ở Bộ Hải quân nữa. Chiến tranh đã đột nhiên khơi lên cảm giác tội lỗi cho người tình của cô. Crighton nói họ phải chấm dứt cuộc tình của họ. Những hấp dẫn của xác thịt rõ ràng chỉ đứng thứ hai so với sự nghiệp quân sự - như thể cô là Cleopatra còn anh là Antony và cô sắp sửa hủy hoại anh vì tình yêu. Có vẻ như bấy giờ thế giới đã có đủ những xáo động rồi, chẳng cần thêm mối nguy nào từ việc "có một cô nhân tình" nữa. "Em là một nhân tình ư?" Ursula nói. Cô đã không nghĩ mình là kẻ phải đeo một chữ A màu đỏ*, chẳng phải đó là biểu tượng thuộc về một người đàn bà khêu gợi hơn ư?
Chữ A là viết tắt của từ Adultery trong tiếng Anh, có nghĩa là "tội ngoại tình". Theo cuốn tiểu thuyết Scarlet Letter của Nathaniel Hawthorne, những người đàn bà phạm tội này phải mang một biểu tượng hình chữ A màu đỏ trên ngực áo suốt đời.
Cán cân thăng bằng đã nghiêng lệch. Crighton đã dao động. Và rõ ràng đã chao đảo. "Tốt thôi." Cô đã điềm tĩnh nói. "Nếu đó là điều anh muốn." Lúc bấy giờ cô đã bắt đầu nghi ngờ rằng trên thực tế chẳng có một Crighton nào khác hấp dẫn hơn ẩn náu bên dưới bề mặt bí hiểm kia. Suy cho cùng, anh cũng chẳng bí hiểm lắm. Crighton chỉ là Crighton mà thôi - Moira, mấy đứa con gái, trận Jutland, mặc dù không cần phải theo đúng thứ tự đó.
Mặc dù người kết thúc cuộc tình vụng trộm của họ là anh nhưng anh vẫn tỏ ra đau khổ. Còn cô có đau lòng không? "Em lạnh lùng quá." Anh nói.
Cô nói cô chưa bao giờ "yêu" anh. "Em mong chúng ta vẫn có thể là bạn."
"Anh e rằng không thể." Crighton nói, chưa gì đã tỏ vẻ nuối tiếc về những chuyện giờ đã là dĩ vãng.
Tuy nhiên, cả ngày hôm sau cô đã khóc vì sự mất mát của mình. Tình cảm cô dành cho anh không chỉ là thứ cảm xúc ơ hờ như Pamela đã nghĩ. Rồi cô lau nước mắt, gội đầu và leo lên giường với một đĩa bánh mì nướng phết xúp bò đặc hiệu Bovril và một chai Château Haut-Brion 1929 mà cô đã chôm chỉa được từ hầm rượu vang hảo hạng của Izzie. Nó đã tình cờ bị bà bỏ lại ở ngôi nhà trên đường Melbury. Ursula có chìa khóa vào nhà Izzie. "Cứ tự nhiên lấy bất cứ thứ gì mà cháu có thể tìm thấy." Izzie đã nói như vậy. Vì thế Ursula đã làm theo lời bà.
Nhưng thật đáng tiếc khi cô không còn những cuộc hẹn hò với Crighton nữa, Ursula nghĩ. Chiến tranh giúp những chuyện vụng trộm trở nên dễ dàng hơn. Sự tắt đèn tạm thời toàn thành phố là tấm màn che hoàn hảo cho những vụ ngoại tình trái với luân thường đạo lý, và tình trạng đổ nát sau khi bị ném bom sẽ tạo cho anh nhiều cái cớ để không phải về Wargrave với Moira và mấy cô con gái.
Thay vào đó, Ursula đang có một mối quan hệ đường đường chính chính với một bạn học ở lớp tiếng Đức. Sau buổi học đầu tiên (Guten Tag. Mein Name ist Ralph. Ich bin dreizig Jahre alt*), hai người họ đã cùng nhau tới quán Kardomah ở Southampton Row, dạo gần đây nó gần như đã bị che kín đằng sau một bức tường được làm bằng những bao cát. Thì ra anh làm việc trong cùng một tòa nhà với cô, công việc của anh là lập bản đồ về những thiệt hại do bom gây ra.
Tiếng Đức, nghĩa là "Xin chào. Tôi tên là Ralph. Tôi ba mươi tuổi."
Chỉ khi họ rời lớp học - được tổ chức trong một căn phòng ngột ngạt ở lầu ba tại Bloomsbury - Ursula mới nhận thấy Ralph bị khập khiễng. Trước khi cô kịp hỏi, anh đã nói anh bị thương ở Dunkirk. Bị bắn vào chân trong lúc đang ở dưới nước, chờ lên một con thuyền nhỏ đang lướt qua lướt lại như con thoi giữa bờ và những con tàu lớn hơn. Anh được kéo lên thuyền bởi một ngư dân tới từ Folkestone, và chỉ vài phút sau đó, ông ta đã bị bắn vào cổ. "Chuyện là như thế đó." Anh nói với Ursula. "Bây giờ chúng ta không cần phải nói về nó nữa."
"Vâng, tôi cũng nghĩ vậy." Ursula nói. "Nhưng khủng khiếp quá!" Đương nhiên, cô đã xem những bộ phim thời sự. "Chúng ta đã chơi tốt một ván bài dở." Crighton nói. Ursula đã tình cờ chạm trán anh ở Whitehall sau cuộc giải cứu binh lính ở Dunkirk không lâu. Anh nói anh nhớ cô. (Anh ấy lại chao đảo rồi, cô nghĩ.) Ursula quyết tỏ ra hờ hững, cô nói cô cần mang các báo cáo tới Văn phòng Nội các Chiến tranh và ôm khư khư những bìa kẹp tài liệu màu da bò trước ngực như một cái áo giáp. Cô cũng đã nhớ anh. Nhưng cô không thể để anh nhận ra điều đó.
"Em liên lạc trực tiếp với Văn phòng Nội các Chiến tranh ư?" Crighton nói, tỏ vẻ ấn tượng.
"Chỉ là một trợ lý của một thứ trưởng thôi. Thật ra, thậm chí em cũng không liên lạc trực tiếp với người trợ lý đó, mà thông qua một "cô gái" giống như em."
Cô cho rằng cuộc đối thoại đã kéo dài đủ lâu. Anh nhìn cô chằm chằm với ánh mắt khiến cô muốn được anh ôm trọn trong vòng tay. "Em phải đi thôi." Cô rạng rỡ nói. "Chiến tranh đang diễn ra, anh biết đấy."
❄
Ralph đến từ Bexhill, anh là người hay nhạo báng, thuộc cánh tả và theo trường phái không tưởng. Ralph chẳng hề giống Crighton, người mà cô muộn màng nhận ra là khá có quyền thế.
"Em được một gã cánh tả theo đuổi sao?" Maurice hỏi khi gặp cô bên trong "những bức tường thiêng liêng". Cô có cảm giác anh ta cố tình tìm cô. "Chuyện này có thể không tốt cho em nếu ai đó biết được."
"Anh ấy không phải là một thành viên chính thức." Cô nói.
"Tuy nhiên..." Maurice nói. "... Ít nhất anh ta sẽ không tiết lộ vị trí của những con tàu chiến trong những cuộc trò chuyện lúc chăn gối."
Anh ta nói vậy là có ý gì? Maurice biết về chuyện của cô và Crighton ư?
"Chuyện đời tư của em không còn là chuyện riêng tư khi chiến tranh đang diễn ra." Maurice nói với vẻ chán ghét. "Mà này, tại sao em lại học tiếng Đức vậy? Em đang đợi chúng xâm lược chúng ta à? Chuẩn bị sẵn sàng để hoan nghênh quân địch ư?"
"Em tưởng anh đang buộc tội em theo cánh tả chứ không phải theo phát xít." Ursula giận dữ nói. ("Đúng là một con lừa ngu xuẩn." Pamela nói. "Anh ta chỉ sợ bất cứ thứ gì có thể gây ảnh hưởng xấu đến anh ta thôi. Không phải chị đang bênh vực anh ta đâu nhé! Có trời chứng giám!")
❄
Từ vị trí dưới "đáy giếng", Ursula có thể thấy phần lớn bức tường mong manh giữa căn hộ của cô và căn hộ của chị Appleyard đã biến mất. Ngước nhìn lên qua những tấm ván sàn và những thanh xà gãy nát, cô có thể nhìn thấy một chiếc váy mềm mại treo lủng lẳng trên một cái mắc áo khoác, cái mắc ấy móc vào một cái móc treo tranh ảnh. Đó là cái móc treo tranh trong phòng khách của nhà Miller ở tầng trệt, Ursula nhận ra lớp giấy dán tường có hoa văn hình những bông hồng vàng bủng, nở toe toét. Mới chiều tối nay thôi cô đã thấy bà Lavinia Nesbit mặc chiếc váy ấy khi gặp bà trên cầu thang, lúc ấy nó có màu xúp đậu (và cũng mềm mại như thế). Giờ thì nó phủ một lớp bụi xám xịt và đã bay xuống tầng dưới. Trên đầu cô vài thước, cô có thể nhìn thấy cái ấm màu nâu to tướng của mình mà cô đã mang đi từ Góc Cáo. Cô nhận ra nó nhờ sợi dây dày mà bà Glover quấn quanh tay cầm của nó từ lâu lắm rồi. Mọi thứ lúc này đều ở sai chỗ, bao gồm cả chính bản thân cô.
Phải rồi, Ralph đã ở đường Argyll. Họ đã ăn cùng nhau - bánh mì và pho mát - kèm một chai bia. Sau đó, cô đã chơi giải ô chữ trên tờ Telegraph số ra ngày hôm qua. Gần đây Ursula buộc phải mua một cặp kính để làm những việc đòi hỏi phải soi xét thật kỹ, vật đó khá là xấu xí. Chỉ khi đã mua nó về nhà, cô mới nhận ra rằng nó gần giống hệt cặp kính mà một người trong hai chị em bà Nesbit thường đeo. Đó cũng là số phận của cô chăng? Cô đã nghĩ như vậy khi ngắm nhìn hình ảnh đeo kính của mình phản chiếu trong tấm gương phía trên lò sưởi. Cô rốt cuộc cũng sẽ trở thành một bà cô già chưa chồng sao? Đối tượng chế nhạo của những cô bé và cậu bé. Nhưng liệu ta có thể là một cô gái già "chưa chồng" không nếu ta đã mang trên người chữ A màu đỏ? Ngày hôm qua, trong lúc cô đang tranh thủ ăn một cái bánh sandwich vào bữa trưa ở công viên St James's, một chiếc phong bì đã xuất hiện một cách bí ẩn trên bàn làm việc của cô. Cô nhìn thấy tên mình được viết bằng chữ viết tay của Crighton (anh có nét chữ nghiêng đẹp đến đáng kinh ngạc) nên xé ngay lá thư thành từng mảnh nhỏ và ném vào thùng rác mà chẳng thèm đọc lấy một lần. Sau đó, khi tất cả các nhân viên văn phòng đều túm tụm như chim bồ câu quanh chiếc xe đẩy trà, cô mới nhặt lại những mảnh giấy vụn và ráp chúng lại với nhau.
Anh đã làm mất hộp thuốc lá bằng vàng. Em biết nó đấy - cái hộp mà cha anh đã cho anh sau trận Jutland ấy. Em có tình cờ nhìn thấy nó ở đâu không?
Anh của em, C.
Anh có bao giờ là của cô đâu nhỉ? Ngược lại, anh thuộc về Moira. (Hoặc có lẽ là Bộ Hải quân.) Cô thả những mảnh giấy trở lại thùng rác. Hộp thuốc lá ấy đang nằm trong túi xách của cô. Cô đã tìm thấy nó dưới gầm giường mình sau khi anh bỏ cô vài ngày."Em đang nghĩ gì vậy?" Ralph hỏi.
"Không có gì đâu, tin em đi!"
Ralph đang nằm duỗi dài bên cạnh cô, tựa đầu lên tay ghế sofa, bàn chân đi tất đặt trên đùi cô. Mặc dù trông anh như đang ngủ nhưng anh vẫn ậm ừ trả lời mỗi khi cô ném một câu gợi ý về phía anh. "Đổi Roland lấy Oliver*? Có phải là từ "Hiệp sĩ" không nhỉ?" Cô nói. "Anh nghĩ sao?"
Đây là câu thành ngữ với ý nghĩa tương đương câu "Ăn miếng chả, trả miếng bùi". Roland và Oliver là hai hiệp sĩ ngang tài ngang sức phục vụ dưới triều Hoàng đế Charlemagne.
Ngày hôm qua đã có một chuyện lạ lùng xảy ra với cô. Lúc ấy cô đang đi tàu điện ngầm. Cô vốn không thích tàu điện ngầm. Trước khi các cuộc ném bom diễn ra, cô thường đạp xe đi khắp nơi nhưng việc đó giờ trở nên quá khó khăn khi xung quanh vương vãi toàn kính vỡ và gạch vụn. Cô đang chơi giải ô chữ trên tờ Telegraph, cố gắng giả vờ như mình không phải đang ở dưới lòng đất. Phần lớn mọi người đều cảm thấy an toàn hơn khi ở dưới lòng đất, nhưng Ursula không thích cảm giác giam hãm tù túng ấy. Mới vài ngày trước, có một quả bom đã rơi trúng lối vào của một ga tàu điện ngầm, vụ nổ đã làm rung chuyển những đường hầm bên dưới và hậu quả thật khủng khiếp. Cô không chắc vụ việc ấy có được đăng báo không vì những chuyện như vậy dễ làm người ta hoang mang.
Trên tàu điện ngầm, người đàn ông ngồi cạnh cô đột nhiên ghé đầu lại gần - khiến cô rụt người lại - và hất đầu về phía ô chữ mà cô đã điền được một nửa, nói: "Cô chơi giỏi quá! Tôi có thể đưa cô danh thiếp của tôi không? Hãy ghé qua văn phòng của tôi nếu cô muốn. Tôi đang tuyển mộ những cô gái thông minh." Tôi đoán chắc là ông đang làm vậy, cô nghĩ. Ông ta xuống tàu ở ga Green Park, trước khi xuống còn nghiêng mũ chào cô. Tấm danh thiếp có địa chỉ ở Whitehall nhưng cô đã ném nó đi.
Ralph rút hai điếu thuốc ra khỏi hộp và châm lửa cho cả hai điếu. Anh đưa một điếu cho cô và nói: "Em là một cô gái thông minh, đúng không?"
"Khá đúng." Cô nói. "Đó là lý do em ở trong Ban Tình báo* còn anh thì ở Ban Bản đồ."
Từ "Tình báo" trong tiếng Anh là Intelligence, cũng có nghĩa là thông minh.
"Ha ha, em không những thông minh mà còn hài hước nữa."
Họ thân thiết và thoải mái với nhau giống như bạn bè hơn là tình nhân. Họ tôn trọng cá tính của nhau và ít khi đòi hỏi. Cũng may là họ đều làm việc ở Phòng Chiến tranh. Có rất nhiều điều họ không bao giờ phải giải thích cho nhau hiểu.
Anh chạm mu bàn tay mình vào mu bàn tay cô và hỏi: "Em ổn chứ?" Cô đáp: "Rất ổn, cảm ơn anh." Bàn tay anh vẫn là bàn tay của người kiến trúc sư hồi trước chiến tranh, chúng vẫn chưa bị những cuộc chiến đấu hủy hoại. Anh vốn là chuyên viên vẽ bản đồ thuộc Đội Công binh Hoàng gia, chuyên nghiên cứu các bản đồ, hình ảnh và những thứ thuộc lĩnh vực ấy, luôn ở cách xa các trận chiến. Và anh chưa từng nghĩ mình sẽ trở thành một chiến binh phải lội qua vùng nước biển bẩn thỉu, đầy dầu mỡ, máu me, bị nhắm bắn từ mọi hướng. (Rốt cuộc anh đã kể thêm một chút về chuyện đó.)
Anh nói rằng mặc dù việc ném bom thật khủng khiếp nhưng ta vẫn có thể thấy được một điểm tốt từ nó. Anh tràn đầy hy vọng về tương lai (không như Hugh hay Crighton). "Tất cả những ngôi nhà tồi tàn ấy..." Anh nói. Các khu Woolwich, Silvertown, Lambeth và Limehouse đang bị phá hủy và sau chiến tranh, người ta sẽ phải xây lại chúng. Anh nói đó là một cơ hội để xây lên những ngôi nhà hiện đại, sạch sẽ với đủ mọi tiện nghi - một cộng đồng gồm những ngôi nhà bằng kính và thép thoáng đãng thay vì những ngôi nhà ổ chuột từ thời Victoria. "Một San Gimignano* trong tương lai."
Một đô thị tại tỉnh Siena ở vùng Tuscany, Ý. Đây là đô thị thời Trung cổ nằm trên đồi có tường bao quanh, nổi bật với lối kiến trúc đặc trưng, đặc biệt là các tòa tháp có thể nhìn thấy từ xa.
Viễn cảnh về những tòa tháp hiện đại ấy không có sức thuyết phục lắm đối với Ursula. Nếu cô được nắm quyền lực trong tay, cô sẽ xây nên một tương lai với những đô thị nhiều cây xanh, cùng những ngôi nhà nhỏ tiện nghi được bao quanh bởi những khu vườn thôn dã. "Em đúng là người bảo thủ." Anh trìu mến nói.
Nhưng anh cũng yêu London cũ ("Có kiến trúc sư nào không yêu nó cơ chứ?") - những nhà thờ do Wren* thiết kế, những tòa nhà bề thế và những tòa cao ốc tuyệt đẹp - "Những viên ngọc quý của London." Anh nói. Một hoặc hai đêm một tuần, anh sẽ tham gia đội canh đêm của tòa thánh đường St Paul, đó là những người đàn ông sẵn sàng trèo lên những thanh rui xà ở bên trong "nếu cần" để giữ cho tòa thánh đường được an toàn khỏi những quả bom lửa. Anh nói nơi ấy là một cái bẫy không lối thoát khi bắt lửa - khắp nơi toàn là chì và những thanh gỗ đã cũ, đã vậy còn có những cái mái bằng, vô số cầu thang và những góc tối tăm bị quên lãng. Trong tập san của Viện Kiến trúc Hoàng gia Anh có một thông báo kêu gọi các kiến trúc sư tình nguyện trở thành những người canh phòng hỏa hoạn, bởi vì họ sẽ "hiểu được sơ đồ, kiến trúc... của tòa nhà". Vừa đọc thấy thông báo này, anh đã đăng ký ngay tắp lự. Anh nói: "Bọn anh phải thật nhanh nhẹn." Ursula tự hỏi làm thế nào mà anh nhanh nhẹn được với cái chân khập khiễng thế kia. Cô mường tượng ra cảnh anh bị bao vây giữa những ngọn lửa trên tất cả những cái cầu thang và những góc tối tăm bị quên lãng ấy. Đội canh gác có vẻ khá thân thiết với nhau - họ chơi cờ và trò chuyện thật lâu về triết học và tôn giáo. Cô cho rằng điều đó rất phù hợp với Ralph.
Sir Christopher Wren (1632 -1723): là một kiến trúc sư, một nhà thiết kế, nhà thiên văn học và hình học người Anh thế kỷ XVII. Ông được coi là kiến trúc sư vĩ đại nhất nước Anh thời kỳ đó. Wren đã thiết kế 53 nhà thờ ở London, bao gồm Thánh đường St Paul cũng như rất nhiều công trình lâu đời khác.
Mới vài tuần trước họ đã cùng nhau chứng kiến tòa nhà ở Holland Park bị cháy và đã sợ hãi đến mụ mị. Hôm ấy họ tới ngôi nhà trên đường Melbury ấy để lục lọi hầm rượu của Izzie. "Tại sao cháu không sang nhà cô mà ở nhỉ?" Izzie đột nhiên nói trước khi bà sang Mỹ. "Cháu có thể trông nom nó giúp cô. Cháu sẽ an toàn khi ở đây. Cô không thể nào tưởng tượng nổi quân Đức lại muốn ném bom Holland Park." Ursula nghĩ Izzie đã đánh giá quá cao về độ chính xác khi thả bom của Không quân Đức. Và nếu ngôi nhà an toàn đến thế tại sao Izzie lại quay mông chạy mất?
"Cháu không ở đâu, cảm ơn cô." Cô nói. Ngôi nhà quá rộng và trống trải. Nhưng cô vẫn cầm chìa khóa và thi thoảng lại sục sạo ngôi nhà để tìm những món đồ hữu ích. Vẫn còn một ít đồ hộp trong cái tủ đựng thức ăn mà Ursula để dành cho trường hợp khẩn cấp, và đương nhiên, cả một hầm rượu vang đầy ú ụ.
Họ đang cầm đèn pin soi qua một lượt các kệ đựng rượu - điện đã bị cắt khi Izzie rời đi - Ursula lôi ra một chai Pétrus nhìn khá ngon lành và nói với Ralph: "Anh nghĩ chai rượu này có hợp với món khoai tây nghiền bỏ lò và giăm bông đóng hộp hiệu Spam không?" Cô vừa dứt lời, một tiếng nổ kinh hoàng bỗng vang lên. Nghĩ rằng ngôi nhà đã bị trúng bom, họ lập tức nằm ẹp xuống sàn nhà bằng đá cứng ngắc của hầm rượu, hai tay đưa lên ôm đầu. Đây là lời khuyên của Hugh đã được Ursula thấm nhuần trong một lần cô về thăm Góc Cáo. "Luôn phải bảo vệ đầu của con." Ông đã từng tham chiến. Thi thoảng cô lại quên mất điều đó. Tất cả các chai rượu vang lung lay và rung lắc trên kệ. Lúc bấy giờ Ursula mới muộn màng nhận ra rằng nếu những chai Chateau Latour và Château d'Yquem kia rào rào rơi xuống với những mảnh thủy tinh vỡ sắc bén như những mảnh đạn cắm vào người họ thì không biết hậu quả sẽ ra sao.
Họ đã chạy ra ngoài và nhìn ngôi nhà ở Holland Park biến thành một đống lửa lớn, những ngọn lửa thiêu trụi mọi thứ. Lúc ấy, Ursula đã nghĩ trong đầu: Làm ơn đừng để con chết trong một trận hỏa hoạn. Nếu có, hãy để con chết thật nhanh, lạy Chúa!
❄
Cô rất mến Ralph. Cô không bị ám ảnh bởi tình yêu như một vài phụ nữ khác. Với Crighton, cô liên tục bị quấy rầy bởi ý niệm về nó, nhưng với Ralph thì rõ ràng hơn. Một lần nữa, đây không phải là tình yêu mà giống với những cảm xúc bạn dành cho con cún cưng của mình (Không, cô sẽ không bao giờ nói một điều như thế với anh. Một vài người - rất nhiều người thì đúng hơn - sẽ không hiểu nổi sự gắn bó gần gũi giữa một con người và một chú chó).
Ralph châm một điếu thuốc nữa và Ursula nói: "Harold nói hút thuốc lá rất có hại cho sức khỏe. Anh ấy nói từng nhìn thấy những lá phổi trên bàn phẫu thuật trông như những cái ống khói không được lau chùi vậy."
"Đương nhiên nó không tốt cho ta." Ralph nói, cũng châm một điếu nữa cho Ursula. "Nhưng việc bị quân Đức ném bom và nhắm bắn cũng không tốt cho ta."
"Thi thoảng anh có tự hỏi rằng..." Ursula nói. "Nếu một sự việc nhỏ nhặt nào đó bị thay đổi, ý em là trong quá khứ ấy. Nếu Hitler chết ngay từ khi mới sinh ra, hoặc nếu ai đó bắt cóc hắn từ hồi hắn còn nhỏ và nuôi dạy hắn ở... em cũng không biết nữa, ở một gia đình nào đó là tín đồ của phái Giáo hữu chẳng hạn, vậy thì mọi chuyện có khác đi không nhỉ?"
"Em nghĩ tín đồ của phái Giáo hữu sẽ bắt cóc một đứa bé ư?" Ralph ôn tồn hỏi.
"Chà, nếu họ biết chuyện gì sẽ xảy ra, họ có thể làm vậy lắm chứ."
"Nhưng không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Với cả, dù có là tín đồ của phái Giáo hữu hay không, hắn vẫn có thể trở thành con người như bây giờ. Em nên giết hắn thay vì bắt cóc hắn. Em có thể làm được việc đó không? Em có thể giết một đứa bé không? Bằng một khẩu súng? Hoặc giả nếu không có súng thì dùng tay không? Một cách máu lạnh?"
Em sẽ làm nếu em nghĩ việc đó cứu được Teddy, Ursula nghĩ. Không chỉ Teddy, đương nhiên rồi, mà cả phần còn lại của thế giới nữa. Teddy đã nộp đơn xin gia nhập RAF - Không lực Hoàng gia Anh - ngay sau ngày chiến tranh được tuyên bố. Bấy giờ anh đang làm việc trong một trang trại nhỏ ở Suffolk. Sau khi rời khỏi Oxford, anh đã học một năm ở một trường cao đẳng nông nghiệp, rồi sau đó làm việc trong những trang trại lớn nhỏ khác nhau trên khắp đất nước. Anh nói anh muốn biết hết mọi thứ trước khi ổn định cuộc sống ở một nơi nào đó. ("Một nông dân ư?" Sylvie vẫn nói.) Anh không muốn mình trở thành một trong những người theo phong trào "trở lại với đất đai" chỉ với lý thuyết suông, để rồi cuối cùng nhận lấy cái kết quả là lún sâu đến đầu gối trong những cái sân ngập ngụa bùn với những con bò ốm yếu và những con cừu chết, cùng những vụ mùa không có gì để thu hoạch. (Dường như anh đã từng làm việc ở một trong những nơi như vậy.)
Teddy vẫn làm thơ và Hugh nói: "Một thi sĩ nông dân hử? Giống như Virgil. Chúng ta sẽ mong chờ một thiên sử thi Nông ca mới từ con." Ursula tự hỏi Nancy cảm thấy thế nào về việc là vợ của một nông dân. Cô ấy vô cùng thông minh, hiện đang nghiên cứu về một khía cạnh rối rắm khó hiểu nào đó của Toán học ở trường Cambridge. ("Em hoàn toàn chẳng hiểu mô tê gì." Teddy nói.) Và bây giờ, giấc mơ trở thành phi công từ thuở ấu thơ của anh đột ngột và bất ngờ ở ngay trong tầm với. Lúc này, anh đang an toàn ở Canada để học bay tại một trường huấn luyện chuyên sâu, thường gửi thư về nhà kể rằng ở đó có nhiều thức ăn thế nào, thời tiết tuyệt vời ra sao, khiến Ursula tái mặt vì ghen tỵ. Cô ước gì em trai mình có thể ở đó mãi mãi, tránh xa mọi mối nguy hại.
❄
"Sao chúng ta lại đi nói về việc giết những đứa bé một cách máu lạnh nhỉ?" Ursula nói với Ralph. "Anh nghe kìa!" Cô nghiêng đầu về phía bức tường nơi đang phát ra tiếng khóc lúc to lúc nhỏ, nghe như tiếng còi báo động của Emil.
Ralph cười. "Tối nay nó cũng không quấy lắm. Em nhớ cho kỹ này, anh sẽ phát khùng lên mất nếu các con anh cứ khóc ra rả như thế."
Ursula nghĩ thật thú vị khi anh nói "các con anh" chứ không phải "các con của chúng ta". Thật lạ lùng khi nghĩ đến việc có con ở thời điểm mà tương lai còn không chắc có tồn tại hay không này. Cô đứng dậy khá đột ngột và nói: "Những cuộc không kích sắp bắt đầu rồi." Lúc Cuộc oanh kích Blitz mới diễn ra, họ thường nói "Chúng không thể kéo đến hằng đêm được", nhưng bây giờ họ biết rằng chúng có thể. ("Cuộc sống cứ thế này mãi ư?" Cô viết thư cho Teddy. "Bị những quả bom quấy rầy không ngơi nghỉ?") Tính đến giờ nó đã kéo dài năm mươi sáu đêm liên tiếp, do đó người ta bắt đầu nghĩ rằng nó có thể sẽ không bao giờ chấm dứt.
"Em giống như một chú chó vậy." Ralph nói. "Em cảm nhận được những cuộc không kích đang kéo đến như thể có giác quan thứ sáu ấy."
"Chà, vậy thì anh nên tin em và đi đi. Nếu không anh sẽ bị rơi xuống Hố đen Calcutta*. Anh biết là anh sẽ không thích điều đó mà." Gia đình Miller đông đúc - Ursula đã đếm được họ có ít nhất bốn thế hệ - sống ở tầng trệt và tầng bán hầm của tòa nhà ở đường Argyll. Họ còn có một tầng thấp hơn nữa, một tầng hầm ở dưới mặt đất mà các cư dân của ngôi nhà dùng làm nơi trú ẩn trong các cuộc không kích. Nó giống như một mê cung, một không gian ẩm mốc chẳng dễ chịu gì, lúc nhúc nhện và bọ, chật chội khủng khiếp nếu tất cả bọn họ đều chui vào trong đó, đặc biệt là khi con chó của gia đình Miller - một "tấm thảm lông kỳ dị" tên là Billy - bị lôi xềnh xệch xuống cầu thang để gia nhập với họ. Đương nhiên họ cũng phải chịu đựng những giọt nước mắt và tiếng khóc của Emil, thằng bé được chuyền từ tay người này sang tay người nọ khắp tầng hầm như một kiện hàng không mong muốn để họ thay nhau dỗ dành nó nhưng vô ích.
Một địa lao ngột ngạt ở Calcutta, nơi mà vào năm 1756 đã có 123 trong số 146 tù nhân bị chết ngộp.
Ông Miller, với nỗ lực làm cho căn hầm "trở nên ấm cúng" (một điều mà nó không bao giờ có thể có được), đã đính vài bức tranh chép từ "các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại của nước Anh" - như cách ông gọi chúng - lên những bức tường được chặn bao cát. Những bức tranh khắc màu này - cỗ xe chở cỏ khô, Ông bà Andrews của Gainsborough (trông họ thật cao ngạo) và Bong bóng xà phòng (bức tranh ủy mị nhất của Millais, theo ý kiến của Ursula) - trông đáng ngờ như thể chúng đã được chôm chỉa từ những cuốn sách tham khảo về nghệ thuật đắt tiền. "Văn hóa." ông Miller nói, gật đầu vẻ uyên bác. Ursula tự hỏi cô sẽ chọn bức tranh nào để đại diện cho "các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại của nước Anh". Có lẽ là những tác phẩm cuối đời có nội dung trừu tượng, khó hiểu của Turner. Cô nghi ngờ rằng chúng hoàn toàn không hợp với thị hiếu của gia đình Miller.
❄
Cô đã khâu lại cái cổ áo cánh của mình. Cô đã tắt đi những âm thanh hỗn độn trên radio và nghe Ma Ramey hát bài Yonder Come the Blues trên máy hát - một liều thuốc giải cho thứ cảm xúc ủy mị đang bắt đầu tràn ra từ radio. Cô đã ăn bánh mì và pho mát với Ralph, chơi giải ô chữ rồi xua anh ra khỏi cửa với một nụ hôn. Sau đó, cô tắt đèn và dịch tấm che cửa sổ sang một bên để dõi theo anh bước đi trên đường Argyll. Mặc dù khập khiễng (hoặc có lẽ vì khập khiễng), dáng đi của anh thật vui vẻ như thể anh đang mong đợi thứ gì đó thú vị băng qua trên đường đi của mình. Hình ảnh ấy gợi cô nhớ đến Teddy.
Anh biết cô đang dõi theo anh, nhưng anh không ngoái lại nhìn mà chỉ giơ một cánh tay lên lặng lẽ chào rồi bị bóng tối nuốt chửng. Nhưng vẫn có một chút ánh sáng, một mảnh trăng lưỡi liềm rạng rỡ và những vì sao mờ nhạt rải rác như thể ai đó đã ném một vốc bụi kim cương lên nền trời đen thẳm. Nữ hoàng Mặt trăng, được vây quanh bởi các nàng tiên sao, mặc dù cô ngờ rằng Keats đang viết về vầng trăng tròn, còn vầng trăng phía trên đường Argyll chỉ là vầng trăng khuyết. Cô đang có tâm trạng thơ thẩn. Cô cho rằng đó chính là tầm cỡ của chiến tranh, nó khiến ta sục sạo tìm cách để nghĩ về nó.
Bridget luôn nói ngắm trăng qua cửa kính sẽ mang lại xui xẻo, vì vậy Ursula dịch tấm che cửa sổ trở về vị trí cũ và đóng kín rèm lại.
Ralph chẳng mấy bận tâm đến sự an toàn của mình. Anh nói rằng từ sau vụ Dunkirk, anh cảm thấy mình đã "miễn nhiễm" trước cái chết bất đắc kỳ tử. Ursula thì lại cảm thấy rằng dường như trong thời chiến, khi bị bao vây giữa vô số cái chết bất đắc kỳ tử, người ta chẳng thể được bảo vệ khỏi bất cứ thứ gì.
Như cô đã biết trước, tiếng gào rú bắt đầu, tiếp đến là tiếng súng ở công viên Hyde và tiếng những quả bom đầu tiên trút xuống, nghe như chúng lại được thả xuống các bến cảng. Cô lập tức giật lấy ngọn đèn pin treo trên cái móc bên cạnh cửa chính, là nơi nó vẫn ngự trị như một thánh tích, rồi nhấc cuốn sách cũng được để bên cạnh cửa lên. Đó là "cuốn sách nương tựa" của cô - Bên phía nhà Swann. Vì bây giờ chiến tranh có vẻ chẳng bao giờ kết thúc nên Ursula quyết định cô nên dấn mình vào những tác phẩm của Proust.
Những chiếc máy bay rền rĩ trên đầu, thế rồi cô nghe thấy tiếng rít đáng sợ của một quả bom đang lao xuống, tiếp đó là một tiếng uỳnh rất lớn khi nó tiếp đất ở đâu đó gần đây. Thi thoảng, một vụ nổ nghe gần hơn nhiều so với vị trí thực sự của nó. (Người ta học được kiến thức mới về những chủ đề xa lạ nhất mới nhanh làm sao.) Cô tìm bộ đồ bảo hộ*. Cô đang mặc một chiếc váy khá mỏng manh so với thời tiết này, trong khi dưới tầng hầm thì lạnh lẽo và ẩm ướt khủng khiếp. Sylvie đã mua bộ đồ bảo hộ này khi bà lên thành phố trước khi các cuộc ném bom bắt đầu nổ ra không lâu. Họ đã đi dạo dọc theo đường Piccadilly và Sylvie đã phát hiện ra một mẫu quảng cáo về "bộ đồ bảo hộ may sẵn" ở ô kính bày hàng của tiệm Simpson. Bà đã một mực kéo Ursula vào đó để thử. Ursula không thể tưởng tượng nổi hình ảnh mẹ mình chui vào trong một cái hầm trú ẩn, nói gì đến việc mặc một bộ đồ bảo hộ, nhưng nó rõ ràng là một bộ đồ - thậm chí một bộ đồng phục - có sức hấp dẫn đối với Sylvie. "Bộ đồ này rất tiện để dọn chuồng gà." Bà nói và mua cho hai mẹ con mỗi người một bộ.
Loại áo liền quần đem lại sự kín đáo và ấm áp khi người ta tìm chỗ trú ẩn trong các cuộc không kích vào ban đêm ở Anh trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
Tiếng nổ vang dội tiếp theo như giục giã Ursula, cô phải từ bỏ việc tìm kiếm bộ đồ chết tiệt đó và tóm lấy cái chăn len kẻ ô vuông do Bridget tự tay đan. ("Tôi định gửi nó cho Hội Chữ thập đỏ." Bridget đã viết bằng nét chữ to tròn giống như một cô bé học sinh. "Nhưng tôi lại nghĩ cô có thể cần đến nó hơn."
"Chị thấy đấy, ngay cả trong chính gia đình mình, em cũng có địa vị của một kẻ tị nạn." Ursula viết cho Pamela.)
Cô đã chạm trán hai chị em bà Nesbit trên cầu thang. "Ồ, xui xẻo quá, cô Todd." Bà Lavinia cười khúc khích. "Vì chúng ta đi ngược nhau trên cầu thang, cô biết đấy."
Ursula đang đi xuống, còn hai chị em họ đang đi lên. "Hai bà đi nhầm hướng rồi." Cô nói một câu vô ích.
"Tôi quên mất bộ đồ đan." Lavinia nói. Bà đang đeo một cái trâm cài áo bằng men có hình giống như một con mèo đen. Mắt nó là một viên kim cương giả nhỏ xíu lấp lánh.
"Chị ấy đang đan một cái quần tất cho con của cô Appleyard." Bà Ruth nói. "Bên trong căn hộ của họ rất lạnh."
Ursula tự hỏi đứa bé tội nghiệp ấy còn phải khoác lên người bao nhiêu món quần áo bằng len nữa thì sẽ giống một con cừu. Không phải là cừu non. Đứa bé nhà chị Appleyard chẳng giống một con cừu non tí nào. Tên nó là Emil, cô tự nhắc nhở mình.
"Chà, hai bà hãy nhanh chân lên nhé!" Cô nói.
❄
"Xin chào, xin chào, mọi người ở đây cả rồi." ông Miller nói khi cả nhà họ lũ lượt kéo nhau vào trong hầm. Những cái ghế ọp ẹp và những chiếc giường làm tạm từ chăn nệm lấp kín khoảng không gian ẩm ướt. Ông Miller đã xoáy được ở đâu đó hai cái giường xếp quân đội cũ kĩ để dành cho chị em bà Nesbit nghỉ ngơi. Hiện giờ chị em bà đều vắng mặt nên con chó Billy đã chễm chệ trên một trong hai cái giường. Ngoài ra còn có một cái bếp cồn nhỏ và một cái bếp dầu hỏa Aladdin. Ursula cảm thấy trong tình cảnh những quả bom đang trút xuống đầu họ thì ở gần cả hai vật đó đều cực kì nguy hiểm. (Nhà Miller vốn luôn lạc quan trước mọi hiểm nguy.)
Mọi người gần như đã có mặt đầy đủ - chị Appleyard và bé Emil, ông Bentley lập dị, cô Hartnell và toàn bộ bầu đoàn thê tử nhà ông Miller. Bà Miller lo lắng hỏi hai chị em bà Nesbit đang ở đâu và ông Miller xung phong đi lên thúc giục họ ("Đan với chả lát"), nhưng ngay lúc đó, một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên làm lay chuyển cả căn hầm. Ursula cảm thấy nền móng nhà rung lên khi sự chấn động lan qua mặt đất dưới chân mình. Ngoan ngoãn tuân theo lời hướng dẫn trước kia của Hugh, cô nằm thụp xuống sàn nhà, hai tay đưa lên che đầu, thuận đà túm lấy một trong những thằng bé nhà Miller đang đứng gần cô nhất ("Ôi, bỏ ra!"). Cô lóng ngóng nằm lên che chắn cho nó, nhưng nó vặn vẹo trườn ra khỏi người cô.
Tất cả trở nên yên lặng.
"Không phải là nhà của chúng ta đâu." Thằng bé khinh khỉnh nói, tỏ vẻ hơi vênh váo để khôi phục lại lòng tự trọng đàn ông đã bị tổn thương của mình.
Chị Appleyard cũng đã nằm xuống sàn, đứa bé được che chắn bên dưới cơ thể chị ta. Bà Miller thì chẳng ôm đứa con nào mà chỉ giữ khư khư hộp kẹo bơ cứng Farrah's Harrogate cũ đựng tiền tiết kiệm và các hợp đồng bảo hiểm của bà.
Ông Bentley hỏi, giọng hơi cao hơn bình thường: "Có phải tòa nhà của chúng ta không?" Không, Ursula nghĩ, nếu phải thì chúng ta đã chết rồi. Cô lại ngồi xuống một trong những cái ghế gỗ lung lay mà ông Miller đã trang bị cho căn hầm. Cô cảm thấy trái tim mình đập thình thịch. Cô bắt đầu run rẩy và quấn cái chăn len của Bridget chặt hơn quanh người.
"Không, thằng bé nói đúng đấy." Ông Miller nói. "Nghe như ở Essex Villas ấy." Ông Miller luôn tự cho là mình biết những quả bom đã rơi xuống đâu. Lạ lùng thay, ông thường đúng. Tất cả các thành viên của nhà Miller đều thấm nhuần ngôn ngữ và tinh thần thời chiến. Họ đều có thể chấp nhận nó. ("Chúng ta cũng có thể nói thứ ngôn ngữ đó mà, không phải sao?" Pamela viết. "Hẳn là em nghĩ bàn tay chúng ta không lấm máu.")
"Đúng là những con người trụ cột của nước Anh, không còn nghi ngờ gì nữa." Sylvie nói với Ursula trong lần gặp gỡ đầu tiên (và cũng là cuối cùng) của bà với gia đình Miller. Lúc ấy, bà Miller đã mời Sylvie xuống căn bếp của bà ta để uống trà, nhưng Sylvie vẫn bực mình với tình trạng của những tấm rèm và thảm trong căn hộ của Ursula, bởi bà cho rằng bà Miller là người phải chịu trách nhiệm sau khi biết được bà Miller là chủ tòa nhà chứ không chỉ là một người ở thuê. (Bà làm ngơ trước những lời giải thích của Ursula.) Sylvie cư xử như thể bà là một nữ công tước đang đến thăm ngôi nhà tranh của một trong những tá điền ở vùng nông thôn của bà. Ursula tưởng tượng ra cảnh bà Miller sau đó sẽ nói với ông Miller rằng "Cái bà đó đúng là ngạo mạn."
Ở phía trên cao kia, những thanh âm hỗn độn của cuộc oanh tạc vẫn vang lên đều đặn, họ có thể nghe thấy tiếng uỳnh uỳnh vang dội của những quả bom lớn, tiếng rú rít của những quả đạn súng cối và tiếng đùng đoàng của một đơn vị pháo binh di động gần đây. Thi thoảng nền móng của căn hầm lại rung lên với những tiếng rầm, uỳnh và bùm khi những quả bom dội xuống thành phố. Emil rú lên, con chó Billy rú lên, hai cậu bé nhỏ nhất nhà Miller cũng rú lên. Tất cả đều đối nghịch với nhau, tạo nên một đối âm không mong muốn với "tiếng sấm sét" kinh thiên động địa của Không quân Đức. Một cơn bão khủng khiếp kéo dài bất tận. Sau lưng là nỗi tuyệt vọng, và trước mặt là cái chết.
"Chúa ơi, tối nay già Fritz* thực sự đang cố dọa dẫm chúng ta." Ông Miller nói, điềm tĩnh chỉnh lại một ngọn đèn như thể họ đang đi cắm trại. Ông chịu trách nhiệm giữ vững tinh thần cho mọi người dưới hầm. Giống như Hugh, ông từng lăn lộn trong những con hào và tuyên bố rằng ông hoàn toàn trơ lì với những mối đe dọa từ Jerry*. Cả đám người họ, gồm Crighton, Ralph, ông Miller và thậm chí cả Hugh đã phải trải qua thử thách của lửa, bùn và nước, và mạo muội cho rằng đó là trải nghiệm chỉ xảy ra một lần trong đời.
Từ lóng chỉ quân Đức.
Từ lóng chỉ quân Đức.
"Già Fritz định làm gì chứ hả?" Ông dịu dàng nói với một trong những đứa con nhỏ đang sợ hãi. "Cố phá giấc ngủ ngon của bố à?" Quân Đức luôn được ông Miller cá nhân hóa với những cái tên như Fritz, Jerry, Otto, Hermann, Hans, đôi khi là chính Adolf đang ở trên cao mấy nghìn kilomet thả xuống những quả bom có sức công phá mãnh liệt.
Bà Miller (Dolly), không lạc quan như chồng bà, đang phân phát "đồ ăn nhẹ" cho mọi người gồm trà, ca cao, bánh quy và bánh mì kèm bơ thực vật. Gia đình Miller hào phóng không bao giờ thiếu thức ăn nhờ Renee, cô con gái đầu lòng của họ, vốn là người có "nhiều mối quan hệ". Renee mười tám tuổi và trưởng thành theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, và có vẻ là một cô gái vô cùng lẳng lơ. Cô Hartnell tỏ rõ thái độ rằng cô thấy Renee là kẻ chẳng ra gì mặc dù vẫn nhận phần thức ăn mà cô ấy mang về nhà. Ursula có cảm giác rằng một trong những đứa con nhỏ nhà Miller thực ra là con của Renee chứ không phải của bà Miller, và nó dần dà đã bị lẫn vào với những đứa trẻ nhà Miller.
"Những mối liên hệ" của Renee khá là bí ẩn, nhưng vài tuần trước, Ursula đã nhìn thấy cô ấy đang tao nhã nhấm nháp rượu gin ở tiệm cà phê trên tầng hai của khách sạn Charing Cross cùng một người đàn ông béo tốt, trông có vẻ lắm tiền nhiều của, khắp người toát lên chữ "làm ăn phi pháp".
"Có một gã nhớp nhúa kìa." Jimmy đã cười và nói như vậy. Jimmy vốn là đứa trẻ được sinh ra để mừng hòa bình lập lại sau cuộc chiến kết thúc tất cả mọi cuộc chiến, thế nhưng cậu sắp sửa phải chiến đấu trong một cuộc chiến khác. Cậu đang trong quá trình huấn luyện quân sự và được nghỉ vài ngày phép, và họ đã ghé vào khách sạn Charing Cross để trú chân trong lúc người ta xử lý một quả bom chưa phát nổ ở đường Strand. Họ có thể nghe thấy tiếng những khẩu súng gắn trên xe đẩy của hải quân giữa khu Vauxhall và Waterloo - bùm bùm bùm - nhưng những chiếc máy bay ném bom đang tìm kiếm những mục tiêu khác và có vẻ đã rời đi. "Nó không bao giờ ngừng lại sao?" Jimmy hỏi.
"Hình như là không."
"Ở trong quân đội an toàn hơn." Cậu cười. Cậu đã gia nhập quân đội với tư cách một binh nhì mặc dù họ đã đề nghị phong cấp sĩ quan cho cậu. Cậu nói cậu muốn làm lính trơn. ("Nhưng phải có ai đó làm sĩ quan chứ?" Hugh hỏi. "Tốt hơn hết đó phải là người thông minh một chút.")
Cậu muốn trải nghiệm. Cậu nói cậu muốn trở thành một nhà văn, và còn thứ gì có thể giúp cậu hiểu sâu rộng về nhân tình thế thái hơn là một cuộc chiến chứ? "Một nhà văn ư?" Sylvie đã nói. "Mẹ e rằng một bà tiên xấu đã đung đưa cái nôi của nó và tiêm nhiễm cho nó ý tưởng ấy." Ursula cho rằng mẹ cô đang ám chỉ Izzie.
Đi cùng Jimmy rất thú vị. Jimmy trông rất bảnh bao trong bộ đồ chiến và cậu được chào đón ở bất cứ nơi nào họ tới - những tụ điểm ăn chơi ở phố Dean và phố Archer, câu lạc bộ Boeuf sur le Toit ở phố Orange - một nơi thực sự rất nóng bỏng (nếu không muốn nói là cực kì táo bạo), và cả những nơi khiến Ursula phải thắc mắc về con người Jimmy. Em chỉ muốn tìm hiểu về nhân tình thế thái thôi mà, cậu nói. Họ đã say khướt và trở nên hơi ngốc nghếch, đó quả là một sự khuây khỏa so với việc co rúm lại trong căn hầm của nhà Miller. "Hãy hứa với chị là em sẽ không chết." Cô nói với Jimmy khi họ dò dẫm đi dọc phố Haymarket như hai người mù, nghe văng vẳng bên tai tiếng một nơi nào đó của London bị nổ tung.
"Em sẽ cố hết sức." Jimmy nói.
❄
Cô đang lạnh. Vì đang nằm trên nước nên cô càng thấy lạnh hơn. Cô cần cử động. Cô có thể cử động không? Hình như là không. Cô đã nằm đây bao lâu rồi? Mười phút? Hay mười năm? Thời gian đã ngừng lại. Vạn vật dường như đã ngừng lại. Chỉ còn lại thứ mùi hỗn hợp khủng khiếp. Cô đang ở tầng hầm. Cô biết điều đó bởi vì cô có thể nhìn thấy bức tranh Bong bóng xà phòng vẫn còn dính chặt một cách kỳ diệu vào một bao cát ở ngay gần đầu cô. Cô cứ phải nhìn vào những thứ vô vị này mà chết đi sao? Thế rồi sự vô vị đột nhiên được hoan nghênh hơn khi một bóng ma gớm ghiếc xuất hiện bên cạnh cô. "Chị có nhìn thấy con tôi đâu không?" Bóng ma hỏi. Mất một lúc Ursula mới nhận ra rằng đây không phải là ma. Đó là chị Appleyard, mặt chị phủ đầy bụi đất, lấm lem máu và nước mắt. "Chị có thấy con tôi đâu không?" Chị ta hỏi lại.
"Không." Ursula lẩm bẩm, miệng cô khô khốc, đầy bụi bẩn. Cô nhắm mắt lại và khi cô mở mắt ra, chị Appleyard đã biến mất. Chắc là cô đã tưởng tượng ra chị ta, có lẽ cô đang bị mê sảng. Hoặc có lẽ đó thực sự là bóng ma của chị Appleyard và cả hai người họ đều đang bị mắc kẹt trong cảnh hoang tàn đổ nát.
Cô lại để ý đến bộ váy của bà Lavinia Nesbit đang treo trên cái móc treo tranh của gia đình Miller. Nhưng hóa ra đó không phải là bộ váy của bà Lavinia Nesbit. Một cái váy thì làm gì có tay. Không phải tay áo, mà là tay người. Có cả bàn tay. Trên chiếc váy có thứ gì đó lấp lánh, đó là con mắt bằng kim cương giả của chú mèo nhỏ đang ánh lên dưới bóng trăng. Thi thể không đầu, không chân của bà Lavinia Nesbit đang treo trên cái móc treo tranh của gia đình Miller. Trông nó kỳ cục đến nỗi cơn buồn cười bắt đầu dâng lên trong lòng Ursula. Nhưng tiếng cười chẳng bao giờ phát ra được bởi vì có thứ gì đó chợt xê dịch - một thanh xà hoặc một phần của bức tường - và bụi lại rào rào trút xuống người cô. Tim cô bất giác đập thình thịch. Nó đau đớn như một quả bom hẹn giờ đang đợi đến lúc phát nổ.
Lần đầu tiên cô cảm thấy hoảng hốt. Sẽ chẳng có ai tới giúp cô cả. Kể cả bóng ma điên loạn của chị Appleyard. Cô sẽ chết một mình trong căn hầm ở đường Argyll, chẳng có gì bên cạnh ngoài bức tranh Bong bóng xà phòng và thi thể không đầu của bà Lavinia Nesbit. Nếu Hugh ở đây, hoặc Teddy hay Jimmy, hoặc thậm chí là Pamela, họ sẽ nỗ lực tìm cách đưa cô ra khỏi đây, sẽ nỗ lực tìm cách cứu cô. Họ sẽ quan tâm lo lắng cho cô. Nhưng ở đây chẳng có ai cả. Cô nghe tiếng mình rên rỉ như một con mèo bị thương. Cô cảm thấy thương thay cho thân mình, như thể cô là một người nào đó khác.
❄
Bà Miller đã nói: "Chà, tôi nghĩ chúng ta đều cần một tách ca cao ngon lành, đúng không?" Ông Miller lại bắt đầu lo lắng cho chị em bà Nesbit, vì vậy Ursula - vì đã chán ngán tột độ không gian chật chội của căn hầm - xung phong nói "Tôi sẽ đi tìm họ", rồi đứng dậy khỏi cái ghế ăn lung lay ngay khi tiếng "vút" và "viu" vang lên báo hiệu một quả bom có sức công phá mãnh liệt đang rơi xuống. Kế đó là một tiếng bùm dữ dội như tiếng sấm nổ, rồi đến tiếng nứt vỡ răng rắc như thể bức tường địa ngục đột nhiên toác ra giải phóng cho toàn bộ lũ quỷ sứ, tiếp theo là một lực hút và một sức ép khủng khiếp, như thể các cơ quan nội tạng trong cơ thể cô, nào phổi, tim, dạ dày, thậm chí cả tròng mắt, đều đang bị hút ra ngoài. Tạm biệt ngày cuối cùng bất diệt. Thế này đây, cô nghĩ. Mình sẽ chết như thế này đây.
❄
Một giọng đàn ông cất lên gần như bên cạnh tai cô, phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng: "Chào cô, để xem liệu chúng tôi có thể đưa cô ra khỏi đây không nhé?" Khuôn mặt ông ta lấm lem bụi đất và mồ hôi như thể ông ta đã đào đường hầm để tới được chỗ cô vậy. (Cô cho rằng ông ta đã phải làm thế thật.) Cô ngạc nhiên khi nhận ra ông ta. Đó là một người dân phòng trong Lực lượng Công tác Phòng không địa phương, một người mới.
"Tên cô là gì, thưa cô? Cô có thể nói với tôi không?" Ursula lẩm bẩm tên mình nhưng cô biết âm thanh phát ra không được rõ ràng lắm. "Urry?" Ông ta hỏi. "Vậy thì có thể là tên gì nhỉ - Mary? Susie?"
Cô không muốn chết với cái tên Susie. Nhưng điều đó có quan trọng không?
"Đứa bé." Cô lẩm bẩm với ông ta.
"Đứa bé ư?" Ông ta nhấn mạnh. "Cô có con sao?" Ông ta hơi lùi lại một chút và hét lên gì đó với một người mà cô không nhìn thấy. Cô nghe thấy những giọng nói khác và nhận ra ngoài kia có rất nhiều người. Như để xác nhận điều này, ông dân phòng nói: "Chúng tôi có mặt ở đây để giúp cô ra ngoài. Đội xử lý khí độc đã khóa được ống dẫn khí gas và chúng tôi sẽ đưa cô ra ngoài ngay trong nháy mắt thôi. Cô đừng lo! Giờ thì nói với tôi về con của cô đi, Susie. Cô có đang ôm nó không? Có phải nó còn rất nhỏ không?" Ursula nghĩ về Emil, thằng bé nặng như một quả bom vậy (ai đã bế nó khi tiếng nhạc ngừng lại và ngôi nhà nổ tung nhỉ?), và cô cố gắng cất tiếng nhưng lại thấy mình rên rỉ.
Có tiếng cọt kẹt phía trên đầu và ông dân phòng nắm lấy tay cô, nói: "Không sao đâu, có tôi ở đây rồi." Cô cảm thấy vô cùng biết ơn ông ta cùng tất cả những người khác đang vất vả tìm cách đưa cô ra ngoài. Và cô nghĩ Hugh cũng sẽ vô cùng cảm kích họ. Nghĩ đến cha, cô bật khóc, và ông dân phòng nói: "Kìa, kìa, Susie, mọi chuyện ổn rồi, chúng tôi sẽ sớm đưa được cô ra khỏi đây thôi, giống như một con ốc chui ra khỏi vỏ vậy. Rồi chúng tôi sẽ mang cho cô một tách trà ngon. Thế nào? Tuyệt chứ hả? Chính tôi cũng muốn một tách."
❄
Dường như tuyết đang rơi, giống như những mũi kim bằng băng nhỏ xíu đâm vào da cô. "Lạnh quá!" Cô lẩm bẩm.
"Đừng lo, chớp mắt một cái là chúng tôi sẽ đưa được cô ra khỏi đây thôi, rồi cô sẽ thấy." Ông dân phòng nói. Ông ta cố gắng cởi cái áo khoác đang mặc để đắp lên người cô. Tuy nhiên, ở đây không có đủ không gian cho hành động cao thượng ấy. Ông ta va phải thứ gì đó khiến một mảng vôi vữa vụn trút rào rào xuống cả hai người họ.
"Ôi!" Cô nói với ông dân phòng bởi vì cô đột nhiên cảm thấy nôn nao dữ dội, nhưng cảm giác ấy rồi cũng trôi qua và cô đã điềm tĩnh hơn. Giờ thì có cả lá rơi quyện lẫn với tro bụi và cô chợt thấy mình bị phủ dưới một đống lá dẻ gai mỏng tang. Chúng có mùi của nấm và lửa và thứ gì đó ngọt ngào. Chiếc bánh gừng của bà Glover. Dễ chịu hơn nhiều so với mùi cống và khí gas.
"Nào, cô gái!" Ông dân phòng nói. "Nào, Susie, đừng có ngủ trước mặt tôi vào lúc này." Ông ta siết tay cô chặt hơn nhưng Ursula đang nhìn vào thứ gì đó lấp lánh và xoay tròn dưới ánh mặt trời. Một con thỏ phải không nhỉ? Không, chính xác là một con thỏ rừng. Một con thỏ rừng bằng bạc đang chầm chậm xoay tròn trước mắt cô. Nó đang thôi miên cô. Đó là vật xinh đẹp nhất mà cô từng nhìn thấy.
❄
Cô đang rơi từ trên mái nhà xuống màn đêm thăm thẳm. Cô đang ở trên một cánh đồng ngô dưới ánh mặt trời chói chang. Hái những quả mâm xôi trên con đường mòn. Chơi trốn tìm với Teddy. Nó là một đứa thực sự vui nhộn, ai đó nói. Chắc chắn không phải là ông dân phòng đâu nhỉ? Thế rồi tuyết lại rơi. Bầu trời đêm không còn ở trên cao tít nữa, nó đang bao quanh cô, giống như một đại dương đen ngòm ấm áp.
Cô đang trôi vào khoảng không tăm tối. Cô cố nói gì đó với ông dân phòng. Cảm ơn. Nhưng điều đó không còn quan trọng. Chẳng có gì quan trọng nữa cả.
Bóng tối đã phủ xuống.