"Nhìn kìa, những dòng máu của Chúa đang chảy qua bầu trời." Một giọng nói bên cạnh cô vang lên. "Trên" bầu trời, Ursula nghĩ, không phải là "qua". Quầng đỏ nơi chân trời giống như lúc bình minh ló dạng chỉ ra rằng ở phía đông đang có một đám cháy khổng lồ. Hàng rào phòng ngự ở công viên Hyde liên tục nã pháo và những khẩu súng phòng không gần chỗ họ hơn vẫn đang duy trì "bản hòa âm chát chúa", những quả đạn pháo bay vun vút lên không trung như pháo hoa và nổ uỳnh uỳnh uỳnh phía trên đầu. Ẩn dưới tất cả những âm thanh ấy là tiếng động cơ gầm rú gớm ghiếc của những chiếc máy bay ném bom, một âm thanh luôn khiến cô cảm thấy dạ dày mình cứ trồi lên hụp xuống như một con tàu.
Một quả mìn thả bằng dù tà tà rơi xuống một cách duyên dáng và một rổ bom lửa lộp bộp trút xuống những gì còn sót lại của con đường rồi bùng lên thành những bông hoa lửa. Một thành viên của Lực lượng Công tác Phòng không mà Ursula không nhìn rõ mặt cầm cái bình cứu hỏa xách tay chạy ngay tới chỗ những quả bom lửa ấy. Nếu không có tiếng động, đó có thể là một cảnh đêm tuyệt đẹp, nhưng tiếc là lại có tiếng động, một thứ âm thanh chói tai chát chúa như thể ai đó đã mở toang những cánh cổng địa ngục, để lọt ra tiếng hú gào của những kẻ bị đọa đày.
"Ồ đây chính là địa ngục, tôi cũng chưa thoát ra khỏi đó." Tiếng nói lại cất lên như thể đọc được những ý nghĩ của cô. Trời quá tối nên cô không thể nhìn rõ chủ nhân của tiếng nói ấy mặc dù cô chắc chắn đó là ông Durkin, một thành viên trong đội của cô. Ông là một thầy giáo dạy Anh văn đã nghỉ hưu và rất thích trích dẫn. Có điều ông lại hay trích dẫn sai. Tiếng nói kia - hay ông Durkin - lại thốt lên một điều gì đó khác, có thể vẫn là một câu thoại trong vở Faustus nhưng những lời nói ấy đã bị nhấn chìm trọng tiếng bùm vang dội của một quả bom rơi xuống cách đó vài con phố.
Mặt đất rung lên và ai đó đang làm việc trên đỉnh của một đống đổ nát hét lên: "Cẩn thận!" Cô nghe tiếng thứ gì đó dịch chuyển rồi một âm thanh nghe như tiếng hòn đá nhỏ lạo xạo lăn xuống từ trên một ngọn núi, báo hiệu cho một vụ lở đất. Nhưng thực tế, nó là xà bần chứ không phải những hòn đá nhỏ. Và nó lăn xuống từ cả một đống xà bần lớn chứ không phải một ngọn núi. Đó là những gì còn sót lại của một ngôi nhà, hay đúng hơn, vài ngôi nhà bị nghiền nát và trộn lẫn vào nhau. Nửa giờ trước chúng vẫn là những ngôi nhà, nay chúng chỉ còn là một đống hỗn độn gớm ghiếc gồm gạch vỡ, rầm gãy, ván lát sàn, bàn ghế giường tủ, tranh ảnh, thảm trải, chăn ga, sách vở, bát đĩa, vải sơn, thủy tinh. Và cả người. Những mảnh thi thể bị nghiền nát, không bao giờ trở về nguyên vẹn được nữa.
Tiếng ầm ầm nhỏ dần rồi cuối cùng ngừng hẳn, "trận lở đất" đã đổi hướng, và giọng nói lúc nãy lại hét lên: "Ổn rồi! Tiếp tục thôi!" Đó là một đêm không trăng, nguồn ánh sáng duy nhất phát ra từ những ngọn đèn pin leo lét như ma trơi của đội cứu hộ đang di chuyển trên đống đổ nát. Một nguyên nhân nữa tạo nên bóng tối mênh mông đầy hiểm nguy này là đám mây khói bụi dày đặc treo lơ lửng trong không trung như một tấm rèm sa tồi. Như thường lệ, mùi hôi thối xộc lên thật khủng khiếp. Đó không chỉ là mùi khí than và mùi chất nổ mà là thứ mùi lạ thường sinh ra khi một tòa nhà bị nổ tung. Thứ mùi ấy sẽ không rời bỏ cô. Cô đã buộc một cái khăn lụa cũ quanh miệng và mũi như một tên cướp, nhưng nó hầu như chẳng ngăn được bụi và thứ mùi khủng khiếp kia chui vào hai lá phổi của cô. Cái chết và sự thối rữa lúc nào cũng bám ở da cô, tóc cô, lỗ mũi cô, phổi cô, móng tay cô. Chúng đã trở thành một phần của cô.
Họ vừa được phát bộ đồ bảo hộ màu xanh hải quân cục mịch. Trước đó thì Ursula vẫn mặc bộ đồ bảo hộ của riêng cô, là bộ đồ do Sylvie mua ở tiệm Simpson hồi nó mới ra mắt ngay sau khi tình trạng chiến tranh được tuyên bố. Cô đã đeo thêm chiếc thắt lưng da cũ của Hugh để treo "các phụ tùng" của mình - đèn pin, mặt nạ phòng độc, hộp cứu thương và một tập giấy viết thư. Ở một bên túi, cô cất một con dao nhíp và một chiếc khăn tay, còn ở túi kia là một đôi găng tay bằng da dày và một thỏi son. "Ồ, quả là một ý hay." Bà Woolf nói khi thấy con dao nhíp. Thẳng thắn mà nói, Ursula nghĩ, bất chấp một loạt quy tắc, đấy là công việc đòi hỏi họ phải vừa làm vừa nghĩ ra những phương pháp thuận tiện cho mình.
Ông Durkin (đúng là ông ấy) đang loay hoay trong bóng tối ảm đạm và khói mù. Ông chiếu ngọn đèn pin lên quyển sổ của mình, ánh sáng yếu ớt từ ngọn đèn hầu như không soi tỏ được trang giấy. "Rất nhiều người sống trên con phố này." Ông nói, nhìn vào danh sách những cái tên và số nhà đã không còn bất cứ liên hệ gì với quang cảnh hỗn độn xung quanh họ. "Gia đình Wilson ở nhà số 1." Ông nói, như thể việc bắt đầu từ số đầu tiên sẽ giúp ích được phần nào.
"Làm gì còn số 1 nữa." Ursula nói. "Chẳng còn số nào cả." Con phố này không còn nhận diện được nữa, mọi thứ thân thuộc đều đã bị hủy hoại. Ngay cả trong ánh sáng ban ngày, họ cũng sẽ không thể nhận ra nó. Nó không còn là một con phố nữa, chỉ đơn giản là "đống đổ nát". "Cái gò" ấy cao chừng sáu mét, có thể còn cao hơn, với những tấm ván và những chiếc thang dựng lên các cạnh của nó, để đội cứu hộ có thể bò được lên trên nó. Họ đã tạo thành một hàng người chuyền tay nhau những giỏ xà bần từ trên đỉnh xuống đến chân của "cái gò". Ở họ toát lên một vẻ gì đó hơi nguyên thủy. Trông họ giống như những nô lệ đang xây dựng kim tự tháp - hoặc đúng hơn thì, trong trường hợp này, họ giống như đang khai quật chúng. Ursula đột nhiên nghĩ tới những con kiến xén lá trong sở thú ở công viên Regent, con nào con nấy đều cần mẫn mang vác gánh nặng nhỏ bé của mình. Liệu lũ kiến có được sơ tán cùng với những con vật khác không hay họ chỉ đơn giản thả chúng ra trong công viên? Chúng là loài côn trùng nhiệt đới, vì vậy có lẽ chúng sẽ không thể sống sót nổi trong khí hậu khắc nghiệt của công viên Regent. Cô từng xem Millie diễn ở đó trong một vở kịch ngoài trời có tên Giấc mộng đêm hè vào mùa hè năm 1938.
"Cô Todd?"
"Vâng, xin lỗi, ông Durkin, tôi lơ đãng quá." Dạo này cô thường lơ đãng như vậy - mỗi khi ở giữa những khung cảnh khủng khiếp như thế này, cô sẽ thấy mình thơ thẩn nghĩ tới những khoảnh khắc dễ chịu trong quá khứ. Chúng là những mảnh ánh sáng nhỏ nhoi trong bóng tối.
Họ thận trọng trèo lên "cái gò". Ông Durkin đưa danh sách các cư dân trên phố cho cô rồi bắt đầu gia nhập vào hàng người đang chuyền tay nhau những cái giỏ. Chẳng có ai thực sự đào cái gò cả, thay vào đó họ dọn dẹp đống đổ nát bằng tay không, giống như những nhà khảo cổ cẩn trọng. "Ở trên đó hơi chông chênh." Một thành viên của đội cứu hộ ở gần cuối hàng người nói với cô. Họ đã dọn quang phần đỉnh ở giữa "cái gò" và tạo ra một cái hố (giờ nó giống một ngọn núi lửa hơn là một cái gò, Ursula nghĩ). Nhiều người trong đội cứu hộ xuất thân từ ngành xây dựng - thợ nề, những người lao động chân tay, vân vân - và Ursula tự hỏi liệu họ có cảm giác kỳ cục không khi trườn bò trên những tòa nhà bị phá hủy này, như thể thời gian đã đảo ngược. Tuy nhiên họ là những người đàn ông thực tế, tháo vát, chẳng mấy khi suy tưởng lung tung như vậy.
Thi thoảng, một giọng nói sẽ kêu gọi mọi người im lặng - họ khó có thể có được sự im lặng tuyệt đối khi cuộc không kích vẫn đang diễn ra trên đầu - tuy nhiên mọi hoạt động sẽ dừng lại trong lúc những người đàn ông ở trên đỉnh của "cái gò" chăm chú lắng nghe các dấu hiệu của sự sống ở bên dưới. Thoạt nhìn thì việc này có vẻ vô vọng, nhưng Cuộc oanh kích Blitz này đã dạy cho họ một điều rằng người ta sống (và chết) trong những hoàn cảnh không ngờ đến nhất.
Ursula tìm kiếm những ánh sáng màu xanh dương lờ mờ đánh dấu vị trí trạm gác của họ trong bóng tối ảm đạm, nhưng thay vì thế lại nhìn thấy bà Woolf đang loạng choạng bước trên những tảng gạch vỡ, quả quyết hướng về phía cô. "Tệ quá!" Bà thản nhiên nói khi tới chỗ Ursula. "Họ cần một người mảnh khảnh."
"Mảnh khảnh?" Ursula lặp lại. Không hiểu sao từ đó lúc này chẳng có ý nghĩa gì.
Cô đã gia nhập lực lượng dân phòng sau khi Tiệp khắc bị xâm chiếm vào tháng 3 năm 1939, khi cô bàng hoàng nhận ra rằng châu Âu đã tận số. ("Con quả là một nàng Cassandra bi quan." Sylvie nói, nhưng Ursula làm việc trong Ban Công tác Phòng không ở Bộ Nội vụ, cô có thể nhìn thấy tương lai.) Trong thời kỳ nhập nhoạng lạ lùng của cuộc chiến giả tạo, lực lượng dân phòng đã bị coi là một trò đùa, nhưng bây giờ họ lại là "trụ cột của hàng rào phòng ngự London" - theo lời của Maurice.
Các đồng nghiệp của cô là một nhóm người hỗn tạp. Bà Woolf, vốn là một quản lý bệnh viện đã nghỉ hưu, là sếp của họ. Với dáng vẻ gầy nhẳng như một que cời lửa, mái tóc màu xám sắt được búi lên gọn gàng, ở bà toát lên vẻ uy quyền tự nhiên, sếp phó của họ chính là ông Durkin vừa nói đến ở trên. Ngoài ra còn có ông Simms làm việc cho Bộ Cung ứng và ông Palmer, một giám đốc ngân hàng. Hai ông này từng tham gia chiến đấu trong cuộc chiến lần trước và đã quá già để tham gia cuộc chiến lần này (ông Durkin thì "được miễn vì sức khỏe", ông biện minh.) Còn có ông Armitage, một ca sĩ hát opera, vì bây giờ không còn vở opera nào để hát nữa, ông thường giúp họ tiêu khiển bằng những tiết mục La donna è mobile và Largo al factotum. "Chỉ là những bản aria phổ biến thôi." Ông thú nhận với Ursula. "Hầu hết mọi người không thích thứ gì khó nghe."
"Hôm nào đó hát cho tôi nghe một bài hát cũ của Al Bowlly nhé." ông Bullock nói. Ông Bullock* (John) có cái tên khá hợp với người. Theo lời bà Woolf, ông ta "hơi có vấn đề". Ông ta có thân hình vạm vỡ, từng thi đấu vật và tập tạ trong một phòng gym địa phương cũng như là khách quen của vài câu lạc bộ đêm kém lành mạnh. Ông ta cũng quen vài "vũ nữ" khá bốc lửa. Một, hai cô đã tới hầm trú ẩn để "thăm" ông ta và bị bà Woolf đuổi như đuổi gà. ("Vũ nữ cái con khỉ." Bà nói.)
Trong tiếng Anh, "bullock" có nghĩa là "bò thiến".
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là Herr* Zimmerman ("Làm ơn gọi tôi là Gabi." Ông ta nói, nhưng chẳng ai nghe theo). Ông ta là một nhạc công violon trong một dàn nhạc ở Berlin, họ thường gọi ông ta là "cái ông tị nạn của chúng ta" (ở nhà Sylvie cũng có những đứa trẻ tản cư, chúng cũng được gọi tên theo thân phận của chúng). Ông ta đã "đào tẩu" trong lúc đang đi lưu diễn với dàn nhạc vào năm 1935. Bà Woolf biết ông qua Ủy ban Tị nạn và đã tốn bao công sức để đảm bảo rằng Herr Zimmerman và cây vĩ cầm của ông ta không bị giam giữ, hoặc tệ hơn, bị chở qua những vùng nước nguy hiểm của Đại Tây Dương. Họ đều làm theo bà Woolf và không bao giờ gọi ông ta là "ông" mà luôn gọi là "Herr". Ursula biết rằng bà Woolf gọi ông ta như vậy để khiến ông ta cảm thấy thoải mái như ở nhà, nhưng thực tế thì điều đó chỉ khiến ông ta càng trở nên xa lạ hơn mà thôi.
Tiếng Đức, nghĩa là "ông".
Bà Woolf đã gặp Herr Zimmerman khi bà đang làm việc cho Quỹ Trung Anh dành cho người Đức Do Thái ("Tôi e rằng nó hơi khó đọc"). Ursula không bao giờ biết chắc liệu bà Woolf là một người phụ nữ có chút thế lực hay bà chỉ đơn giản không chấp nhận việc người ta từ chối những yêu cầu của bà. Có lẽ là cả hai.
"Chúng ta là một đám người có văn hóa, đúng không?" Ông Bullock mỉa mai nói. "Tại sao chúng ta không biểu diễn các tiết mục văn nghệ thay vì đánh nhau nhỉ?" ("Ông Bullock là một người đàn ông có cảm xúc mãnh liệt." Bà Woolf nói với Ursula. Và uống rượu cũng "mãnh liệt" nữa, Ursula nghĩ. Thực tế là mãnh liệt trong bất cứ thứ gì.)
Một hội trường nhỏ của Hội Giám lý* đã được bà Woolf trưng dụng để làm trạm gác (bản thân bà là một thành viên của Hội Giám lý), và họ đã trang bị cho nó hai chiếc giường xếp, một cái lò nhỏ với dụng cụ pha trà và một loạt ghế cả cứng cả mềm. So với vài - đúng ra là nhiều - trạm gác khác, trạm gác của họ thật sang trọng.
Là một nhóm các giáo hội thuộc cộng đồng Tin Lành, do John Wesley sáng lập từ thế kỷ XVIII.
Vào một đêm, ông Bullock mang đến một cái bàn chơi bài phủ vải len màu xanh lá và bà Woolf tự nhận rằng mình khá thích chơi bài bridge. Trong khoảng thời gian tạm lắng từ lúc nước Pháp thất thủ đến lúc những cuộc không kích đầu tiên vào đầu tháng Chín diễn ra, ông Bullock đã dạy họ chơi bài poker. "Quả là một tay chơi bài lão luyện." Ông Simms nói. Cả ông và ông Palmer đều mất vài si linh cho ông Bullock. Bà Woolf, trái lại, đã thắng được đến hai bảng lúc Cuộc không kích Blitz bắt đầu. Ông Bullock bày tỏ sự ngạc nhiên thích thú khi thấy các thành viên của Hội Giám lý được phép đánh bạc. Bà Woolf nói bà dùng tiền thắng bạc để mua một tấm bia phóng phi tiêu, vì vậy ông Bullock chẳng phàn nàn được gì. Một hôm, khi đang dọn dẹp một đống hộp to hộp nhỏ lộn xộn ở góc hội trường, họ phát hiện ra một cây dương cầm được giấu ở đó từ lâu và bà Woolf - ngày càng chứng tỏ mình là một người phụ nữ có nhiều tài lẻ - đã chơi đàn khá điêu luyện. Mặc dù bà thích nhạc của Chopin và Liszt nhưng bà vẫn táo bạo "đánh vài điệu nhạc" - theo lời của ông Bullock - để tất cả bọn họ cùng hát theo.
Họ đã gia cố cho trạm gác bằng những bao cát, dẫu không ai trong số họ tin rằng chúng sẽ có ích nếu họ bị trúng bom. Ngoại trừ Ursula nghĩ rằng phòng ngừa là một việc vô cùng sáng suốt, tất cả bọn họ đều có vẻ đồng ý với quan điểm của ông Bullock rằng "Trời kêu ai nấy dạ", một thái độ bàng quan của những người theo đạo Phật mà bác sĩ Kellet sẽ thán phục. Ursula từng đọc được một cáo phó trên tờ The Times hồi mùa hè. Cô thấy mừng vì bác sĩ Kellet đã tránh được một cuộc chiến tranh khác. Nó sẽ nhắc ông nghĩ đến việc con trai ông, là Guy, đã đánh mất tất cả ở Arras một cách vô ích.
Họ đều là những tình nguyện viên bán thời gian, ngoại trừ bà Woolf. Bà được trả lương để làm việc toàn thời gian và luôn làm tròn bổn phận của mình. Bà bắt buộc họ phải tuân theo kỷ luật nghiêm khắc và tham gia huấn luyện về quy trình chống khí độc, dập bom lửa, xông vào những tòa nhà đang cháy, khiêng cáng, nẹp và băng bó. Bà bắt họ đọc những cuốn cẩm nang, sau đó hỏi lại họ về nội dung của chúng, và sốt sắng dạy họ cách dán nhãn lên cơ thể cả người sống lẫn người chết để gửi tới bệnh viện hoặc nhà xác với đầy đủ thông tin chính xác như thể đó là những kiện hàng. Họ đã có vài buổi tập huấn ngoài trời, giả vờ như đang có một cuộc không kích. ("Chỉ là giả vờ thôi mà." Ông Bullock chế giễu, không thể nhập tâm được.) Ursula phải đóng vai người bị thương hai lần, một lần giả vờ gãy chân, lần khác giả vờ hoàn toàn bất tỉnh. Có lần, cô được "đổi vai", vào vai một dân phòng phải đối phó với ông Armitage đang giả vờ là một người bị hoảng loạn vì sốc. Cô cho rằng kinh nghiệm sân khấu đã giúp ông ấy nhập vai như thật. Họ đã rất khó khăn để thuyết phục ông ấy thoát vai vào cuối buổi diễn tập.
Họ phải biết tất cả các cư dân của mỗi tòa nhà trong khu vực của họ, phải nắm bắt được liệu những cư dân ấy có hầm trú ẩn riêng hay sẽ tới một hầm trú ẩn công cộng, hay sẽ tuân theo thuyết định mệnh và chẳng thèm bận tâm đến việc trú ẩn. Họ phải biết được ai đã đi vắng, chuyển nhà, kết hôn, sinh con, qua đời. Họ phải biết được ở đâu có vòi nước máy, ngõ cụt, hẻm nhỏ, hầm rượu, chỗ trú ẩn tạm thời của những người bị mất nhà cửa...
"Tuần tra và cảnh giới", đó là phương châm của bà Woolf. Họ thường đi tuần qua các con phố theo từng cặp cho đến nửa đêm khi cuộc không kích tạm lắng, và nếu trong khu vực của họ không có điểm nào bị ném bom, họ sẽ nhường nhau chiếc giường xếp. Đương nhiên, nếu có một cuộc không kích trên "các con phố của họ", "tất cả mọi người đều phải bắt tay vào cuộc", theo lời của bà Woolf. Đôi khi họ "cảnh giới" từ căn hộ của bà ở trên tầng ba với tầm nhìn tuyệt vời từ ô cửa sổ lớn ở góc nhà.
Bà Woolf cũng bắt họ luyện tập sơ cứu thêm. Ngoài việc từng là quản lý của một bệnh viện, bà còn từng điều hành một bệnh viện dã chiến trong cuộc chiến lần trước. Bà giải thích với họ rằng các thương vong trong chiến tranh khác xa so với những tai nạn thông thường mà người ta nhìn thấy trong thời bình ("Quý ông nào từng tham gia quân ngũ trong cuộc chiến đáng sợ ấy hẳn sẽ hiểu rõ"). "Ghê rợn hơn nhiều." Bà nói. "Chúng ta phải chuẩn bị tâm lý cho những hình ảnh vô cùng khủng khiếp." Đương nhiên, ngay cả bà Woolf cũng không hình dung nổi những cảnh tượng ấy khủng khiếp ra sao khi những người bị thương vong là dân thường chứ không phải các binh lính trên chiến trường, khi họ phải xúc những khối thịt bầy nhầy không thể nhận diện nổi hoặc nhặt nhạnh những cánh tay cẳng chân nhỏ bé của một đứa trẻ từ đống đổ nát, một cảnh tượng khiến trái tim họ như muốn tan vỡ.
"Chúng ta không thể ngoảnh mặt đi." Bà Woolf nói với cô. "Chúng ta phải tiến hành công việc của mình và làm chứng nhân." Bà ấy nói thế là có ý gì? Ursula tự hỏi. "Điều đó có nghĩa là..." Bà Woolf giải thích. "... Chúng ta phải nhớ tới những người này khi chúng ta đã an toàn trong tương lai."
"Nếu chúng ta cũng bị thiệt mạng thì sao?"
"Vậy thì những người khác sẽ phải nhớ đến chúng ta."
Vụ việc nghiêm trọng đầu tiên mà họ tham gia là ở một căn nhà lớn giữa một dãy nhà liền kề bị trúng bom trực tiếp. Phần còn lại của dãy nhà vẫn nguyên vẹn như thể Không quân Đức đã nhắm thẳng vào các cư dân trong ngôi nhà ấy - hai gia đình, trong đó có cả những người ông người bà và mấy đứa trẻ con, bao gồm hai đứa bé còn đang ẵm ngửa. Họ đều sống sót sau vụ nổ nhờ trú ẩn trong hầm rượu, nhưng vì cả mạng lưới đường ống nước sạch và nước thải đều bị vỡ nên trước khi người ta có thể bịt được chúng lại, tất cả mọi người dưới hầm rượu đều bị chết đuối trong thứ nước thải gớm ghiếc.
Một người phụ nữ đã cố gắng leo lên được và bám vào một trong những bức tường của căn hầm, họ có thể nhìn thấy bà ta qua một khe hở, bà Woolf và ông Armitage đã bám chặt vào cái thắt lưng bằng da của Hugh mà Ursula đeo trên người trong khi cô đu đưa trên miệng hầm. Cô vươn tay về phía người phụ nữ, trong một thoáng đã nghĩ rằng cô có thể nắm được tay bà ta, thế nhưng, cuối cùng bà ta vẫn chìm nghỉm dưới làn nước hôi thối khi nó dâng lên ngập kín căn hầm.
Khi đội cứu hỏa cuối cùng cũng tới để hút nước ra khỏi nơi đó, họ đưa lên được mười lăm thi thể trong đó có bảy đứa trẻ, và đặt những thi thể ấy trước mặt ngôi nhà như để phơi khô họ. Bà Woolf ra lệnh cho mọi người khâm liệm họ càng nhanh càng tốt, và xếp họ nằm ở đằng sau một bức tường trong lúc chờ xe của nhà xác đến. "Những cảnh tượng ấy sẽ ảnh hưởng xấu đến tinh thần của mọi người." Bà nói. Ursula đã nôn mửa hết bữa tối mà cô đã ăn từ lâu. Hầu như sau vụ "dọn dẹp" nào cô cũng nôn mửa. Ông Armitage cùng ông Palmer và trước đó là ông Simms cũng vậy. Chỉ có dạ dày của bà Woolf và ông Bullock là có vẻ mạnh mẽ khi đối mặt với cái chết.
Sau đó, Ursula cố gắng không nghĩ về những đứa trẻ hay vẻ kinh hãi trên khuôn mặt người phụ nữ tội nghiệp khi bà ta gắng sức bám vào tay Ursula trong vô vọng (và còn một vẻ gì đó nữa, có lẽ là sự hoài nghi, không tin rằng chuyện này có thể xảy ra.) "Hãy nghĩ rằng bây giờ họ đã được bình yên." Bà Woolf cứng rắn khuyên nhủ khi phân phát những tách trà ngọt nóng đến bỏng tay. "Họ đã được giải thoát khỏi tất cả, chỉ là đi sớm hơn một chút mà thôi." Và ông Durkin nói: "Họ đều đã tới thế giới của ánh sáng" Ursula nghĩ họ đều đang tới thế giới của ánh sáng mới đúng. Ursula không tin người chết sẽ đi bất cứ đâu ngoại trừ một nơi trống rỗng, tối tăm và mênh mông vô tận.
"Chà, tôi hy vọng tôi sẽ không chết với cơ thể bị bao phủ trong đống phân." Ông Bullock nói một cách thô tục hơn.
Ursula nghĩ cô sẽ không bao giờ quên được sự kiện khủng khiếp đầu tiên ấy, nhưng ký ức về nó đã bị nhiều vụ việc khác chồng chất lên. Và bây giờ cô hầu như không còn nghĩ về nó nữa.
❄
"Tệ quá!" Bà Woolf thản nhiên nói khi tới chỗ Ursula. "Họ cần một người mảnh khảnh."
"Mảnh khảnh ư?" Ursula lặp lại.
"Gầy." Bà Woolf kiên nhẫn nói.
"Để chui vào đó?" Ursula hỏi, kinh hãi nhìn lên đỉnh của "ngọn núi lửa". Cô không chắc cô đủ can đảm chui xuống cái hố địa ngục đó.
"Không, không, không phải ở đó đâu." Bà Woolf nói. "Đi với tôi nào." Trời bắt đầu mưa khá to và Ursula loạng choạng bước theo sau bà Woolf trên mặt đất lởm chởm, nứt vỡ, rải rác đủ loại chướng ngại vật. Chiếc đèn pin của cô gần như vô dụng. Cô bị mắc chân vào một cái bánh xe đạp và tự hỏi liệu có ai đang đi cái xe này khi quả bom rơi xuống không.
"Đây." Bà Woolf nói. Đó là một "cái gò" khác, cũng to như cái vừa rồi. Đây là con phố khác hay vẫn là con phố ấy? Ursula đã mất mọi cảm nhận về phương hướng. Ở đó có bao nhiêu "cái gò"? Một viễn cảnh giống như trong cơn ác mộng lóe lên trong đầu cô - toàn bộ London giờ đã trở thành một cái gò khổng lồ.
"Cái gò" này không phải là một "ngọn núi lửa", đội cứu hộ đang chui vào đó qua một "đường hầm" nằm ngang ở bên cạnh. Lần này họ mạnh tay hơn, dọn đống đổ nát bằng cuốc chim và xẻng.
"Ở đấy có một cái hố." Bà Woolf nói, nắm chặt tay Ursula như thể cô là một đứa trẻ đang ngần ngại và dẫn cô tiến về phía trước. Ursula chẳng thấy cái hố nào cả. "Tôi nghĩ là nó an toàn, cô chỉ cần luồn người qua thôi."
"Một đường hầm à?"
"Không, nó chỉ là một cái hố. Chúng tôi nghĩ có người ở dưới đó. Nó không sâu đâu." Bà khích lệ. "Không phải là một đường hầm." Bà lại nói. "Hãy chui đầu vào trước." Đội cứu hộ dừng mọi động tác và kiên nhẫn chờ đợi Ursula.
Cô phải cởi mũ bảo hiểm ra để chui xuống cái hố, bàn tay vụng về cầm chiếc đèn pin ở trước mặt. Bất chấp những gì bà Woolf nói, cô vẫn nghĩ nó là một đường hầm, thế rồi cô lập tức đối mặt với một khoảng không sâu hoắm. Cứ như cô đang thám hiểm hang động ngầm dưới mặt đất vậy. Cô nhẹ nhõm khi cảm thấy có hai đôi bàn tay vô hình đang nắm chặt vào chiếc thắt lưng da cũ của Hugh trên người cô. Cô khua chiếc đèn pin khắp xung quanh, cố gắng nhìn xem có gì ở dưới không, bất cứ thứ gì. "Xin chào?" Cô gọi to khi chiếu ngọn đèn pin xuống cái hố. Nó bị chắn bởi một mạng lưới ống dẫn khí gas uốn lượn lộn xộn và những thanh gỗ gãy vụn như những que diêm. Cô tập trung vào một khe hở trong đống hỗn độn đó, cố gắng nhìn xem có bất kỳ thứ gì trong cảnh u ám ở bên dưới không. Một khuôn mặt đang ngẩng lên, khuôn mặt của một người đàn ông, xanh xao và ma quái, dường như nó đang nhô lên từ trong bóng tối như một ảo ảnh, một tù nhân trong một hầm giam bí mật. Cô cũng không biết chắc khuôn mặt đó có gắn liền với một cơ thể nào hay không.
"Xin chào?" Cô nói, cứ như người đàn ông đó có thể trả lời, mặc dù bây giờ cô có thể nhìn thấy rằng một phần đầu của ông ta đã bị bay đi mất.
"Có ai không?" Bà Woolf hỏi với vẻ tràn đầy hy vọng khi cô bò lùi ra khỏi cái hố.
"Một người chết."
"Có dễ lôi ra không?"
"Không."
❄
Cơn mưa khiến mọi thứ trở nên bẩn thỉu và hôi hám hơn, nó làm cho lớp bụi gạch ướt át trở nên dính như keo. Sau vài giờ đồng hồ lăn lộn vất vả trong tình cảnh ấy, tất cả bọn họ đều lấm lem từ đầu đến chân. Chỉ nghĩ đến thôi cũng thấy ghê tởm.
Tình hình giao thông đang hỗn loạn vì đường Cromwell bị trúng bom, vì thế ở đây thiếu cả xe cứu thương lẫn đội ngũ bác sĩ, y tá, thế là những bài học về cứu thương của bà Woolf liền trở nên hữu dụng. Ursula nẹp một cánh tay bị gãy, băng bó một cái đầu bị thương, bịt miếng vải lên một con mắt và băng bó cái cổ chân của ông Simms - ông đã bị trật chân vì mặt đất gồ ghề. Cô dán nhãn hai người sống sót nhưng bị bất tỉnh (đầu bị chấn thương, xương đùi, xương đòn, xương sườn bị gãy và khung xương chậu có vẻ bị giập nát), cùng vài người chết (những người này thì dễ dàng hơn, họ chỉ đơn giản là đã chết), rồi sau đó kiểm tra lại một lần nữa để đề phòng trường hợp cô dán nhãn nhầm mà gửi người chết tới bệnh viện, còn người sống thì gửi tới nhà xác. Cô cũng hướng dẫn vô số người sống sót tới nơi lưu trú tạm thời và dìu những người bị thương tới trạm cấp cứu do bà Woolf quản lý.
"Hãy tóm lấy thằng nhóc Anthony nếu cô có thể nhé!" Bà nói khi nhìn thấy Ursula. "Bảo nó đẩy một cái căng tin di động xuống dưới này." Ursula sai Tony đi làm việc này. Chỉ có mình bà Woolf gọi nó là Anthony. Thằng nhóc mười ba tuổi, nó là một hướng đạo sinh và là liên lạc viên trong đội dân phòng của họ. Nó thường đạp xe rầm rập qua các con phố vương vãi gạch vụn và kính vỡ. Ursula nghĩ, nếu Tony là con trai cô, cô sẽ đưa thằng bé đi thật xa khỏi cơn ác mộng này thay vì ném thằng bé vào trong lòng của nó. Khỏi cần phải nói cũng biết thằng bé rất thích việc này.
Sau khi chuyển lời cho Tony xong, Ursula lại chui xuống cái hố bởi vì có người nghĩ họ nghe thấy một tiếng động, nhưng cái xác chết tái nhợt kia vẫn im lặng như cũ. "Chào ông lần nữa nhé!" Cô nói với ông ta. Cô nghĩ đó có thể là ông McColl sống ở con phố bên cạnh. Có lẽ ông ta đang tới thăm ai đó. Thật xui xẻo. Cô mệt bã cả người đến mức cảm thấy ghen tỵ với người chết vì họ đã được nghỉ ngơi vĩnh viễn.
Khi cô lại chui ra khỏi cái hố, căng tin di động đã tới. Cô súc miệng bằng nước trà và nhổ ra toàn bụi gạch. "Tôi cá rằng cô từng là một quý cô thực thụ." Ông Palmer cười. "Ngại quá!" Ursula cười nói. "Tôi cứ nghĩ cách tôi nhổ rất giống một quý cô chứ!" Việc cứu hộ trên "cái gò" vẫn đang diễn ra mà vẫn chưa có kết quả gì nhưng màn đêm đang tan biến dần. Rồi bà Woolf bảo cô quay lại trạm gác để nghỉ ngơi. Trên "cái gò", một sợi dây thừng đã được đem tới để dòng ai đó xuống hoặc kéo ai đó lên, hoặc cả hai. ("Họ nghĩ là một người phụ nữ." Ông Durkin nói.)
Cô mệt rã rời, hầu như không bước nổi. Cô cố gắng vừa đi vừa tránh gạch đá vụn lổn nhổn được chừng mười thước thì có ai đó tóm lấy cánh tay cô và kéo giật lùi lại, mạnh đến nỗi nếu họ không giữ chặt cô, giúp cô đứng thẳng thì cô sẽ ngã ngửa ra mất. "Cẩn thận, cô Todd." Một giọng nói vang lên.
"Ông Bullock?" Nếu như họ đang ở trong cái không gian chật hẹp của trạm gác thì ông Bullock hẳn sẽ làm cô hơi giật mình, bởi vì nếu ông ta có giở trò gì thì cô cũng không tài nào chống cự được, nhưng lạ lùng thay, khi ở ngoài này, ở nơi tăm tối này, ông ta lại có vẻ vô hại. "Có chuyện gì vậy?" Cô hỏi. "Tôi đang rất mệt."
Ông ta chiếu đèn pin về phía trước mặt bọn họ. "Cô thấy không?" Ông ta hỏi.
"Tôi chẳng thấy gì cả."
"Là vì ở đó chẳng có gì." Cô nhìn kĩ hơn. Đó là một cái hố - một cái hố khổng lồ - một cái hố không đáy. "Sâu chừng sáu mét, có thể là chín mét." Ông Bullock nói. "Và lúc nãy cô suýt chút nữa thì bước thẳng xuống đó."
Ông ta hộ tống cô về trạm gác. "Cô mệt mỏi quá rồi." Ông ta nói. Ông ta vẫn nắm cánh tay cô suốt chặng đường đi, cô có thể cảm nhận được sức mạnh từ cơ bắp của ông ta qua cái siết tay ấy.
Về đến trạm gác, cô thả mình xuống một chiếc giường xếp và thiếp ngủ ngay như thể bị ngất đi. Cô tỉnh dậy khi tiếng còi báo an vang lên vào lúc sáu giờ. Cô có cảm giác mình đã ngủ hàng mấy ngày trời nhưng thực chất mới chỉ có ba tiếng đồng hồ trôi qua.
Ông Palmer cũng ở đó, đang thơ thẩn pha trà. Cô có thể hình dung ra cảnh ông ta đang ở nhà, đi dép lê, hút tẩu thuốc và đọc báo. Thật kỳ quặc khi ông ta lại ở đây. "Cô về đi." Ông ta nói, đưa cho cô một cốc trà. "Cô nên về nhà, cưng ạ." Ông ta nói. "Tạnh mưa rồi." Như thể cơn mưa chứ không phải Không quân Đức đã làm hỏng buổi tối của cô.
❄
Thay vì đi thẳng về nhà, cô quay lại "cái gò" để xem công cuộc cứu hộ tiến triển đến đâu rồi. Trong ánh sáng ban ngày, nó có vẻ khác biệt, hình dáng của nó quen thuộc đến kỳ lạ. Nó gợi cô nhớ đến thứ gì đó, nhưng dù cố gắng thế nào cô cũng không thể nghĩ ra nó là thứ gì.
Trước mắt cô là một khung cảnh hoang tàn đổ nát, cả con phố hầu như đã biến mất, nhưng "cái gò", "cái gò" đầu tiên, vẫn giống như một tổ ong náo nhiệt. Cô nghĩ nó sẽ trở thành đề tài thú vị cho một họa sĩ thời chiến. Những người đào bới trên gò sẽ là một tiêu đề hay ho. Bea Shawcross từng học ở trường mỹ thuật, cô ấy tốt nghiệp ngay khi chiến tranh nổ ra. Ursula tự hỏi liệu cô ấy có bị thôi thúc phải miêu tả cuộc chiến không, hay cô ấy đang cố gắng không nghĩ đến nó?
Cô rón rén leo lên những "cái ụ" nhỏ dưới chân của "cái gò". Một thành viên của đội cứu hộ giơ tay ra để kéo cô lên. Ca trực mới đã tới nhưng Ursula thấy rằng ca trực cũ vẫn đang làm việc. Ursula hiểu. Ta khó lòng rời bỏ một địa điểm bị trúng bom khi ta có cảm giác là mình "sở hữu" nó.
Một tiếng reo phấn khích chợt vang lên xung quanh "miệng núi lửa" khi bao nỗi gian nan vất vả của họ từ đêm hôm qua cuối cùng cũng thu được thành quả. Một người phụ nữ buộc dây thừng quanh người phía dưới hai nách (lúc này họ chẳng còn nhẹ nhàng rón rén nữa) được lôi lên khỏi khe hở hẹp. Mọi người chuyền tay nhau chuyển cô ta xuống dưới "cái gò".
Ursula có thể thấy rằng cô ta gần như đen sì vì bụi đất và đang trong tình trạng nửa mê nửa tình. Bị suy kiệt nhưng vẫn còn sống, dù chỉ thoi thóp. Cô ta được đưa lên một cái xe cứu thương đang kiên nhẫn chờ đợi ở dưới chân "gò".
Ursula leo xuống dưới. Trên mặt đất, có một thi thể được quấn vải liệm đang nằm đợi xe chở xác. Ursula nhấc tấm vải phủ ra khỏi mặt của thi thể đó và phát hiện ra đó chính là người đàn ông có khuôn mặt tái nhợt của đêm qua. Dưới ánh sáng ban ngày, cô có thể xác định rõ ràng đó chính là ông McColl ở nhà số 10. "Chào ông!" Cô nói. Ông ta sẽ sớm trở thành một người bạn cũ. Bà Woolf sẽ bảo cô dán nhãn ông ta, nhưng khi cô tìm kiếm tập giấy ghi, cô phát hiện ra mình đã đánh mất nó và giờ chẳng có gì để viết cả. Cô lục tìm trong một cái túi và thấy thỏi son của mình. Buộc phải làm, cô nghe thấy giọng của Sylvie cất lên.
Cô định viết lên trán ông McColl nhưng điều đó dường như hơi khiếm nhã (Sự khiếm nhã còn khủng khiếp hơn cả cái chết, phải không? Cô tự hỏi). Vì vậy, cô lật miếng vải phủ trên cánh tay ông ta lên rồi nhổ nước bọt vào một cái khăn tay và chùi ít bụi đất bám trên đó, như thể ông ta là một cậu bé. Cô viết tên và địa chỉ của ông ta lên cánh tay ông ta bằng thỏi son. Màu đỏ máu, có vẻ thực sự phù hợp.
"Chà, tạm biệt!" Cô nói. "Tôi không nghĩ chúng ta sẽ còn gặp lại."
❄
Đi men theo cái miệng hố nguy hiểm mà cô suýt ngã xuống tối qua, cô phát hiện bà Woolf đang ngồi đằng sau một cái bàn ăn được bà tận dụng từ đống đổ nát, như thể bà đang ở trong một văn phòng, nói với mọi người rằng họ nên làm gì tiếp theo - phải đi đến đâu để có được thức ăn và chỗ trú ngụ, phải làm thế nào để kiếm được quần áo và thẻ thực phẩm, vân vân. Bà Woolf vẫn tỏ ra vui vẻ, nhưng có Chúa mới biết lần cuối cùng bà ngủ là khi nào. Không còn nghi ngờ gì nữa, người phụ nữ này đúng là có tinh thần thép. Ursula rất quý mến bà Woolf, cô kính trọng bà hơn hầu hết bất cứ ai mà cô từng biết, có lẽ là ngoại trừ Hugh.
Dòng người đứng xếp hàng là những người đã ẩn nấp trong một hầm trú ẩn lớn, nhiều người vẫn còn đang đi ra khỏi đó, chớp chớp mắt trước ánh sáng ban ngày như những loài thú ăn đêm và phát hiện ra họ không còn nhà để về nữa. Căn hầm đang ở sai chỗ, sai đường, Ursula nghĩ. Mất vài giây cô mới định hướng lại được trí óc của mình và nhận ra rằng cả đêm qua, cô đã nghĩ mình đang ở một con phố khác.
"Họ đã đưa được người phụ nữ đó ra ngoài." Cô kể với bà Woolf.
"Còn sống chứ?"
"Gần như vậy."
❄
Khi cô cuối cùng cũng trở về Phillimore Gardens, cô thấy Millie đã dậy và thay quần áo. "Mọi chuyện ổn cả chứ?" Cô ấy hỏi. "Trong bình có ít trà đấy." Cô ấy nói thêm, rót trà và đưa cho Ursula một tách.
"Ồ, cậu biết đấy." Ursula nói và đón lấy tách trà. Nước trà âm ấm. Cô nhún vai. "Khá khủng khiếp. Đã đến giờ chưa? Mình phải đi làm."
❄
Ngày hôm sau, cô ngạc nhiên khi nhìn thấy một trang tài liệu ghi chép của bà Woolf được viết bằng nét chữ rõ ràng. Thi thoảng, một tập hồ sơ sẽ được đựng trong cái túi kết bằng vải vụn đầy bí ẩn thay vì bìa kẹp màu da bò như thường lệ. Ursula không bao giờ hiểu được làm thế nào mà chúng lại xuất hiện trên bàn làm việc của cô. 05:00 Báo cáo tạm thời về vụ ném bom. Báo cáo tình hình. 55 người bị thương được chuyển tới bệnh viện, 30 người chết, 3 người còn mất tích. Bảy ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, khoảng 120 người vô gia cư. 2 đội cứu hỏa, 2 xe cứu thương, 2 xe cứu hỏa hạng nặng, 2 xe cứu hỏa hạng nhẹ và một con chó vẫn đang làm việc. Công việc vẫn đang tiến hành.
Ursula đã không để ý là ở đó có chó. Đó chỉ là một trong nhiều địa điểm bị trúng bom trên khắp London vào tối hôm qua và cô cầm cả một xấp tài liệu lên, nói: "Cô Fawcett, cô ghi lại những số liệu này nhé!" Cô hầu như không thể đợi nổi chiếc xe đựng đồ trà và bữa ăn nhẹ lúc mười một giờ trưa.
❄
Họ ăn trưa trên hàng hiên ngoài trời. Sa lát khoai tây, trứng, củ cải, rau diếp, cà chua, thậm chí một quả dưa chuột. "Tất cả đều do chính đôi tay trắng trẻo của mẹ chúng ta trồng đấy." Pamela nói. Đó thực sự là bữa ăn ngon nhất mà Ursula được ăn trong suốt thời gian dài vừa qua. "Và chị tin rằng tiếp theo sẽ là món bánh nướng nhân mứt táo." Pamela nói. Chỉ có hai người họ ở bàn. Sylvie đã ra mở cửa vì có tiếng chuông, còn Hugh vẫn chưa về nhà. Ông đã đi xem xét tình hình một quả bom chưa phát nổ, nghe nói nó đã rơi xuống một cánh đồng ở phía bên kia của ngôi làng.
Mấy thằng nhóc cũng đang ăn ở ngoài trời - chúng nằm ườn ra trên thảm cỏ, ăn thịt bò rừng hầm và món ngô đậu xào (hoặc, trong thế giới thực, là món sandwich kẹp thịt bò muối và trứng luộc kĩ). Chúng đã dựng lên một cái lều cũ ẩm mốc mà chúng "khai quật" được trong nhà kho, và đang đắm chìm trong một trò chơi lộn xộn liên quan đến các chàng cao bồi và thổ dân Da Đỏ cho đến khi chiếc xe chở thức ăn và bếp lò xuất hiện (thực ra là Bridget bê ra một cái khay).
Các con trai của Pamela là cao bồi, còn lũ trẻ tản cư quá đỗi vui sướng khi được làm thổ dân Apache. "Chị nghĩ việc này phù hợp với bản chất của chúng hơn." Pamela nói. Cô đã làm cho chúng những cái băng quấn đầu bằng bìa các tông gắn lông gà. "Đám cao bồi" phải tận dụng những cái khăn tay của Hugh để buộc quanh cổ. Hai con chó Labrador đang đuổi nhau vòng quanh một cách điên cuồng vì phấn khích, trong khi Gerald, mới mười tháng tuổi, ngủ ngon lành trên một cái chăn bên cạnh Heidi, con chó của Pamela, một con vật quá điềm đạm nên sẽ không tham gia vào những "trò hề" như thế.
"Rõ ràng chúng coi thằng bé là một cô nàng Da Đỏ." Pamela nói. "Ít nhất trò này cũng giữ chúng yên lặng. Thật là kỳ diệu. Nó khá hợp với cái mùa hè Anh Điêng* này."
Thuật ngữ chỉ những ngày mùa thu có nhiệt độ cao, nóng bức khô hanh như mùa hè.
"Sáu thằng bé trong một ngôi nhà." Pamela nói. "Ơn Chúa là học kỳ mới đã bắt đầu rồi. Bọn con trai không bao giờ biết mệt là gì, lúc nào em cũng phải khiến chúng bận rộn. Chị cho rằng em chỉ ghé qua chớp nhoáng, đúng không?"
"Em e là vậy."
Cô đã hy sinh một ngày thứ Bảy quý giá để gặp Pammy và lũ trẻ. Cô thấy Pamela như đã cạn kiệt mọi sức lực, trong khi Sylvie dường như tràn trề sinh lực nhờ cuộc chiến. Bà đã trở thành một thành viên tích cực không ngờ của Lực lượng Phụ nữ Tình nguyện WVS.
"Chị đã rất ngạc nhiên. Mẹ vốn không thích những người phụ nữ khác lắm." Pamela nói.
Sylvie hiện có một đàn gà lớn và đã tặng sản lượng trứng đạt mức thời chiến. "Những sinh vật tội nghiệp ấy bị ép đẻ trứng cả ngày lẫn đêm." Pamela nói. "Cứ như mẹ đang điều hành một nhà máy sản xuất vũ khí vậy." Ursula không rõ làm thế nào mà ta có thể bắt một con gà đẻ được nhiều trứng đến vậy. "Mẹ thuyết phục chúng." Pamela cười. "Một bà chăn gà đáng mến."
Ursula không nhắc đến chuyện cô từng được gọi đến hiện trường của một vụ ném bom. Trong ngôi nhà bị trúng bom ấy có một cái chuồng gà tự chế ở sân sau, và khi họ tới nơi, họ thấy hầu hết lũ gà đều còn sống nhưng đã bị thổi bay hết lông. "Được vặt lông sẵn." Ông Bullock đã cười một cách tàn nhẫn. Ursula đã nhìn thấy những người bị thổi bay hết quần áo và những cái cây bị trụi hết lá vào giữa mùa hè, nhưng cô cũng không nhắc đến những chuyện này. Cô không nhắc đến việc có người phải lội trong thứ nước thải chảy ra từ các ống dẫn bị vỡ, chắc chắn càng không nhắc đến việc có người bị chết đuối trong thứ nước thải đó. Cô cũng không nhắc đến cảm giác khủng khiếp khi đặt tay lên ngực một người đàn ông và thấy rằng bàn tay mình luồn được hẳn vào bên trong lồng ngực của ông ta. (Cái chết - cô cho rằng đó là điều người ta cần biết ơn.)
Harold có kể với Pamela những điều mà anh đã trông thấy không? Ursula không hỏi chị gái mình điều này, khơi chủ đề ấy vào một ngày dễ chịu như thế này thì có vẻ không đúng lắm. Cô nghĩ về tất cả những người lính trở về nhà sau cuộc chiến lần trước, họ không bao giờ nói đến những gì họ đã chứng kiến trong những con hào. Ông Simms, ông Palmer, đương nhiên cả bố cô nữa.
Trại sản xuất trứng của Sylvie có vẻ nằm ở giữa một kiểu chợ đen vùng nông thôn. Không ai trong làng đặc biệt thiếu thốn thứ gì. "Quanh đây đang phát triển một nền kinh tế hàng đổi hàng." Pamela nói. "Và họ thực sự trao đổi các hiện vật với nhau, tin chị đi. Mẹ đang làm thế ở cửa chính đấy."
"Ít nhất ở đây cũng khá an toàn." Ursula nói. Có thật không? Cô nghĩ về quả bom chưa nổ mà Hugh đang đi xem. Tuần trước, một quả bom đã rơi xuống một cánh đồng thuộc trang trại của Lâu đài Ettringham và làm những con bò ở đó nổ tung thành từng mảnh nhỏ. "Nhiều người ở quanh đây vẫn âm thầm ăn thịt bò." Pamela nói. "Bao gồm cả chúng ta, chị hân hạnh thông báo với em như vậy." Sylvie có vẻ nghĩ rằng "sự kiện khủng khiếp" này đã đưa họ lên ngang hàng với sự thống khổ của London. Giờ bà đã quay lại và châm một điếu thuốc thay vì ăn nốt chỗ thức ăn dang dở. Ursula ăn nốt chỗ thức ăn bà bỏ lại trên đĩa, trong khi đó, Pamela lấy một điếu thuốc lá trong hộp thuốc của Sylvie và châm lửa.
Bridget ra ngoài, bắt đầu rửa bát đĩa và Ursula bật dậy, nói: "Ồ, không, để em làm cho." Pamela và Sylvie vẫn ngồi ở bàn, im lặng hút thuốc, quan sát sự phòng thủ của những "chàng cao bồi" trong lều trước cuộc đột kích của lũ trẻ tản cư. Ursula cảm thấy hơi tủi thân. Cả Sylvie và Pamela đều làm như chỉ có họ mới phải chịu đựng sự khốn khổ, vất vả, trong khi bản thân cô phải làm việc suốt cả ngày, rồi hầu như đêm nào cũng đi tuần, đối mặt với những cảnh tượng gớm ghiếc nhất. Mới hôm qua thôi, họ đã phải nỗ lực giải cứu một người trong khi máu từ một thi thể trên căn gác cứ tong tỏng nhỏ xuống đầu họ. Họ không thể lên căn phòng đó bởi vì những mảnh kính vỡ từ ô cửa sổ mái khổng lồ đã lấp kín cầu thang, cao tới tận đầu gối.
"Tôi đang tính chuyện trở về Ireland." Bridget nói khi họ lau khô những cái đĩa. "Tôi chưa bao giờ có cảm giác cái đất nước này là nhà mình."
"Em cũng vậy." Ursula nói.
❄
Món bánh nướng nhân mứt táo hóa ra chỉ là những miếng táo ngào đường, vì Sylvie không chịu dùng những chiếc bánh mì cũ quý giá để làm phần độn bánh, bởi chúng có thể được dùng một cách có ích hơn, đó là cho gà ăn. Ở Góc Cáo, chẳng có gì bị bỏ phí cả. Tất cả những thứ đầu thừa đuôi thẹo đều được dành cho lũ gà hết ("Mẹ các con đang tính chuyện nuôi một con lợn." Hugh nói với vẻ tuyệt vọng). Sau khi những mẩu xương đã được ninh để lấy nước dùng, chúng sẽ được gửi đi tái chế, giống như những hộp thiếc và lọ thủy tính đựng mứt, tương ớt, đậu hay cà chua đã được dùng hết. Tất cả các quyển sách trong nhà đã được đóng thùng giấy và mang đến bưu điện để gửi cho các quân chủng. "Chúng ta đã đọc chúng rồi." Sylvie nói. "Vậy thì còn giữ chúng làm gì?"
Hugh trở về và Bridget càu nhàu mang một cái đĩa ra ngoài cho ông.
"Ồ!" Sylvie nhã nhặn nói với ông. "Anh có sống ở đây không vậy? Ý em là, tại sao anh không ngồi cùng bọn em?"
"Thực sự thì, Sylvie à!" Hugh nói, gay gắt hơn thường lệ. "Nhiều lúc em cứ như trẻ con vậy."
"Nếu em giống như trẻ con thì cũng là do cuộc hôn nhân này biến em thành như vậy." Sylvie nói.
"Anh nhớ rằng em từng nói đối với một người phụ nữ, không có điều gì có ý nghĩa cao cả hơn một cuộc hôn nhân." Hugh nói.
"Em từng nói thế ư? Chắc là từ hồi chúng ta còn nông nổi."
Pamela nhướng mày với Ursula và Ursula tự hỏi cha mẹ họ bắt đầu cãi cọ một cách công khai như vậy từ khi nào? Ursula định hỏi ông về quả bom nhưng Pamela đã vui vẻ hỏi cô "Millie thế nào?" để thay đổi chủ đề.
"Cô ấy ổn." Ursula nói. "Sống chung với cô ấy rất thoải mái. Mặc dù em chẳng mấy khi chạm mặt cô ấy ở Phillimore Gardens. Cô ấy đã gia nhập ENSA*. Đoàn kịch của cô ấy đi lưu diễn quanh các nhà máy, giải trí cho các công nhân vào giờ ăn trưa của họ."
Tên viết tắt của một tổ chức giải trí cho quân đội Anh.
"Những con người tội nghiệp." Hugh cười.
"Với các vở kịch của Shakespeare ư?" Sylvie nghi ngờ hỏi.
"Con nghĩ dạo gần đây cô ấy có thể đóng bất cứ thể loại nào. Một chút hát hò, hài kịch, mẹ biết đấy."
Trông Sylvie chẳng có vẻ gì là biết cả.
"Con có một người đàn ông trẻ..." Ursula buột miệng, khiến tất cả mọi người đều bất ngờ, bao gồm cả chính cô. Cô chỉ định giúp cho bầu không khí của cuộc trò chuyện trở nên tươi sáng hơn. Đáng lẽ cô không nên dại dột như vậy.
❄
Anh tên là Ralph. Anh sống ở Holborn và là một người bạn mới của cô, một "người bạn thân" mà cô gặp ở lớp học tiếng Đức. Trước chiến tranh, anh từng là một kiến trúc sư và Ursula cho rằng sau này anh cũng sẽ là một kiến trúc sư. Nếu vẫn còn có người sống, dĩ nhiên rồi. (Liệu London có bị xóa sổ giống như Knossos* hay Pompeii* không? Những người ở đảo Crete và những người La Mã có lẽ đã đi vòng quanh trong lòng thảm họa và nói: "Chúng ta có thể chịu đựng được.") Ralph nung nấu rất nhiều ý tưởng về việc xây dựng lại những khu nhà ổ chuột thành những tòa tháp hiện đại. "Một thành phố dành cho những người..." Anh nói."... Vươn lên từ đống tro tàn của thành phố cũ như một con chim phượng hoàng, hoàn toàn lột xác."
Là địa điểm khảo cổ lớn nhất thời đại đồ đồng trên đảo Crete và được xem là thành phố lâu đời nhất của châu Âu.
Tàn tích một thành bang La Mã bị chôn vùi một phần gần Napoli, Ý hiện nay. Pompeii đã bị phá hủy và bị chôn vùi hoàn toàn trong một vụ núi lửa phun trào năm 79.
"Anh ta cứ như một kẻ bài trừ thánh tượng, chuyên đả phá những tín ngưỡng lâu đời ấy nhỉ." Pamela nói.
"Anh ấy không phải là người hoài cổ như chúng ta."
"Chúng ta ư? Hoài cổ ư?"
"Vâng." Ursula nói. "Sự hoài cổ dựa trên một thứ chưa từng tồn tại. Chúng ta tưởng tượng ra một vùng đất Arcadia trong quá khứ, còn Ralph nhìn thấy nó trong tương lai. Đương nhiên, cả hai đều không có thật."
"Những tòa lâu đài đội mây?"
"Đại loại thế."
"Nhưng em thích anh ta?"
"Vâng."
"Em đã... chưa? Em biết ý chị là gì phải không?"
"Thật tình! Chị hỏi kiểu gì vậy?" Ursula cười. (Sylvie đã trở ra ngoài cửa, Hugh thì đang ngồi bắt tréo chân trên thảm cỏ, giả vờ là một vị tù trưởng.)
"Đó là một câu hỏi rất hay." Pamela nói.
Thật ra, họ chưa làm gì cả. Có lẽ, nếu anh nồng nhiệt hơn... Cô nghĩ về Crighton. "Dù sao đi nữa, có quá ít thời gian để..."
"Làm tình?" Pamela nói.
"Chà, em định nói là tìm hiểu, nhưng đúng vậy, có quá ít thời gian để làm tình." Sylvie đã quay lại và đang cố gắng tách rời hai phe tham chiến trên thảm cỏ. Lũ trẻ tản cư là những kẻ địch rất hiếu chiến. Hugh hiện đang bị trói bằng một sợi dây phơi cũ. "Cứu bố với!" Ông mấp máy môi với Ursula và cười toe toét như một cậu học sinh. Thật là tuyệt khi thấy ông vui vẻ.
Nếu là trước chiến tranh, hẳn là Ralph sẽ tìm hiểu cô (hoặc có lẽ là cô tìm hiểu anh) bằng những cuộc khiêu vũ, những buổi xem phim, những bữa tối ấm cúng chỉ riêng hai người với nhau, nhưng bây giờ, họ thường xuyên thấy mình có mặt ở những địa điểm bị trúng bom, giống như khách du lịch đang tham quan những di tích cổ xưa. Họ đã phát hiện ra việc ngồi ở tầng trên cùng của chuyến xe buýt số 11 đặc biệt phù hợp với việc này.
Có lẽ nguyên nhân thực sự khiến họ chưa làm tình với nhau là do một trở ngại nào đó trong tính cách của họ, chứ không phải vì chiến tranh. Suy cho cùng, những cặp đôi khác vẫn làm điều đó bình thường đấy thôi.
Họ đã "ghé thăm" Triển lãm Duveen ở Viện Bảo tàng Anh, tiệm Hammonds nằm bên cạnh tòa nhà Triển lãm Quốc gia, hố bom khổng lồ trước mặt tòa nhà Ngân hàng, nó to đến nỗi họ phải bắc tạm một cây cầu qua miệng hố. Cửa hàng John Lewis vẫn đang cháy âm ỉ lúc họ tới đó, những con ma nơ canh trên các ô kính bày hàng giờ đen sì và nằm vương vãi khắp vỉa hè, quần áo bị rách toạc.
"Em có nghĩ chúng ta giống những con quỷ ăn xác chết không?" Ralph hỏi. Và Ursula trả lời: "Không, chúng ta là chứng nhân." Cô cho rằng rốt cuộc cô sẽ lên giường với anh. Cô chẳng tìm ra được cái cớ nào đủ lớn để chống lại điều đó cả.
Bridget mang trà với bánh ngọt ra và Pamela nói: "Chị nghĩ chị nên cởi trói cho bố."
❄
"Uống đi!" Hugh nói, rót cho cô một cốc rượu mạch nha từ cái bình thon cổ bằng thủy tinh có hoa văn chạm chìm mà ông cất trong "mật thất" của mình. "Dạo gần đây bố thấy mình càng ngày càng hay ở trong này." Ông nói. "Đấy là nơi duy nhất bố có được sự bình yên. Lũ chó và bọn trẻ tản cư bị cấm tuyệt đối. Bố lo cho con, con biết đấy." Ông nói thêm.
"Con cũng lo cho chính mình, bố ạ."
"Ở đó có khủng khiếp lắm không?"
"Rất khủng khiếp. Nhưng con tin đó là điều đúng đắn. Con nghĩ chúng ta đang làm điều đúng đắn."
"Một cuộc chiến tranh đúng đắn ư? Con cũng biết rằng phần lớn họ hàng của nhà Cole vẫn ở lục địa đúng không? Ông Cole đã kể cho bố nghe vài chuyện đáng sợ đang xảy ra với người Do Thái. Bố không nghĩ có ai ở đấy thực sự muốn biết. Dù sao đi nữa..." Ông nói, giơ cốc lên và cố gắng nói với giọng vui vẻ: "... Cạn chén thôi. Mong chiến tranh sớm kết thúc."
❄
Khi cô rời đi, trời đã tối. Hugh tiễn cô đi dọc theo con đường mòn tới nhà ga.
"Bố chẳng có xăng để chở con đi." Ông nói. "Đáng lẽ con nên đi sớm hơn." Ông rầu rĩ nói thêm. Ông cầm theo một ngọn đèn pin to tướng và chẳng có ai quát nạt bắt ông tắt đèn đi. "Bố không nghĩ ngọn đèn này có thể chỉ đường cho một chiếc máy bay Heinkel." Ông nói. Ursula kể với ông rằng hầu hết các đội cứu hộ đều sợ ánh đèn đến mê muội ngay cả khi họ đang ở giữa một cuộc không kích, bị vây xung quanh bởi những tòa nhà cháy ngùn ngụt cùng những quả bom lửa và pháo sáng. Cứ như một ánh đèn pin nhỏ nhoi sẽ tạo nên điều gì khác biệt vậy.
"Bố biết có một anh chàng đang ở dưới con hào..." Hugh nói."... Anh ta bỗng đánh một que diêm, và a lê hấp, một tay súng bắn tỉa của quân Đức đã bắn thẳng vào đầu anh ta. Đó là một chàng trai tốt." Ông trầm ngâm nói thêm. "Tên là Rogerson, trùng tên với chủ tiệm bánh trong làng. Nhưng giữa họ không có dây mơ rễ má gì cả."
"Bố chưa bao giờ kể chuyện này." Ursula nói.
"Thì giờ bố đang kể đấy." Hugh nói. "Con hãy lấy nó làm bài học, luôn phải cúi đầu thấp hơn bờ công sự và không được để lộ ánh đèn của mình."
"Con biết bố không có ý như thế. Không hẳn."
"Bố nói thật đấy. Thà con là một kẻ hèn nhát còn hơn là chết, gấu con ạ. Teddy và Jimmy cũng vậy."
"Bố cũng không có ý như thế."
"Bố nói thật mà. Đến nơi rồi này, trời tối đến nỗi ta có thể đi thẳng qua nhà ga mà không nhìn thấy nó. Bố không nghĩ chuyến tàu của con sẽ đến đúng giờ, nếu vẫn còn một chuyên tàu. Ồ, nhìn kìa, Fred đây rồi. Chúc cậu buổi tối tốt lành, Fred."
"Chào ông Todd, chào cô Todd. Hai vị biết đấy, đấy là chuyến tàu cuối cùng của đêm nay." Fred Smith nói. Fred từ lâu đã được thăng cấp từ thợ đốt lò lên làm lái tàu.
"Nó không hẳn là một con tàu." Ursula hoang mang nói. Có một cái đầu tàu nhưng chẳng có toa nào cả.
Fred ngoảnh lại nhìn dọc theo sân ga tới chỗ đáng lẽ phải có các toa tàu đứng đó, như thể anh ta đã quên mất sự vắng mặt của chúng. "À, ừ, chà!" Anh ta nói. "Lần cuối cùng người ta nhìn thấy chúng là khi chúng đang treo lơ lửng trên cầu Waterloo. Đó là một câu chuyện dài." Anh ta nói thêm, rõ ràng không muốn đi sâu vào chi tiết. Ursula không hiểu tại sao không có các toa tàu mà đầu máy vẫn ở đây, còn Fred trông khá nghiêm túc.
"Vậy thì tối nay tôi sẽ không về nhà." Ursula nói.
"Chà." Fred nói. "Tôi phải đưa cái đầu máy này lên thành phố, động cơ đã sẵn sàng rồi, thợ đốt lò cũng đã có, là già Willie đấy, vì vậy nếu cô muốn nhảy lên cái đầu máy xe lửa này, cô Todd, tôi nghĩ chúng tôi có thể đưa cô về."
"Thật không?" Ursula hỏi.
"Sẽ không được sạch sẽ như ngồi trên ghế nệm, nhưng cô có dám không?"
"Chắc chắn rồi."
Chiếc đầu máy xe lửa đã nóng lòng muốn đi lắm rồi, vì thế Ursula vội vàng ôm Hugh một cái thật nhanh và nói "Hẹn sớm gặp lại bố", rồi leo lên đầu máy xe lửa và ngồi vào chỗ của thợ đốt lò.
"Con nhớ bảo trọng nhé, gấu con!" Hugh nói. "Ở London!" Ông phải nói to hơn để giọng nói của ông át đi tiếng động cơ đang rít lên. "Hứa với bố đi!"
"Con hứa." Cô hét lên. "Hẹn gặp lại bố!"
Cô quay người lại, cố gắng nhìn ông trên sân ga tối om khi con tàu bình bịch chuyển bánh. Cô đột nhiên cảm thấy tội lỗi. Cô đã chơi trò trốn tìm náo nhiệt với bọn trẻ sau bữa tối. Đáng lẽ cô nên rời đi khi trời vẫn còn sáng như Hugh nói. Bây giờ Hugh sẽ phải đi bộ về một mình trong bóng tối. (Cô đột nhiên nghĩ đến cô bé Angela tội nghiệp nhiều năm về trước.) Hugh nhanh chóng biến mất trong màn đêm thăm thẳm và làn khói mịt mù.
"Chà, chuyện này thật thú vị." Cô nói với Fred. Cô chẳng mảy may ngờ được rằng cô sẽ chẳng bao giờ được gặp lại bố mình nữa.
❄
Chuyến đi đúng là thú vị nhưng cũng hơi đáng sợ. Chiếc đầu máy xe lửa giống như một con quái thú bằng kim loại to lớn gầm rống trong bóng tối. Nó rung chuyển và lắc lư như thể đang cố hất cô ra khỏi bụng nó. Trước đấy, Ursula chưa bao giờ nghĩ về những gì diễn ra trong một cái đầu máy xe lửa. Cô đã tưởng tượng, nếu cô từng tưởng tượng, đó là một nơi tương đối yên bình - người lái tàu chăm chú nhìn về đường ray phía trước, người thợ đốt lò vui vẻ xúc than vào lò. Nhưng hóa ra, ở đây họ hoạt động không ngừng nghỉ, liên tục hội ý về gradient và áp suất, xúc than điên cuồng hoặc đóng cửa lò đột ngột, lại còn vô cùng ồn ào, hơi nóng tỏa ra từ lò than thì gần như không thể chịu đựng nổi, những tấm kim loại được dựng lên để ngăn ánh sáng lọt ra ngoài đầu máy dường như cũng không chặn nổi muội than bay ra. Nóng quá là nóng! "Nóng hơn cả hỏa ngục." Fred nói.
Bất chấp những giới hạn tốc độ của thời chiến, họ có vẻ đang đi với tốc độ nhanh ít nhất là gấp đôi so với khi cô ngồi trong một toa hành khách ("Trên ghế nệm." Cô nghĩ. Cô phải ghi nhớ điều này vì Teddy, dù bây giờ đang là phi công, vẫn ấp ủ cái khao khát từ thuở ấu thơ là được trở thành một người lái tàu).
❄
Khi tới London, họ có thể nhìn thấy lửa cháy ngùn ngụt ở phía đông và nghe thấy những tràng súng rền ở phía xa xa, nhưng khi họ lại gần nơi nối các toa xe lửa và khu đỗ đầu máy, bầu không khí trở nên yên tĩnh đến kỳ lạ. Họ chầm chậm dừng lại và ơn Chúa, tất cả đột nhiên trở nên yên bình.
Fred đỡ cô xuống khỏi đầu máy xe lửa. "Đến nơi rồi, thưa cô." Anh ta nói. "Về đến nhà bình yên rồi. Chà, tôi e là cũng không hẳn." Đột nhiên anh ta tỏ vẻ nghi ngại. "Đáng lẽ tôi nên tiễn cô về tận nhà nhưng chúng tôi còn phải đưa cái đầu máy này đi nghỉ. Từ đây cô đi một mình về nhà ổn chứ?" Họ có vẻ đang ở một nơi đồng không mông quạnh, chỉ có những đường ray, ghi tàu và những cái bóng lờ mờ của những chiếc đầu máy. "Có một quả bom rơi trúng ga Marylebone. Chúng ta đang ở cuối ga King's Cross." Fred nói, như thể đọc được ý nghĩ của cô. "Tình hình không tệ như cô tưởng đâu." Anh ta chỉnh ánh sáng đèn pin ở mức yếu nhất, nó chỉ rọi sáng được chừng ba mươi phân trước mặt họ. "Phải cẩn thận." Anh ta nói. "Chúng ta là mục tiêu chính ở đây đấy."
"Tôi sẽ ổn thôi." Cô nói, hăng hái hơn cảm giác thực sự trong lòng cô. "Đừng lo cho tôi, và cảm ơn anh nhé! Chúc ngủ ngon, Fred." Cô quả quyết cất bước và lập tức vấp phải một thanh ray. Cô khẽ kêu lên đau đớn khi đầu gối cô đập mạnh xuống những hòn đá sắc ở đường ray.
"Nào, cô Todd." Fred nói, giúp cô đứng dậy. "Cô sẽ chẳng bao giờ tìm được đường đi trong bóng tối đâu. Nào, tôi sẽ tiễn cô tới cổng." Anh ta nắm lấy cánh tay cô và dắt cô đi, như thể họ đang đi dạo dọc theo đường đê vào một ngày Chủ nhật. Cô nhớ cô đã từng mê mẩn Fred thế nào hồi cô còn nhỏ. Cô nghĩ có lẽ cô sẽ khá dễ dàng mê mẩn anh ta lần nữa.
Họ đi tới hai cánh cổng bằng gỗ đồ sộ và anh ta mở một cánh cửa nhỏ gắn trên chúng.
"Tôi nghĩ tôi biết mình đang ở đâu." Cô nói. Thực ra cô cũng không biết, nhưng cô không muốn làm phiền Fred thêm nữa. "Cảm ơn anh lần nữa nhé, có lẽ lần tới tôi xuống Góc Cáo, chúng ta sẽ lại gặp nhau."
"Tôi nghi ngờ điều đó lắm." Anh ta nói. "Ngày mai tôi bắt đầu gia nhập Lực lượng Cứu hỏa Hỗ trợ AFS rồi. Những cụ già như Willie có thể duy trì việc vận hành những chuyến tàu."
"Chúc mừng anh." Cô nói, mặc dù cô nghĩ làm lính cứu hỏa nguy hiểm biết chừng nào.
❄
Chưa bao giờ cô thấy trời tối như thế. Cô vừa đi vừa giơ tay ra trước mặt để dò đường và cuối cùng va vào một người phụ nữ, cô ta nói cho cô biết cô đang ở đâu. Họ đi cùng nhau chừng nửa dặm đường. Sau vài phút phải đi một mình lần nữa, cô nghe thấy những tiếng bước chân vang lên đằng sau cô, bèn nói "Tôi ở đây", để chủ nhân của tiếng bước chân ấy không va vào cô. Đó là một người đàn ông, anh ta chẳng hơn gì một cái bóng trong màn đêm và đi cùng cô tới tận công viên Hyde. Trước chiến tranh, ta sẽ chẳng bao giờ mơ đến việc khoác tay một người hoàn toàn xa lạ - đặc biệt là một người đàn ông - nhưng bây giờ mối nguy hiểm đến từ bầu trời có vẻ còn lớn hơn nhiều so với bất cứ điều gì có thể xảy đến với ta từ sự thân mật kỳ quặc này.
❄
Cô cứ nghĩ là trời sắp sáng lúc cô về đến Phillimore Gardens, nhưng thực ra còn chưa đến nửa đêm. Millie cũng vừa mới về nhà và vẫn còn ăn mặc chỉnh tề. "Ôi Chúa ơi!" Cô ấy nói khi nhìn thấy Ursula. "Chuyện gì xảy ra với cậu vậy? Cậu bị trúng bom à?"
Ursula nhìn vào trong gương và thấy rằng cả người cô lấm lem bồ hóng và muội than. "Gớm quá!" Cô nói.
"Trông cậu như một anh thợ mỏ vậy." Millie nói.
"Giống một anh lái tàu hơn." Cô nói, nhanh chóng thuật lại những cuộc phiêu lưu đêm nay.
"Ồ!" Millie nói. "Fred Smith, cậu bé giao thịt. Anh ta từng rất điển trai."
"Mình cho rằng bây giờ anh ta vẫn như vậy. Mình có đem trứng từ Góc Cáo về này." Cô nói, bỏ cái hộp các tông mà Sylvie cho cô ra khỏi túi xách. Những quả trứng được bọc trong rơm, nhưng chúng vẫn nứt vỡ vì bị xóc khi đi trên đường ray hoặc do lúc cô bị ngã.
Ngày hôm sau, họ làm món trứng tráng từ những gì còn sót lại.
"Ngon quá!" Millie nói. "Cậu nên về nhà thường xuyên hơn."