Chuỗi Đời Bất Tận

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 225 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tháng 6 Năm 1967

❊ ❊ ❊

Phóng viên của đài BBC nói, vào sáng nay, quân Jordan đã khai hỏa ở Tel Aviv*, bây giờ họ đang nã pháo vào Jerusalem. Anh ta đang đứng trên một con phố, có lẽ là ở Jerusalem*, bà không thực sự chú ý lắm, xa xa là tiếng đạn pháo vang rền, vì chúng ở quá xa nên sẽ không thể gây bất kỳ nguy hiểm nào cho anh ta, nhưng bộ trang phục trông giống như quần áo chiến đấu và phong cách đưa tin - sôi nổi mà trang nghiêm - khiến người xem có cảm giác anh ta thật quả cảm.

Hiện là thành phố đông dân thứ hai của Israel, tọa lạc tại bờ biển Địa Trung Hải.

Là một thành phố Trung Đông nằm trên lưu vực sông, giữa Địa Trung Hải và Biển Chết, ở phía đông của Tel Aviv. Hiện nay, nó vẫn nằm ở tâm điểm cuộc tranh chấp giữa Israel và Chính quyền Quốc gia Palestine. Trong Chiến tranh Sáu ngày (1967), Israel đã chiếm hoàn toàn lãnh thổ Jerusalem và tuyên bố thành phố là thủ đô của mình. Điều này không được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi và không có đại sứ quán nước ngoài nào đóng ở Jerusalem.

Benjamin Cole hiện là một thành viên của Quốc hội Israel. Ông ta đã chiến đấu trong Lữ đoàn Do Thái vào cuối cuộc chiến rồi gia nhập tổ chức Stem Gang* ở Palestine để chiến đấu vì tổ quốc. Ông ta từng là một chàng trai đứng đắn mẫu mực, nên chẳng ai ngờ ông ta lại trở thành một phần tử khủng bố như vậy.

Còn gọi là Lehi, một tổ chức bán quân sự theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái được thành lập bởi Avraham Stern, bí danh Yair, ở Lãnh thổ Ủy trị Palestine.

Hồi chiến tranh, họ từng gặp nhau uống rượu, nhưng đó là một cuộc gặp gỡ đầy bực tức. Những rung động thời thiếu nữ của bà với ông ta đã tan biến từ lâu, trong khi thái độ dửng dưng của ông ta dành cho bà hồi còn nhỏ lại quay ngoắt một trăm tám mươi độ. Bà còn chưa uống hết cốc rượu gin (nhẹ) pha nước chanh của mình thì ông ta đã đề nghị họ "đi đâu đó".

Bà đã phẫn nộ. "Trông mình giống một người phụ nữ dễ dãi lắm hả?" Sau đó, bà đã hỏi Millie như vậy.

"Chà, tại sao lại không chứ?" Millie nhún vai. "Ngày mai chúng ta có thể bị chết vì một quả bom. Chúng ta nên Carpe diem."

"Đó chỉ là lời biện minh của mọi người cho hành vi xấu xa của mình." Ursula càu nhàu. "Nếu người ta tin vào hình phạt bị đày đọa vĩnh viễn ở địa ngục, họ sẽ không tận hưởng lạc thú trước mắt một cách phóng túng như vậy." Trước đó, bà đã có một ngày tồi tệ ở văn phòng. Một nhân viên sắp xếp hồ sơ của bà nhận được tin con tàu chở bạn trai cô ấy bị đắm nên cô ấy đã bị kích động, và một tờ giấy quan trọng đã bị lẫn vào cả một biển hồ sơ khiến cả văn phòng loạn cả lên, vì vậy bà đã không "tận hưởng những phút giây vui vẻ" cùng với Benjamin Cole, mặc dù ông ta đã vội vàng áp sát người bà và nói: "Anh đã luôn cảm nhận được giữa chúng ta có một điều gì đó, còn em thì sao?"

"Em e là quá muộn rồi." Bà đã nói, cầm lấy túi xách và áo khoác. "Lần sau đến thì lại liên lạc với em nhé!" Bà đã nghĩ về bác sĩ Kellet với những luận thuyết về sự tái sinh và tự hỏi kiếp sau bà muốn trở thành cái gì? Một cái cây, bà nghĩ. Một cái cây to lớn đẹp đẽ, rung rinh nhảy nhót trong làn gió nhẹ.

Đài BBC chuyển sang đưa tin về phố Downing*. Ai đó đã từ chức. Bà đã loáng thoáng nghe thấy tin này ở văn phòng nhưng chẳng buồn bận tâm.

Phố Downing tọa lạc tại khu vực Whitehall (nơi có nhiều cơ quan chính quyền) ở trung tâm London, cách tòa nhà Quốc hội khoảng một vài phút đi bộ. Phố Downing thường được sử dụng như là một hoán dụ cho Chính phủ Anh.

Bà đang ăn tối - món bánh mì nướng phết pho mát nóng chảy - trên một cái khay đặt trên đầu gối. Bà thường ăn như thế này vào buổi tối. Bà cảm thấy lố bịch khi phải bày biện bàn ăn với những cái đĩa, vải lót đĩa và tất cả những vật dụng khác chỉ để phục vụ một người. Rồi thì thế nào? Lẳng lặng mà ăn hay cắm cúi vừa ăn vừa đọc một cuốn sách? Có những người cho rằng việc vừa ăn vừa xem ti vi là khởi đầu cho sự kết thúc của nền văn minh. (Nếu bà quyết liệt bênh vực những bữa tối kiểu đó thì có chứng tỏ rằng bà cùng một giuộc với những người ăn uống như vậy không?) Rõ ràng mấy người chỉ trích ấy không sống một mình. Và thực tình, khởi đầu cho sự kết thúc của nền văn minh đã xảy ra từ rất lâu rồi. Như sự kiện ở Sarajevo* chẳng hạn, hay mới đây nhất là trận Stalingrad*. Có vài người nói rằng sự kết thúc ấy bắt đầu ngay từ thuở sơ khai, ở Vườn Địa Đàng.

Sarajevo là thủ đô và thành phố lớn nhất tại Bosnia và Herzegovina. Đây là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của thế giới, như vụ ám sát Thái tử nước Áo Ferdinand dẫn đến sự bùng nổ cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất năm 1914.

Một trận đánh lớn diễn ra trong Chiến tranh Xô - Đức giữa một phe là quân đội phát xít Đức cùng với các chư hầu và phe kia là Hồng quân Liên Xô, tại thành phố Stalingrad (nay là Volgograd) ở miền Tây Nam nước Nga. Đây là một trong những trận đánh đẫm máu nhất lịch sử với con số thương vong có thể lên đến hơn hai triệu người.

Dù sao đi nữa, xem ti vi thì có gì không ổn chứ? Người ta không thể tới rạp hát hoặc rạp chiếu bóng (hoặc quán rượu) hằng đêm. Và khi người ta sống một mình, người ta chỉ có thể nói chuyện với một con mèo khi ở trong nhà, và cuộc nói chuyện đó thường là độc thoại. Chó thì khác, nhưng sau Lucky bà chẳng nuôi con chó nào nữa cả. Nó đã chết vào mùa hè năm 1949 vì tuổi già, bác sĩ thú y nói vậy. Ursula vẫn luôn nghĩ nó là một con chó con. Họ đã chôn nó ở Góc Cáo, và Pamela đã mua một cây hoa hồng đỏ sẫm để trồng làm bia mộ cho nó. Khu vườn ở Góc Cáo là một nghĩa địa thực thụ dành cho lũ chó. Đi đến chỗ nào ta cũng bắt gặp một khóm hồng với một con chó chôn ở bên dưới, mặc dù chỉ có Pamela là nhớ được con nào được chôn ở đâu.

Vả chăng, nếu không xem ti vi thì người ta có thể làm gì? (Bà sẽ không chịu chấm dứt cuộc tranh luận này cho dù bà đang tranh luận với chính mình.) Chơi ghép hình chăng? Thật sao? Đương nhiên là có thể đọc sách, nhưng chẳng mấy ai muốn làm mắt mình mệt mỏi với những con chữ thêm nữa sau một ngày làm việc vất vả với những thư tín, thông báo và chương trình nghị sự ở chỗ làm. Nghe radio hay đĩa hát đương nhiên đều tốt, nhưng trong chừng mực nào đó vẫn mang tính duy ngã. (Phải, bà đang phản đối quá nhiều.) Ít nhất khi xem ti vi người ta không phải suy nghĩ. Điều đó cũng không phải là tệ.

Bữa tối của bà muộn hơn thường lệ, bởi vì bà đã tham dự bữa tiệc chia tay bà về nghỉ hưu - cũng khá là giống với việc tham dự lễ tang của chính mình, có điều sau đó ta vẫn có thể bước đi mà thôi. Bữa tiệc khá giản dị, chỉ là kéo nhau đi uống rượu ở một quán rượu địa phương, nhưng nó khá là vui vẻ và bà nhẹ nhõm vì nó kết thúc sớm (mặc dù những người khác có thể cảm thấy chưa đã). Thứ Sáu tới bà mới chính thức nghỉ hưu, nhưng bà nghĩ tổ chức tiệc chia tay vào một ngày trong tuần thì sẽ tiện cho các nhân viên hơn. Họ có thể không thích phải từ bỏ những kế hoạch riêng của họ vào buổi tối thứ Sáu.

Trước đó, trong văn phòng, họ đã tặng bà một chiếc đồng hồ quả lắc cầm tay có khắc dòng chữ Dành tặng Ursula Todd, để tri ân những năm tháng tận tụy cống hiến. Chúa ơi, bà nghĩ, quả là một "văn bia" nhàm chán. Đó là loại quà truyền thông, và bà không nỡ nói với họ rằng bà đã có một cái đồng hồ như thế rồi, và nó còn tốt hơn kia. Nhưng họ còn tặng bà một cặp vé (có giá trị) đến xem một buổi hòa nhạc biểu diễn các tác phẩm của Beethoven. Họ thật chu đáo - bà ngờ rằng việc này là do bàn tay của Jacqueline Roberts, thư ký của bà, sắp xếp.

"Bà đã giúp mở đường để những người phụ nữ có thể ngồi ở vị trí cao hơn trong ngành dân chính." Jacquline khẽ nói với bà khi đưa cho bà một ly Dubonnet, thức uống ưa thích của bà dạo gần đây. Có điều, bà nghĩ, thật không may, cái vị trí đó cũng chẳng cao lắm. Chẳng có quyền lực gì. Thứ quyền lực ấy vẫn được dành cho những người như Maurice trong cái thế giới này.

"Nào, cụng ly!" Bà nói, cụng ly của mình vào ly rượu vang đỏ có đính thêm lát chanh của Jacqueline. Bà không uống nhiều, chỉ thi thoảng uống một ly Dubonnet hay một chai rượu vang đỏ burgundy ngon lành vào cuối tuần. Không giống như Izzie. Izzie vẫn đang cư ngụ trong ngôi nhà ở đường Melbury, lang thang qua những căn phòng của nó như một bà Havisham* nát rượu. Ursula tới thăm bà vào mỗi sáng thứ Bảy, mang theo một túi thực phẩm, nhưng dường như hầu hết trong số đó đều sẽ bị ném đi. Giờ đây chẳng còn ai đọc Những cuộc phiêu lưu của Augustus nữa. Teddy sẽ cảm thấy nhẹ nhõm nhưng Ursula thì lại thấy tiếc, như thể một phần nhỏ nữa của anh đã bị thế giới này quên lãng.

Một nhân vật trong cuốn tiểu thuyết Great Expectations (Những kỳ vọng lớn lao) của nhà văn người Anh Charles Dickens.

"Bây giờ em nghỉ hưu rồi." Maurice nói. "Có lẽ em sẽ nhận được một tấm huân chương, em biết đấy. Một tấm MBE* hay đại loại thế." Ông ta đã được phong tước hiệp sĩ trong đợt vinh danh vừa rồi. ("Chúa ơi!" Pamela nói. "Đất nước này đang đi đến đâu vậy?") Ông ta đã gửi đến từng thành viên trong gia đình mình một tấm ảnh đóng khung của chính anh ta đang cúi đầu dưới thanh gươm của Nữ hoàng trong phòng khiêu vũ của cung điện hoàng gia. "Ồ, anh ta thật ngạo mạn." Harold cười.

Member of the Most Excellent Order of the British Empire: tấm huân chương thấp nhất trong hệ thống huân chương của Hoàng gia Anh, vinh danh những người có đóng góp cho đế quốc Anh trong mọi lĩnh vực.

Bà Woolf sẽ là người bạn đồng hành tuyệt vời cho buổi đi xem hòa nhạc ở phòng hòa nhạc Albert này. Lần cuối Ursula nhìn thấy bà chính là ở nơi đó, trong buổi hòa nhạc kỷ niệm ngày sinh lần thứ bảy mươi lăm của Henry Wood vào năm 1944. Vài tháng sau, bà đã thiệt mạng trong vụ tấn công bằng tên lửa ở Aldwych. Anne, cô gái ở Bộ Không quân, cũng bị chết trong vụ tấn công đó. Lúc bấy giờ cô ấy đang tắm nắng và ăn trưa trên nóc tòa nhà của Bộ cùng với một nhóm đồng nghiệp nữ. Đã lâu lắm rồi. Vậy mà mới như ngày hôm qua vậy.

Hôm đó Ursula đã hẹn gặp cô ấy ở công viên St James vào giờ ăn trưa. Cô gái ở Bộ Không quân - Anne - nói rằng cô ấy có chuyện muốn nói với bà, và Ursula đã tự hỏi có phải cô ấy có thông tin gì về Teddy không. Có lẽ họ đã tìm thấy những mảnh vụn của máy bay hoặc một cái xác. Từ lâu bà đã chấp nhận rằng Teddy đã ra đi mãi mãi, nếu Teddy là một tù binh chiến tranh hoặc đã trốn thoát sang Thụy Điển thì lúc bấy giờ họ đã phải nghe được tin về Teddy rồi.

Vào phút chót, định mệnh đã can thiệp trong hình hài của ông Bullock. Ông ta đã bất ngờ xuất hiện ở cửa nhà bà vào tối hôm trước (làm thế nào mà ông ta biết địa chỉ của bà nhỉ?) để hỏi xem liệu bà có thể đi cùng ông ta tới tòa án để làm chứng cho nhân cách tốt đẹp của ông ta không. Ông ta đã bị ra tòa vì một vụ buôn gian bán lận ở chợ đen. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Bà là lựa chọn thứ hai của ông ta, sau bà Woolf, nhưng lúc đó bà Woolf đang phải phụ trách cả một quận, chịu trách nhiệm với mạng sống của hai trăm năm mươi nghìn con người và tất cả những người đó đều được bà xếp trên ông Bullock. "Những hành động liều lĩnh" trong thị trường chợ đen của ông ta đã khiến bà Woolf quay lưng lại với ông ta. Vào năm 1944, không còn thành viên nào trong đội dân phòng của Ursula còn ở đó nữa.

Ursula đã giật mình khi biết tin ông Bullock sẽ phải đến tòa án tối cao ở Old Bailey, bà cứ tưởng đó chỉ là một tội nhẹ được xử ở tòa án sơ thẩm. Bà đã đợi trong vô vọng suốt cả buổi sáng để được gọi lên làm chứng, và ngay khi phiên tòa tạm nghỉ để ăn trưa, bà đã nghe thấy một tiếng nổ uỳnh vang dội nhưng không hề biết rằng đó là cuộc tàn sát bằng tên lửa ở Aldwych. Ông Bullock, khỏi cần phải nói, đã được tuyên bố vô tội.

Crighton đã đi cùng Ursula tới tang lễ của bà Woolf. Ông là người đáng tin cậy, nhưng cuối cùng ông đã ở lại Wargrave.

“Các ngài được mồ yên mả đẹp, và danh thơm mãi lưu truyền hậu thế. " Mục sư oang oang nói như thể những người đang tụ họp ở đây đều có vấn đề về thính lực. "Sách Huấn ca chương 44, câu 14." Ursula không tin điều đó. Ai sẽ nhớ Emil hay Renee chứ? Hay cậu bé Tony tội nghiệp và Fred Smith. Và cả bà Woolf nữa. Ursula đã quên gần hết tên của những người chết. Và tất cả những viên phi công đó, tất cả những cuộc đời trẻ trung đã mất đi đó. Khi Teddy qua đời, anh đang là sĩ quan chỉ huy trong phi đoàn của mình và anh mới hai mươi chín tuổi. Sĩ quan chỉ huy trẻ nhất mới hai mươi hai. Thời gian đã bỏ lại những chàng trai ấy ở đằng sau, giống như nó đã làm với Keats.

Họ hát bài Tiến lên, hỡi các chiến binh Cơ Đốc giáo. Crighton có giọng nam trung khá tốt mà cô chưa bao giờ được nghe. Cô đoán chắc bà Woolf sẽ thích những bản giao hưởng của Beethoven hơn là những giai điệu khơi gợi tinh thần chiến đấu của nhà thờ như thế này.

Bà Woolf đã hy vọng rằng nhạc của Beethoven có thể hàn gắn thế giới thời hậu chiến, nhưng những khẩu bích kích pháo nhắm vào Jerusalem có vẻ là cú đòn cuối cùng dập tắt sự lạc quan của bà. Bây giờ Ursula đã bằng tuổi bà Woolf hồi cuộc chiến lần trước nổ ra. Lúc đó Ursula đã thấy bà Woolf thật là già. "Và bây giờ đến lượt chúng ta già rồi." Bà nói với Pamela.

"Em mà già cái gì chứ! Em còn chưa đến sáu mươi. Thế chưa phải là già."

"Em cảm thấy như vậy."

Khi các con đã trưởng thành và không còn cần đến sự giám sát liên tục của bà nữa, Pamela đã trở thành một người phụ nữ chuyên làm việc thiện. (Ursula không phê phán mà khá đồng tình là khác.) Bà trở thành một thẩm phán hòa giải của tòa sơ thẩm, và cuối cùng là một chánh thẩm. Bà hoạt động rất tích cực trong các hội từ thiện. Năm ngoái, bà đã giành được một vị trí trong hội đồng địa phương với tư cách ủy viên độc lập. Và bà còn phải chăm sóc ngôi nhà (mặc dù bà có "một người phụ nữ làm việc đó") cùng khu vườn rộng mênh mông. Năm 1948, khi Dịch vụ Y tế Quốc gia NHS ra đời, Harold đã tiếp quản phòng khám cũ của bác sĩ Fellowes. Ngôi làng đã phát triển, ngày càng có nhiều ngôi nhà mọc lên. Đồng cỏ đã biến mất, rừng cây nhỏ cũng vậy, nhiều cánh đồng thuộc gia trang của Lâu đài Ettringham đã bị bán cho một nhà phát triển dự án. Bản thân Lâu đài bị bỏ trống và khá hoang tàn. (Có người tính đến chuyện biến nó thành một khách sạn.) Nhà ga nhỏ đã bị Beeching* khai tử và hai tháng trước đã đóng cửa, bất chấp một chiến dịch quả cảm do Pamela dẫn dắt nhằm duy trì nó.

Richard Beeching (1913 - 1985): một nhà vật lý và kỹ sư người Anh từng là chủ tịch Hãng Đường sắt Anh quốc.

"Nhưng xung quanh đây vẫn rất xinh đẹp." Ursula nói. "Chỉ cần cuốc bộ năm phút là đã ở giữa vùng đồng quê thoáng đãng. Và khu rừng lớn còn chưa bị động đến. Vẫn chưa bị."

Sarah. Ursula sẽ dẫn Sarah đi cùng mình tới buổi hòa nhạc. Sự kiên nhẫn của Pamela đã được đền đáp - một cô con gái chào đời vào năm 1949. Sau mùa hè cô sẽ vào học ở trường Cambridge - chuyên ngành Khoa học. Cô là một người thông minh, giỏi toàn diện giống như mẹ mình. Ursula rất quý Sarah. Vai trò của một người dì đã giúp lấp kín khoảng trống đã hình thành trong trái tim bà từ lúc mất Teddy. Dạo gần đây bà thường hay nghĩ - giá mà bà có một đứa con... Bà đã có nhiều cuộc tình trong những năm qua, mặc dù không có mối tình nào sâu đậm (đương nhiên, chủ yếu là lỗi của bà vì thiếu "sự tận tâm"), nhưng bà chưa từng mang thai, chưa từng làm mẹ hoặc làm vợ, và chỉ khi bà nhận ra rằng đã quá muộn, rằng chuyện đó không bao giờ có thể xảy ra được nữa, bà mới hiểu mình đã đánh mất thứ gì. Cuộc đời của Pamela sẽ vẫn tiếp diễn sau khi bà ấy mất, các con cháu của bà ấy tản đi khắp thế giới giống như những con nước ở một vùng châu thổ, nhưng khi Ursula chết, cuộc đời bà chỉ đơn giản là chấm dứt. Một dòng suối cạn khô.

Họ tặng bà cả hoa nữa, Ursula ngờ rằng đó cũng là ý tưởng của Jacqueline. Chúng vẫn còn tươi rói sau buổi tối ở quán rượu, ơn Chúa. Những bông huệ tây màu hồng đáng yêu ấy hiện đang nằm trên nóc tủ búp phê của bà, mùi hương nồng nàn của chúng cứ thế lan tỏa khắp phòng. Phòng khách quay mặt về hướng tây và hứng trọn ánh tà dương. Ngoài trời vẫn còn sáng, những cái cây trong khu vườn chung đang mọc lá non xanh tốt. Căn hộ này rất đẹp, nó nằm gần nhà nguyện Brompton. Bà đã dồn toàn bộ số tiền mà Sylvie để lại cho bà để mua nó. Căn bếp nhỏ và buồng tắm của căn hộ đều được thiết kế hiện đại, nhưng bà đã tránh dùng những món đồ hiện đại khi bài trí. Sau chiến tranh, bà đã mua những món đồ nội thất cổ điển đơn giản, trang nhã trong khi chẳng còn ai muốn dùng chúng nữa cả. Khắp căn hộ được trải những tấm thảm vừa vặn màu xanh lá liễu nhạt, còn những tấm rèm thì cùng một loại với những tấm vải bọc ghế - đó là loại vải Morris có họa tiết tinh tế. Các bức tường được quét một lớp sơn nước màu vàng chanh nhạt khiến nơi này có vẻ sáng sủa và thông thoáng ngay cả vào những ngày mưa. Có vài món đồ sành sứ Meissen và Worcester - bao gồm đĩa đựng bánh kẹo và một bộ đồ trang trí - cũng được bà mua với cái giá rất rẻ sau chiến tranh. Và bà luôn cắm hoa, Jacqueline biết điều đó.

Vật thể lạc điệu duy nhất là một cặp cáo bằng gốm Staffordshire màu cam chói mắt, mỗi con đều ngoạm theo một con thỏ chết. Bà đã mua chúng ở đường Portobello từ đời nảo đời nào mà bà chẳng còn nhớ nổi. Chúng đã khiến bà nghĩ về Góc Cáo.

"Cháu thích đến đây." Sarah nói. "Dì có những món đồ xinh đẹp và nhà cửa lúc nào cũng rất gọn gàng, sạch sẽ, chẳng giống ở nhà cháu chút nào."

"Cháu có thể gọn gàng và sạch sẽ khi cháu sống một mình." Ursula nói, nhưng vẫn phổng mũi bởi lời khen ấy. Bà cho rằng bà nên lập di chúc và để lại những món đồ tuyệt vời của mình cho ai đó. Bà muốn cho Sarah thừa kế căn hộ nhưng ký ức về sự vơ vét đồ đạc ở Góc Cáo khi Sylvie qua đời khiến bà do dự. Ta có nên tỏ rõ sự thiên vị của mình như vậy không? Có lẽ là không. Bà phải chia nhà cửa của mình cho tất cả bảy đứa cháu cả trai lẫn gái, ngay cả những đứa bà không ưa hoặc chưa bao giờ gặp. Jimmy, đương nhiên, chưa từng lấy vợ và không có con. Hiện ông đang sống ở California. "Cậu ấy là người đồng tính, em cũng biết điều đó, đúng không?" Pamela nói. "Cậu ấy luôn tỏ rõ xu hướng giới tính của mình." Đó chỉ là lời kể chứ không phải sự chỉ trích, nhưng trong lời nói của bà vẫn có một chút ý tọc mạch và cao ngạo, như thể bà giỏi đối mặt với những tư tưởng tự do hơn. Ursula tự hỏi không biết chị gái mình có biết về "xu hướng giới tính" của Gerald không.

"Jimmy chỉ là Jimmy thôi." Bà nói.

Tuần trước, khi bà đi ăn trưa về, bà đã thấy một tờ The Times nằm chình ình trên bàn làm việc của mình. Nó đã được gấp lại ngay ngắn, chỉ để lộ ra mục cáo phó. Trên đó có một bức ảnh Crighton mặc quân phục, được chụp trước khi bà quen ông. Bà đã quên mất là ông điển trai thế nào. Mẩu tin được dành cho khá nhiều đất trên trang báo, đương nhiên nó có nhắc đến trận Jutland. Bà biết được rằng vợ ông, Moira, đã "qua đời trước" ông, ông đã có mấy đứa cháu ngoại và là một tay golf hăng hái. Ông vốn luôn ghét chơi golf, bà tự hỏi sự thay đổi của ông diễn ra từ khi nào. Và ai đã để tờ The Times lên bàn làm việc của bà? Sau bao nhiêu năm qua, ai còn nghĩ đến việc nói với bà về chuyện này? Bà không biết và cho rằng mình sẽ không bao giờ biết. Trong thời gian họ dan díu với nhau, có thời điểm ông thường có thói quen để lại những tờ giấy nhắn trên bàn làm việc của bà, những mẩu thư tình nhỏ khá tục tĩu xuất hiện như có ma thuật. Có lẽ chính người đưa thư vô hình ấy đã mang tờ The Times đến chỗ bà sau bao nhiêu năm qua.

"Người đàn ông ở Bộ Hải quân đã chết rồi." Bà nói với Pamela. "Đương nhiên, ai mà chả chết chứ."

"Chà, đó là điều hiển nhiên mà." Pamela cười.

"Không, ý em là, tất cả những người mà ta từng quen biết, bao gồm cả chính ta, rồi sẽ chết vào một ngày nào đó."

"Đó vẫn là một điều hiển nhiên."

"Amor fati." Ursula nói. "Nietzsche viết về điều đó suốt. Hồi trước em chẳng hiểu gì cả, em cứ nghĩ nó là "a more fatty". Chị có nhớ em từng phải đi khám bác sĩ tâm thần không? Bác sĩ Kellet ấy? Trong tâm can, ông ấy là một nhà triết học."

"Nó có nghĩa là "Hãy yêu lấy vận mệnh của mình"?"

"Nó có nghĩa là chấp nhận. Bất cứ chuyện gì xảy ra với chị, dù là điều tốt hay điều xấu, chị cũng hãy bình thản dang tay đón nhận. Em cho rằng cái chết cũng chỉ là một thứ mà ta phải đón nhận mà thôi."

"Nghe như triết lý Phật giáo ấy. Chị đã nói với em rằng Chris sẽ tới Ấn Độ chưa? Nó sẽ tới một dạng tu viện nào đó mà nó gọi là "chốn lánh đời". Nó cảm thấy khó mà gắn bó với bất cứ thứ gì sau khi rời trường Oxford. Nó có vẻ là một "hippie*". Ursula nghĩ Pamela quá cưng chiều đứa con trai thứ ba. Christopher khiến bà rùng mình. Bà cố nghĩ ra một từ khác rộng lượng hơn nhưng không nghĩ ra nổi. Cậu là kiểu người nhìn chằm chằm vào đối phương với một nụ cười đầy ẩn ý trên mặt, như thể cậu cao siêu hơn họ cả về trí tuệ lẫn tâm hồn, trong khi thực tế cậu chỉ là một kẻ giao tiếp xã hội kém.

Thuật ngữ chỉ lối sống chống đối lại các quy ước xã hội của một bộ phận thanh niên, phát sinh từ một phong trào tại Hoa Kỳ giữa những năm 1960, sau đó lan rộng sang các nước khác trên thế giới.

Mùi hoa huệ tây lúc chúng mới được cắm vào nước mới tuyệt diệu làm sao, nhưng bây giờ nó đang bắt đầu khiến bà thấy hơi nôn nao. Căn phòng thật ngột ngạt. Bà nên mở một ô cửa sổ. Bà đứng dậy để mang đĩa tới bồn rửa trong bếp nhưng rồi một cơn đau lập tức nhói lên nơi thái dương bên phải khiến bà xây xẩm mặt mày. Bà phải ngồi xuống trở lại và đợi nó qua đi. Những cơn đau này đã hành hạ bà hàng tuần nay rồi. Đầu tiên là một sự đau buốt dữ dội rồi sau đó đầu bà trở nên nặng trịch và kêu lên ong ong. Hoặc thi thoảng chỉ là một cơn đau khủng khiếp như thể có ai đó đang gõ vào đầu bà. Bà nghĩ chắc là bà bị huyết áp cao, nhưng sau khi kiểm tra, bệnh viện chẩn đoán "có lẽ" bà bị chứng đau dây thần kinh. Bà được phát những viên thuốc giảm đau loại mạnh và được dặn dò rằng tình trạng của bà chắc chắn sẽ đỡ hơn khi nào bà nghỉ hưu. "Bà sẽ có thời gian để thư giãn, bà cứ an tâm." Bác sĩ nói với bà bằng giọng nói đặc biệt dành cho người lớn tuổi.

Cơn đau trôi qua và bà rón rén đứng dậy.

Bà sẽ làm gì với thời gian còn lại của mình? Bà phân vân nghĩ đến việc chuyển về vùng đồng quê, sống trong một ngôi nhà nhỏ, tận hưởng cuộc sống thôn dã, có lẽ bà sẽ chọn một nơi nào đó gần Pamela. Bà nghĩ đến St Mary Mead* hoặc Fairacre của Miss Read*. Có lẽ bà có thể viết một cuốn tiểu thuyết? Việc đó chắc chắn sẽ lấp kín thời gian của bà. Và nuôi một con chó, đã đến lúc để bà kiếm một con chó khác rồi. Pamela đang nuôi những chú chó thuộc giống Golden Retriever*, chết con này lại thay thế bằng con khác, và Ursula không thể phân biệt nổi con nào với con nào.

Ngôi làng hư cấu, quê nhà của nhân vật nữ thám tử Marple trong loạt truyện trinh thám về nhân vật này của nữ tác giả Agatha Christie.

Bút danh của Dora Jessie Saint (1913 - 2012): nữ nhà văn người Anh, nổi tiếng với xê ri tiểu thuyết viết về vùng đồng quê của nước Anh xoay quanh ngôi làng Fairacre.

Giống chó có kích thước trung bình, còn có tên gọi khác là chó săn mồi hoặc chó tha mồi, là loài chó có bản năng truy tìm và phát hiện con mồi rất nhạy bén nên có thể làm chó đặc vụ để dò tìm ma túy. Đặc điểm chung của loài này là rất hiền lành, thông minh, trung thành và thích chơi đùa.

Bà rửa ráy xoong nồi bát đĩa. Bà nghĩ bà nên đi ngủ sớm, pha một cốc Ovaltine* và mang theo cuốn sách đang đọc dở lên giường. Bà đang đọc cuốn The Comedians của Greene*. Có lẽ bà thực sự cần nghỉ ngơi nhiều hơn nhưng dạo gần đây bà lại sợ ngủ. Bà có những giấc mơ sống động đến nỗi thi thoảng bà cảm thấy khó có thể chấp nhận được rằng chúng không phải là thật. Có vài lần bà đã tin rằng một chuyện lạ lùng nào đó từng thực sự xảy ra với bà trong khi, theo logic, rõ ràng là không phải. Và việc bị ngã nữa. Bà luôn mơ thấy mình bị ngã, ngã cầu thang, ngã khỏi những vách đá, đó là một cảm giác vô cùng khó chịu. Phải chăng đây là dấu hiệu ban đầu của chứng mất trí? Sự khởi đầu của kết thúc. Kết thúc của sự khởi đầu.

Một thương hiệu của sản phẩm sữa làm từ hương liệu chiết xuất từ mạch nha, đường, ca cao, và sữa.

Graham Greene (1904 -1991): một tiểu thuyết gia người Anh.

Từ cửa sổ phòng ngủ của mình, bà có thể nhìn thấy vầng trăng tròn vành vạnh đang nhô lên. Nữ hoàng mặt trăng của Keats, bà nghĩ. Dịu dàng là đêm. Cơn đau đầu quay trở lại. Bà hứng một cốc nước ở vòi và uống hai viên thuốc giảm đau.

"Nhưng nếu Hitler bị giết trước khi hắn trở thành quốc trưởng, cuộc xung đột giữa Ả Rập và Israel này có được ngăn chặn không?" Cuộc chiến Sáu ngày* - cái tên người ta đặt cho nó - đã kết thúc. Quân đội Israel đã chiến thắng. "Ý dì là, dì hiểu tại sao người Do Thái lại muốn lập ra một nhà nước độc lập và bảo vệ nó một cách quyết liệt..." Ursula tiếp tục. "... Và dì luôn thấy đồng tình với đại nghĩa của những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, ngay cả trước khi chiến tranh xảy ra, thế nhưng, mặt khác, dì cũng hiểu tại sao các quốc gia Ả Rập lại quá phẫn nộ như vậy. Nhưng nếu Hitler không thể gây ra nạn diệt chủng..."

Chiến tranh Sáu ngày, cũng gọi là Chiến tranh Ả Rập - Israel hay Chiến tranh Tháng Sáu, là cuộc chiến giữa Israel và các nước láng giềng Ả Rập: Ai Cập, Jordan và Syria.

"Bởi vì hắn đã chết?"

"Ừ, bởi vì hắn đã chết. Vậy thì việc ủng hộ cho một nhà nước Do Thái sẽ vô cùng yếu ớt..."

"Lịch sử toàn là những cái "nếu như"." Nigel nói. Cậu là con đầu lòng của Pamela và cũng là đứa cháu cưng của Ursula. Cậu đang là trợ giáo môn Lịch sử ở trường Brasenose, ngôi trường cũ của Hugh. Bà đang đãi cậu ăn trưa ở tiệm Fortnum's.

"Thật là tuyệt khi được trò chuyện với một người thông minh." Bà nói. "Dì đã đi nghỉ ở miền Nam nước Pháp với người bạn của dì, Millie Shawcross, cháu đã gặp dì ấy chưa? Chưa à? Dì ấy không còn mang cái họ đó nữa, dì ấy đã trải qua mấy đời chồng, người sau lại giàu có hơn người trước."

Millie, cô dâu thời chiến lấy chồng ngoại quốc, đã vội vàng từ Mỹ trở về ngay khi có thể. Bà nói gia đình mới của bà là "cao bồi". Bà đã trở về để tiếp tục "bước trên sân khấu" và có vài mối tình bất hạnh trước khi "sa vào hũ vàng" là con dòng cháu giống của một gia đình dầu mỏ sống lưu vong để tránh thuế.

"Dì ấy sống ở Monaco. Đất nước ấy cực kì nhỏ, dì cũng không biết là nhỏ đến mức nào nữa. Dạo gần đây dì ấy khá ngốc nghếch. Dì đang nói huyên thuyên phải không?"

"Không phải đâu ạ. Cháu rót cho dì ít nước nhé?"

"Những người sống một mình thường có xu hướng lảm nhảm như vậy đấy. Những người như dì chẳng có chừng mực nào cả, ít nhất là về khoản ăn nói."

Nigel mỉm cười. Cậu đeo một cặp kính trông có vẻ nghiêm túc và được kế thừa nụ cười duyên dáng của Harold. Khi cậu cởi kính ra để lau bằng khăn ăn, trông cậu rất trẻ.

"Trông cháu trẻ quá." Ursula nói. "Đương nhiên là cháu vẫn còn trẻ. Dì cứ như một bà dì lẩm cẩm ấy nhỉ?"

"Chúa ơi, không đâu ạ." Cậu nói. "Dì là người thông minh nhất mà cháu từng biết."

Bà phết bơ vào một ổ bánh mì tròn, cảm thấy khá vui trước lời khen này. "Dì từng nghe ai đó nói nhận thức muộn màng là một điều tuyệt vời. Nếu tất cả chúng ta đều sáng suốt, sẽ chẳng có cái gọi là lịch sử."

"Có lẽ họ nói đúng đấy ạ."

"Nhưng thử nghĩ xem lịch sử sẽ thay đổi thế nào." Ursula khăng khăng. "Bức màn sắt* có thể sẽ không được hạ xuống và nước Nga sẽ không thể nuốt chửng Đông Âu."

Tên gọi của biên giới chia cắt châu Âu thành hai khu vực riêng biệt từ cuối Chiến tranh Thế giới thứ Hai năm 1945 đến cuối cuộc Chiến tranh lạnh vào năm 1991.

"Nuốt chửng?"

"Chà, đó chỉ là sự tham lam thuần túy. Và người Mỹ có thể không phục hồi được nhanh đến vậy sau cuộc Suy thoái nếu không có nền kinh tế dựa vào chiến tranh, và kết quả là nó sẽ không có nhiều ảnh hưởng với thế giới thời hậu chiến như thế..."

"Rất nhiều người sẽ vẫn còn sống."

"Chà, đúng vậy, hiển nhiên rồi. Và cả bộ mặt văn hóa của châu Âu cũng sẽ khác đi bởi những người Do Thái. Và hãy nghĩ đến tất cả những con người lưu lạc đó, phải lê la từ đất nước này sang đất nước khác. Và Anh quốc vẫn sẽ là một đế quốc, hay ít nhất đế quốc ấy sẽ không sụp đổ nhanh đến thế - đương nhiên, dì không nói làm đế quốc là một điều tốt. Và chúng ta sẽ không khánh kiệt và phải trải qua một khoảng thời gian khủng khiếp để hồi phục cả về tài chính và tâm lý. Và không có Thị trường chung..."

"Dù sao đi nữa nó sẽ không cho chúng ta gia nhập."

"Thử nghĩ xem châu Âu sẽ hùng mạnh ra sao!

Nhưng có lẽ Goering* hoặc Himmler sẽ bước chân vào. Và mọi thứ vẫn sẽ xảy ra như vậy."

Hermann Wilhelm Göring (hay Goering) (1893 - 1946): là một chính trị gia người Đức, chỉ huy quân sự và thành viên hàng đầu của Đảng Quốc xã (NSDAP).

"Có lẽ vậy. Nhưng Quốc xã chỉ là một đảng nhỏ cho đến khi họ nắm được quyền lực trong tay. Họ toàn là những kẻ cuồng tín, nhưng không ai trong số họ có sức hút như Hitler."

"Ồ, dì biết." Ursula nói. "Hắn cực kì có sức hút. Người ta nói về sức hút như thể nó là một thứ gì đó tuyệt vời lắm, nhưng thực tế đó chính là sự mê hoặc - theo đúng nghĩa cổ của từ này, như thể bỏ bùa vậy, cháu biết chứ? Dì nghĩ sức hút ấy nằm ở đôi mắt, hắn có đôi mắt rất quyến rũ. Nếu cháu nhìn vào mắt hắn, cháu sẽ cảm thấy cháu đang có nguy cơ tin tưởng..."

"Dì đã gặp hắn rồi ạ?" Nigel kinh ngạc hỏi.

"À." Ursula nói. "Không hẳn. Cháu muốn ăn tráng miệng không, cháu yêu?"

Trời tháng Bảy nóng như đổ lửa khi bà rời tiệm Fortnum's và đi bộ về dọc theo đường Piccadilly. Ngay cả các màu sắc cũng có vẻ nóng bức. Dạo này mọi thứ đều chói lọi - những thứ trẻ trung chói lọi. Trong văn phòng của bà, có những cô gái mặc những chiếc váy giống hệt phần vải che thanh treo rèm. Giới trẻ ngày nay rất hăng hái, như thể chúng đã phát minh ra tương lai. Thế hệ trước đã chiến đấu trong cuộc chiến vì thế hệ này và bây giờ chúng liến thoắng bàn tán về từ "hòa bình" như thể nó là một khẩu hiệu quảng cáo. Chúng chưa từng trải qua cuộc chiến tranh nào ("Đó là một điều tốt." Bà nghe thấy Sylvie nói. "Bất kể chúng tỏ ra bất mãn thế nào."). Theo lời Churchill, chúng đã được trao cho quyền sở hữu tự do. Bà cho rằng bây giờ chúng làm gì với bản thân mình là chuyện của chúng. (Nghe bà nói cứ như bà là một bà già hủ lậu vậy, bà đã trở thành người mà bà luôn nghĩ là mình sẽ không bao giờ trở thành.)

Bà nghĩ là bà có thể đi dạo qua các công viên, bèn băng qua đường để đi vào công viên Xanh. Bà luôn tản bộ trong các công viên vào ngày Chủ nhật, nhưng bây giờ, khi bà đã nghỉ hưu, ngày nào với bà cũng là ngày Chủ nhật. Bà cứ thế bước đi, băng qua cung điện Pha Lê và bước vào công viên Hyde, mua một que kem từ một ki ốt bên cạnh hồ Serpentine và quyết định thuê một cái ghế sưởi nắng. Bà mệt mỏi khủng khiếp, có vẻ bữa trưa đã khơi lên sự mệt mỏi ấy.

Hẳn là bà đã ngủ gật - đúng là căng da bụng thì chùng da mắt. Những con thuyền đang bồng bềnh trên mặt nước, người ta đang đạp vịt, cười đùa. Ồ, chết tiệt, bà nghĩ, bà cảm thấy một cơn đau đầu xuất hiện nhưng bà chẳng mang theo viên thuốc giảm đau nào trong túi xách cả. Có lẽ bà nên vẫy một chiếc tắc xi trên Carriage Drive, bà sẽ không thể đi bộ về nhà trong tiết trời oi bức này, với cơn đau đầu này. Nhưng sau đó, khác với thường lệ, cơn đau trở nên dịu đi. Bà lại nhắm mắt, ánh mặt trời vẫn nóng rực và chói chang. Bà cảm thấy cực kì uể oải.

Thật kỳ quặc khi ngủ giữa mọi người như thế này. Đáng lẽ điều này phải khiến bà cảm thấy không an tâm, nhưng thay vì thế bà lại có cảm giác thoải mái. Câu thoại của Tennessee William là gì nhỉ - sự tốt bụng của những người lạ? "Tiếng hót vĩnh biệt"* của Millie trên sân khấu, hơi thở cuối cùng của con thiên nga đang hấp hối, là diễn vai Blanche DuBois trong vở kịch Chuyến tàu mang tên dục vọng dựng lại vào năm 1955 ở Bath.

Chỉ tác phẩm cuối cùng của một nhà văn, nghệ sĩ nào đó trước khi từ giã sự nghiệp.

Bà thiếp đi trong tiếng ru của những âm thanh lao xao ở công viên. Ý nghĩa của cuộc sống không phải là trở thành cái gì, đúng không? Ý nghĩa của cuộc sống chính là sống. Bác sĩ Kellet sẽ đồng tình với ý nghĩ này. Và mọi thứ đều là phù du, nhưng mọi thứ cũng là vĩnh cửu, bà mơ màng nghĩ. Một con chó đang sủa ở đâu đó. Một đứa trẻ cất tiếng khóc. Đứa trẻ đó là con của bà, bà có thể cảm nhận được trọng lượng nhẹ nhàng của nó trong vòng tay mình. Đó là một cảm giác tuyệt vời. Bà đang mơ. Bà đang ở trên một đồng cỏ - lanh, phi yến, mao lương hoa vàng, mỹ nhân thảo, cẩm chướng đỏ và cúc mắt bò - và những bông hoa giọt tuyết trái mùa. Thế giới trong mơ thường kỳ quặc như vậy, bà nghĩ, và nghe thấy âm thanh của chiếc đồng hồ quả lắc cầm tay nhỏ xíu của Sylvie điểm chuông báo hiệu nửa đêm. Ai đó đang hát, một đứa bé, một giọng hát non nớt nhỏ nhẹ lúng búng theo giai điệu, Tôi có một cái cây nhỏ, nó chẳng có lá có hoa. Muskatnuss, bà nghĩ - nó có nghĩa là "hạt nhục đậu khấu" trong tiếng Đức. Bà đã cố nhớ ra từ đó bấy lâu nay và bây giờ nó đột nhiên nảy bật ra trong đầu bà.

Giờ thì bà đang ở trong một khu vườn. Bà có thể nghe thấy văng vẳng tiếng lanh canh của cốc chén va vào đĩa lót, tiếng lạch cạch, rì rì của máy xén cỏ, và có thể ngửi thấy mùi hương ngọt ngào hăng nồng của những bông cẩm chướng. Một người đàn ông nhấc bà lên và tung bà lên cao, những viên đường rải rác trên một bãi cỏ. Có một thế giới khác nhưng nó vẫn chính là thế giới này. Bà cho phép mình bật cười khúc khích dù bà nghĩ rằng tự cười một mình ở chốn công cộng là biểu hiện của việc bị điên.

Bất chấp cái nóng oi ả mùa hè, tuyết bắt đầu rơi. Suy cho cùng, đó là điều thường xảy ra trong những giấc mơ. Tuyết bắt đầu phủ lên mặt bà, mang lại cảm giác mát lạnh và dễ chịu trong thời tiết này. Và rồi bà thấy mình đang rơi, rơi vào bóng tối, đen ngòm và sâu thẳm...

Thế rồi tuyết lại rơi - những bông tuyết trắng tinh như hân hoan chào đón bà, một tia nắng chói mắt giống như thanh kiếm sắc bén đâm xuyên qua những tấm rèm dày dặn, và bà đang được bế lên, được nâng niu trong vòng tay mềm mại.

"Em sẽ gọi con là Ursula." Sylvie nói. "Anh thấy thế nào?"

"Anh thích cái tên đó." Hugh nói. Mặt ông lờ mờ hiện ra. Bộ ria cắt tỉa gọn gàng và hai viền tóc mai dài, đôi mắt màu xanh lá ân cần, ấm áp. "Chào mừng con đến với thế giới này, gấu nhỏ." Ông nói.

e nói. "Cô đâu biết chăm sóc người khác, hay nấu nướng, hay đánh máy, hay làm bất cứ việc gì hữu ích." Những lời lẽ ấy được thốt ra gay gắt hơn cô nghĩ, nhưng Izzie quả thực là một kẻ gàn dở. (Bà Glover nhận xét cô ấy là "người đồng bóng".)
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.