Một đêm thu muộn màng và ảm đạm đang buông xuống trên dòng sông Saone. Dòng nước chao ôi đục ngầu, hệt như chiếc gương hoen ố vứt trong góc tối, phản chiếu những đám mây xám xịt nặng trĩu; hai bên bờ thấp lè kè nghiêng mình đây đó, tưởng như vừa tò mò lại vừa sợ hãi khi nhìn thấy bóng hình u tối của chính mình in trên mặt nước. Dải đất bằng phẳng quanh vùng Chalons nằm trải dài như một vệt đen sẫm, thi thoảng bị xé rách bởi một hàng cây bạch dương in hình lên nền hoàng hôn giận dữ. Bên bờ sông Saone, không gian ướt đẫm, thê lương và cô quạnh; còn màn đêm thì sập xuống rất nhanh.
Một gã đàn ông dang dở bước đi về phía Chalons là bóng hình duy nhất có thể nhìn thấy giữa cảnh vật. Ngay cả Cain năm xưa có lẽ cũng chỉ cô đơn và bị xua đuổi đến thế là cùng. Trên lưng gã đeo chiếc bao tải bằng da cừu cũ kỹ, tay cầm cây gậy xù xì chưa gọt vỏ đẽo từ rẫy rừng nào đó; gã lầy lội, đau chân, giày và xà cạp đã rách tươm, tóc tai râu ria lởm chởm không gọt giũa; chiếc áo khoác vắt qua vai cùng bộ quần áo mặc trên người ướt sũng, nặng trịch nước; vừa đi vừa khập khiễng trong đau đớn và chật vật; trông gã cứ như thể những đám mây đang hối hả chạy trốn gã, như thể tiếng gió hú gầm và sự run rẩy của thảm cỏ đều hướng về phía gã để nguyền rủa, như thể tiếng nước vỗ rì rầm đầy bí ẩn dưới sông đang thì thào lên án gã, và cái đêm thu trập trùng này bị chấn động bởi sự xuất hiện của gã.
Gã liếc chỗ này, đảo mắt chỗ kia, ánh mắt vừa hằn học vừa co vúm lại vì sợ hãi; thi thoảng gã lại dừng bước, quay người nhìn dáo dác xung quanh. Rồi gã lại nhích từng bước khập khiễng, vừa lê bước vừa lầm bầm chửi rủa.
"Quỷ bắt cái đồng bằng dài dằng dặc không có hồi kết này đi! Quỷ bắt những đá sỏi sắc như dao cạo này đi! Quỷ bắt cái bóng tối u ám buốt giá đang cuộn lấy người ta này đi! Ta hận các ngươi!"
Và nếu có thể, gã hẳn đã trút sạch lòng căm hờn lên tất cả bằng cái nhìn hằn học đang ném ra xung quanh. Gã lê bước thêm một đoạn nữa; rồi nhìn vào khoảng không xa xăm trước mặt, gã lại dừng khựng lại.
"Ta thì đói, khát, mệt nhừ. Còn lũ ngu đần các ngươi, ở phía có ánh đèn đằng kia, lại đang ăn uống hỉ hả và sưởi ấm bên bếp lửa! Ước gì ta được cướp phá cái thị trấn của các ngươi; ta sẽ trả ơn các ngươi chu đáo, các con cưng ạ!"
Thế nhưng, cái nghiến răng ken kẹt gã nhắm vào thị trấn và cái đấm tay đe dọa gã vung về phía ấy chẳng làm thị trấn xích lại gần hơn bước nào; và gã đàn ông thậm chí còn đói hơn, khát hơn, mệt mỏi hơn khi chân gã chạm vào lớp đá lởm chởm trên đường phố và đứng nhìn quanh quẩn.
Kìa là khách sạn với cổng vào cùng mùi thức ăn thơm phức tỏa ra; kìa là quán cà phê với những ô cửa sổ sáng trưng và tiếng quân cờ domino lách cách; kìa là tiệm nhuộm với những dải vải đỏ treo trên cọc cửa; kìa là tiệm kim hoàn với vô số hoa tai cùng đồ cúng lễ; kìa là cửa hàng thuốc lá với một nhóm khách lính xôm trò đang bước ra, tẩu thuốc ngậm trên môi; rồi cả những mùi hôi hám của thị trấn, nước mưa cùng rác rưởi dưới rãnh nước, những ngọn đèn tù mờ giăng ngang đường, và chiếc xe ngựa đường dài đồ sộ cùng ngọn núi hành lý chất bên trên, được kéo bởi sáu con ngựa xám buộc đuôi cao đang chuẩn bị chuyển bánh trước bến xe. Thế nhưng, chẳng có lấy một quán rượu nhỏ nào dành cho kẻ lữ hành túng thiếu xuất hiện trong tầm mắt, gã đành phải đi tìm một quán ở góc đường tối om, nơi những bẹ bắp cải nằm ngập ngụa, bị giẫm đạp quanh bể nước công cộng nơi mấy người phụ nữ vẫn chưa múc nước xong. Ở đó, trong một con ngõ hẻm, gã tìm thấy một quán trọ mang tên Rạng Đông. Màn che cửa sổ làm lu mờ không gian bên trong quán Rạng Đông, nhưng trông nó có vẻ sáng sủa và ấm áp, lại còn có những dòng chữ rõ ràng kèm hình minh họa cơ bắp gậy và bi-a sinh động, thông báo rằng tại quán Rạng Đông người ta có thể chơi bi-a; rằng ở đây có thể tìm thấy thịt, đồ uống và chỗ trọ, dù đi ngựa hay đi bộ đến; và quán luôn sẵn các loại rượu ngon, rượu màu cùng rượu mạnh. Gã đàn ông vặn tay nắm cửa quán Rạng Đông rồi khập khiễng bước vào.
Gã chạm tay vào chiếc mũ sụp vành phai màu để chào vài người đàn ông đang ngồi trong phòng khi bước qua cửa. Hai người đang chơi domino tại một chiếc bàn nhỏ; ba hay bốn người ngồi quanh bếp sưởi, vừa hút thuốc vừa trò chuyện; bàn bi-a ở chính giữa lúc này đang bỏ trống; bà chủ quán Rạng Đông ngồi sau chiếc quầy nhỏ giữa những chai xi-rô mờ đục, những giỏ bánh ngọt và khay hứng nước bằng chì dành cho ly tách, tay mải miết thêu thùa.
Tự mở đường tiến về phía chiếc bàn nhỏ trống ở góc phòng đằng sau bếp sưởi, gã đặt bao tải và áo khoác xuống đất. Khi ngẩng đầu lên sau khi cúi xuống làm việc đó, gã thấy bà chủ quán đã đứng ngay bên cạnh.
"Đêm nay ở đây có chỗ trọ không, bà chủ?"
"Hoàn toàn có chứ!" bà chủ quán đáp bằng giọng cao vút, líu lo và đon đả.
"Tốt. Có đồ ăn tối—ăn đêm—hay bất cứ thứ gì bà muốn gọi không?"
"Ôi, hoàn toàn có chứ!" bà chủ lại kêu lên như trước.
"Vậy thì làm ơn nhanh lên, bà chủ. Cho tôi cái gì ăn thật nhanh, và mang rượu ra ngay. Tôi kiệt sức rồi."
"Thời tiết tệ quá nhỉ, thưa ông," bà chủ nói.
"Thời tiết quỷ tha ma bắt."
"Mà đường lại dài nữa chứ."
"Con đường quỷ quái."
Giọng nói khàn đục không còn cất lên nổi nữa, gã gục đầu vào hai tay cho đến khi một chai rượu được mang từ quầy ra. Sau khi rót đầy và uống cạn chiếc cốc nhỏ hai lần, rồi bẻ một khúc từ chiếc bánh mì lớn được đặt trước mặt cùng chiếc khăn lau, khăn ăn, đĩa súp, muối, tiêu và dầu, gã tựa lưng vào góc tường, biến chiếc ghế dài gã đang ngồi thành chiếc giường nằm, rồi bắt đầu nhai gặm vỏ bánh mì, nhẫn nại chờ cho đến khi bữa ăn được chuẩn bị xong.
Cuộc trò chuyện quanh bếp sưởi từng bị gián đoạn trong chốc lát, sự chú ý của mọi người dành cho nhau cũng tạm thời bị phân tán—những điều vốn dĩ luôn xảy ra ở một đám đông như thế khi có một kẻ lạ mặt xuất hiện. Nhưng khoảng khựng lại ấy đã qua; đám đàn ông ngừng liếc nhìn gã và bắt đầu trò chuyện trở lại.
"Đó mới là lý do thực sự," một người trong số họ kết thúc câu chuyện mình đang kể, "đó là lý do thực sự vì sao người ta lại bảo rằng con quỷ đã được tháo cũi sổ lồng." Người nói là một gã Thụy Sĩ cao lớn thuộc giáo hội, và gã đưa chút uy quyền của giáo hội vào cuộc thảo luận—nhất là khi chủ đề đang nói đến lại là con quỷ.
Bà chủ quán, sau khi dặn dò chồng chuẩn bị đồ ăn cho vị khách mới—chồng bà đảm nhận vai trò đầu bếp của quán Rạng Đông—đã quay lại công việc thêu thùa đằng sau quầy. Bà là một phụ nữ nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, gọn gàng, xảo ngôn, đầu đội chiếc mũ trùm đầu khá to và chân đi đôi tất dài đắt tiền. Bà xen vào cuộc trò chuyện bằng vài cú gật đầu cười cợt, nhưng mắt không rời khỏi việc thêu thùa.
"Ôi trời ơi," bà nói. "Khi con tàu từ Lyons cập bến và mang theo tin tức rằng con quỷ thực sự đã được thả tự do ở Marseilles, mấy kẻ nhẹ đẻch đã nuốt trọn gọt tin đó. Nhưng tôi ư? Không, tôi thì không bao giờ."
"Thưa bà, bà lúc nào chẳng đúng," gã Thụy Sĩ cao lớn đáp. "Chắc hẳn bà phẫn nộ với tên đó lắm đúng không, thưa bà?"
"Ấy, đúng thế chứ!" bà chủ kêu lên, ngẩng mắt khỏi việc thêu, mở to mắt hết cỡ và ngoảnh đầu sang một bên. "Tất nhiên là có rồi."
"Hắn là một gã tồi tệ."
"Hắn là một gã độc ác bỉ thỉu," bà chủ nói, "và hoàn toàn xứng đáng chịu những gì mà hắn đã may mắn trốn thoát được. Càng tệ hại hơn!"
"Thong thả nào, bà chủ! Để xem đã," gã Thụy Sĩ đáp lại với vẻ lý sự, xoay xoay điếu xì-gà giữa hai làn môi. "Có thể đó là số phận bất hạnh của hắn. Hắn có thể là nạn nhân của hoàn cảnh. Luôn có khả năng là trong con người hắn đã và đang tồn tại bản chất tốt đẹp nếu người ta biết cách tìm ra nó. Lòng bác ái triết học dạy rằng—"
Những người còn lại trong nhóm quanh bếp sưởi lầm bầm phản đối việc đưa cái cụm từ đầy đe dọa ấy vào cuộc nói chuyện. Ngay cả hai người chơi domino cũng ngẩng lên nhìn, như thể muốn phản đối việc "lòng bác ái triết học" được réo tên trực tiếp tại quán Rạng Đông.
"Thôi dẹp gã và cái lòng bác ái của gã đi," bà chủ tươi cười kêu lên, gật đầu liên hồi hơn bao giờ hết. "Nghe đây này. Tôi là phụ nữ, chính tôi đây. Tôi chẳng biết gì về cái lòng bác ái triết học ấy cả. Nhưng tôi biết những gì tôi đã thấy, và những gì tôi đã đối mặt trong cái thế giới mà tôi đang sống này. Và tôi nói cho ông biết điều này, ông bạn ạ, rằng có những kẻ (cả nam lẫn nữ, thật cay đắng thay) chẳng có chút tốt đẹp nào trong người cả—không một tẹo nào. Rằng có những kẻ mà ta bắt buộc phải ghê tởm không bao giờ thỏa hiệp. Rằng có những kẻ phải bị đối xử như kẻ thù của loài người. Rằng có những kẻ không có trái tim người, và phải bị đè bẹp như thú dữ và quét sạch khỏi con đường ta đi. Tôi hy vọng họ chỉ là số ít; nhưng tôi đã thấy (trong cái thế giới này, và ngay tại quán Rạng Đông nhỏ bé này) rằng có những kẻ như thế. Và tôi không nghi ngờ gì rằng cái gã này—dù họ gọi hắn là gì đi nữa, tôi quên mất tên hắn rồi—là một trong số đó."
Bài phát biểu sôi nổi của bà chủ quán được đón nhận với thái độ hồ hởi hơn hẳn tại quán Rạng Đông, so với những gì nó có thể thu về từ một vài kẻ đạo đức giả thích tẩy trắng tội lỗi thuộc cái tầng lớp mà bà vô cùng ghét bỏ ở cận kề nước Anh.
"Thề có Chúa! Nếu cái lòng bác ái triết học của ông," bà chủ vừa nói vừa đặt công việc thêu thùa xuống, đứng dậy nhận đĩa súp cho vị khách từ tay người chồng đang bước ra từ cánh cửa bên, "mà đặt bất kỳ ai vào sự ban ơn của những kẻ như thế bằng cách dung dưỡng chúng qua lời nói hay hành động, hoặc cả hai, thì hãy tống nó ra khỏi quán Rạng Đông đi, vì nó chẳng đáng giá một xu."
Khi bà đặt bát súp trước mặt vị khách—người vừa đổi tư thế sang ngồi thẳng—gã nhìn thẳng vào mặt bà, ria mép gã nhếch ngược lên dưới mũi, còn mũi gã xếch xuống đè lên ria mép.
"Chà!" người nói lúc trước lên tiếng, "quay lại chủ đề của chúng ta nào. Bỏ tất cả chuyện đó sang một bên, thưa các quý ông, chính vì gã đàn ông đó được trắng án trong phiên tòa nên người ta ở Marseilles mới bảo rằng con quỷ đã được tháo cũi sổ lồng. Đó là cách mà câu nói đó bắt đầu lan truyền, và ý nghĩa của nó chỉ có thế; không hơn không kém."
"Hắn tên là gì nhỉ?" bà chủ hỏi. "Biraud, đúng không?"
"Rigaud, thưa bà," gã Thụy Sĩ cao lớn đáp.
"Rigaud! Chuẩn rồi."
Sau món súp của vị khách lữ hành là một đĩa thịt, rồi đến một đĩa rau. Gã ăn sạch bách những gì được đặt trước mặt, uống cạn chai rượu, gọi một ly rượu rum, rồi vừa nhâm nhi tách cà phê vừa hút thuốc lá. Khi đã hồi phục sức lực, gã trở nên hợm hĩnh; gã ban phát sự hạ cố cho hội khách tại quán Rạng Đông bằng cách tham gia vào vài câu chuyện phiếm nhỏ nhặt, cứ như thể thân thế của gã cao sang hơn vẻ bề ngoài rất nhiều.
Hội khách có thể có bận việc khác, hoặc họ cảm thấy sự kém cỏi của mình, nhưng trong mọi trường hợp, họ lần lượt giải tán, và không có nhóm khách nào khác đến thay thế, để mặc vị khách mới sở hữu toàn bộ quán Rạng Đông. Ông chủ quán đang loảng xoảng làm việc trong bếp; bà chủ quán lặng lẽ thêu thùa; còn vị khách đã hồi sức thì ngồi hút thuốc bên bếp sưởi, sưởi ấm đôi chân rách rưới của mình.
"Xin lỗi bà chủ—gã Biraud đó."
"Rigaud, thưa ông."
"Rigaud. Xin lỗi lần nữa—hắn đã làm bà chướng mắt thế nào?"
Bà chủ quán, người vừa mới một phút trước còn nghĩ thầm rằng đây là một gã đàn ông điển trai, nhưng ngay phút sau lại thấy đây là một kẻ có diện mạo khả ố, chợt nhận ra cái mũi gã xếch xuống và ria mép nhếch lên, nên nghiêng hẳn về kết luận thứ hai. Bà nói, Rigaud là một tên tội phạm đã giết vợ mình.
"Thế cơ à? Cái chết của đời tôi ơi, đúng là một tên tội phạm thứ thiệt. Nhưng sao bà biết?"
"Cả thế giới đều biết."
"Chà! Thế mà hắn lại thoát khỏi tay công lý sao?"
"Thưa ông, luật pháp không thể chứng minh tội lỗi của hắn một cách thỏa đáng. Luật pháp bảo thế. Dẫu vậy, cả thế giới đều biết hắn đã làm việc đó. Người dân biết rõ đến mức họ đã tìm cách xé xác hắn ra."
"Vì tất cả bọn họ đều thuận hòa êm ấm tuyệt đối với vợ mình chắc?" vị khách nói. "Haha!"
"Bà chủ quán Rạng Đông nhìn gã lần nữa, và cảm thấy gần như chắc chắn về nhận định cuối cùng của mình. Dẫu vậy, gã có một bàn tay đẹp, và gã xoay xở nó với vẻ rất phô trương. Bà lại bắt đầu nghĩ rằng rốt cuộc gã cũng không đến nỗi xấu xí."
"Bà có nhắc tới—hay các quý ông ở đây có nói—chuyện gì đã xảy ra với hắn sau đó không?"
"Bà chủ quán lắc đầu; đây là giai đoạn trò chuyện đầu tiên mà sự hăng hái sống động của bà ngừng gật đầu nhịp nhàng theo lời nói. Bà nhận xét rằng người ta có nói ở quán Rạng Đông, dựa trên thông tin từ báo chí, rằng hắn đã bị giam trong tù vì sự an toàn của chính mình. Dù sao đi nữa, hắn đã thoát khỏi hình phạt xứng đáng; càng tệ hại hơn."
Vị khách ngồi nhìn bà trong lúc hút nốt điếu thuốc cuối cùng, còn bà ngồi cúi đầu trên việc thêu thùa, với một nét mặt mà nếu bà nhìn thấy, có thể đã xua tan mọi nghi ngờ của bà và đưa bà đến một kết luận vĩnh viễn về vẻ ngoài tốt hay xấu của gã. Khi bà ngẩng lên, nét mặt đó đã biến mất. Bàn tay gã đang vuốt ve chòm râu mép rậm rạp.
"Có thể phiền bà chỉ phòng ngủ được không, bà chủ?"
Rất sẵn lòng, thưa ông. Này ông nó ơi! Chồng bà sẽ dẫn gã lên tầng. Trên đó có một vị khách lữ hành đang ngủ, người đã đi ngủ từ rất sớm vì quá mệt mỏi; nhưng đó là một phòng rộng có hai giường, đủ không gian cho hai mươi người. Bà chủ quán Rạng Đông giải thích bằng giọng líu lo, thỉnh thoảng lại vắt giọng gọi ra cửa bên: "Này ông nó ơi!"
Người chồng cuối cùng cũng trả lời: "Tôi đây, bà nó!" rồi xuất hiện trong chiếc mũ đầu bếp, cầm đèn dẫn vị khách lên cầu thang dốc và hẹp; vị khách tự mang áo khoác và bao tải của mình, không quên chúc bà chủ ngủ ngon kèm theo một lời khen ngợi xã giao về niềm vui được gặp lại bà vào ngày mai. Đó là một căn phòng rộng, sàn gỗ thô ráp đầy dằm xước, xà nhà không trát vữa trên đầu, và hai chiếc giường đặt ở hai phía đối diện. Tại đây, "chồng tôi" đặt ngọn nến đang cầm xuống, liếc nhìn vị khách đang cúi người trên chiếc bao tải bằng ánh mắt xéo xắt, rồi cất giọng cằn cỗi dặn dò: "Giường bên phải!" rồi để gã lại một mình nghỉ ngơi. Ông chủ quán, dù là một kẻ giỏi xem tướng hay dở, đã hoàn toàn đinh ninh rằng vị khách này là một kẻ có diện mạo vô cùng gian tà.
Vị khách nhìn khinh bỉnh bộ chăn ga thô ráp nhưng sạch sẽ được chuẩn bị cho mình, rồi ngồi xuống chiếc ghế mây bên cạnh giường, rút tiền từ trong túi ra và đếm trên tay. "Người ta phải ăn," gã lầm bầm một mình, "nhưng thề có Chúa, ngày mai ta nhất định phải ăn trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác mới được!"
Khi gã ngồi suy tính, tay vô thức cân đo những đồng tiền trong lòng bàn tay, tiếng thở sâu của vị khách lữ hành ở chiếc giường bên kia rơi đều đặn vào tai gã đến mức nó thu hút ánh mắt gã về hướng đó. Người kia được đắp chăn ấm áp và đã kéo bức màn trắng ở phía đầu giường, nên gã chỉ có thể nghe thấy chứ không nhìn thấy. Nhưng tiếng thở đều đặn, sâu nát ấy vẫn tiếp tục vang lên trong khi gã cởi đôi giày và xà cạp mòn vẹt, và vẫn tiếp diễn khi gã cởi bỏ áo khoác cùng cà vạt, cuối cùng đã trở thành một đòn kích thích mạnh mẽ sự tò mò, thôi thúc gã phải nhìn qua khuôn mặt của người đang ngủ.
Vì vậy, kẻ đang tỉnh bèn rón rén lại gần hơn, lại gần hơn chút nữa, và gần hơn nữa đến tận bên giường của người đang ngủ, cho đến khi đứng ngay sát bên cạnh. Ngay cả khi đó gã vẫn không thể nhìn thấy mặt, vì người kia đã kéo tấm ga che kín đầu. Tiếng thở đều đặn vẫn tiếp tục, gã đưa bàn tay trắng trẻo, mịn màng của mình (bàn tay trông thật xảo quyệt làm sao khi nó nhích dần ra khỏi gã!) về phía tấm ga và nhẹ nhàng kéo nó ra.
"Linh hồn ta hỡi!" gã thì thầm, giật mình lùi lại, "Cavalletto đây mà!"
Gã người Ý nhỏ thó, có lẽ trước đó trong giấc ngủ đã bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện lén lút bên giường mình, bỗng ngừng tiếng thở đều đặn, và với một hơi thở dài, sâu nát, gã mở mắt ra. Mới đầu mắt gã mở nhưng chưa tỉnh hẳn. Gã nằm yên vài giây, bình thản nhìn người bạn tù cũ của mình, rồi bất ngờ, với một tiếng kêu ngạc nhiên và báo động, gã nhảy dựng ra khỏi giường.
"Suỵt! Làm sao thế? Trật tự nào! Tôi đây. Cậu biết tôi mà?" kẻ kia kêu lên bằng giọng đè nén.
Nhưng John Baptist trố mắt nhìn, lẩm nhẩm một loạt lời cầu nguyện và thốt lên những tiếng rên rỉ, run rẩy lùi vào góc phòng, vội vã xỏ quần dài và buộc hai tay áo khoác quanh cổ, thể hiện một khao khát rõ rệt là muốn thoát ra ngoài cửa chứ không hề muốn tái lập mối quan hệ này. Thấy vậy, gã bạn tù cũ liền lùi lại phía cửa, tựa vai chặn đứng lối ra.
"Cavalletto! Dậy đi chứ gã kia! Dụi mắt ra mà nhìn tôi. Đừng gọi cái tên cũ cậu từng gọi—đừng dùng tên đó—Lagnier, hãy gọi là Lagnier!"
John Baptist, trố mắt nhìn gã với đôi mắt mở to hết cỡ, làm một loạt những cú ngoắc ngược ngón tay trỏ phải trên không trung theo kiểu đặc trưng của người Ý, như thể gã quyết tâm phủ nhận trước mọi điều mà kẻ kia có thể đưa ra trong suốt phần đời còn lại của gã.
"Cavalletto! Đưa tay đây. Cậu biết Lagnier, một quý ông mà. Đưa tay chạm vào tay một quý ông đi!"
Đầu phục trước giọng điệu hách dịch quen thuộc, John Baptist, chân vẫn chưa đứng vững hẳn, tiến lại gần và đặt tay mình vào tay kẻ bảo hộ cũ. Monsieur Lagnier cười lớn; sau khi siết nhẹ một cái, gã hất tay gã kia lên rồi buông ra.
"Thế thì ông đã—" John Baptist ngập ngừng.
"Chưa bị chém đầu chứ gì? Chưa. Nhìn đây này!" Lagnier kêu lên, xoay xoay cái đầu một cái; "vẫn dính chặt trên cổ hệt như đầu cậu thôi."
John Baptist, hơi rùng mình, nhìn quanh phòng như để nhớ lại xem mình đang ở đâu. Kẻ bảo hộ của gã nhân cơ hội đó xoay chìa khóa khóa cửa lại, rồi ngồi xuống giường của mình.
"Nhìn xem!" gã nói, giơ đôi giày và xà cạp lên. "Trông chẳng ra dáng một quý ông tí nào, cậu sẽ bảo thế. Không sao, cậu sẽ thấy tôi sửa chữa nó nhanh đến mức nào. Lại đây ngồi xuống. Ngồi vào chỗ cũ của cậu đi!"
John Baptist, trông chẳng có vẻ gì là an tâm, ngồi xuống sàn nhà bên cạnh giường, mắt không rời khỏi kẻ bảo hộ một giây nào.
"Tốt lắm!" Lagnier kêu lên. "Bây giờ chúng ta như lại ở trong cái hố địa ngục cũ nhỉ, hả? Cậu ra ngoài được bao lâu rồi?"
"Hai ngày sau ông, thưa ông chủ."
"Sao cậu lại tới đây?"
"Tôi bị cảnh cáo không được ở lại đó, nên tôi rời thị trấn ngay lập tức, và từ đó đến nay tôi đi lung tung khắp nơi. Tôi làm đủ thứ việc lặt vặt ở Avignon, ở Pont Esprit, ở Lyons; trên sông Rhone, trên sông Saone." Vừa nói, gã vừa nhanh chóng dùng bàn tay rám nắng vẽ ra sơ đồ các địa danh trên sàn nhà.
"Thế cậu định đi đâu?"
"Đi đâu ư, thưa ông chủ?"
"Ừ!"
John Baptist có vẻ muốn né tránh câu hỏi nhưng không biết làm thế nào. "Thề có Bacchus!" cuối cùng gã nói, như thể bị ép buộc phải thừa nhận, "thỉnh thoảng tôi cũng có ý nghĩ sẽ đi Paris, và có lẽ cả Anh nữa."
"Cavalletto. Mẹo bí mật nhé. Tôi cũng sắp đi Paris và có lẽ cả Anh nữa. Chúng ta sẽ đi cùng nhau."
Gã nhỏ thó gật đầu, nhe răng ra cười; thế nhưng gã vẫn có vẻ không hoàn toàn bị thuyết phục rằng đó là một sự chuẩn bị tuyệt vời đến thế.
"Chúng ta sẽ đi cùng nhau," Lagnier nhắc lại. "Cậu sẽ thấy tôi sẽ bắt người ta phải công nhận mình là một quý ông nhanh đến mức nào, và cậu sẽ được hưởng lợi từ điều đó. Thỏa thuận thế nhé? Chúng ta là một chứ?"
"Ồ, chắc chắn rồi, chắc chắn rồi!" gã nhỏ thó đáp.
"Vậy thì trước khi ngủ cậu phải nghe—và trong vòng sáu từ thôi, vì tôi muốn ngủ rồi—tôi xuất hiện trước mặt cậu thế nào, tôi, Lagnier. Nhớ lấy. Không phải kẻ kia."
"Altro, altro! Không phải Ri——" Trước khi John Baptist kịp nói xong cái tên, gã đồng hành đã luồn tay dưới cằm gã và hung tợn bịt chặt miệng gã lại.
"Mẹ kiếp! Cậu làm cái quái gì thế? Cậu muốn tôi bị chà đạp và ném đá à? Cậu muốn chính cậu bị chà đạp và ném đá ư? Cậu sẽ bị thế đấy! Cậu không tưởng tượng được rằng nếu chúng xông vào tôi thì chúng sẽ tha cho gã bạn tù của tôi đâu! Đừng mơ!"
Có một biểu cảm trên gương mặt gã khi gã buông quai hàm bạn mình ra, mà từ đó người bạn gã suy ra rằng nếu chuỗi sự kiện thực sự dẫn đến bất kỳ cuộc ném đá hay chà đạp nào, Monsieur Lagnier sẽ chiếu cố chú ý đến gã đến mức đảm bảo gã nhận đủ phần của mình. Gã nhớ lại Monsieur Lagnier là một quý ông mang tư tưởng toàn cầu đến mức nào, và gã ít khi đưa ra những sự phân biệt yếu ớt ra sao.
"Tôi là một người," Monsieur Lagnier nói, "mà xã hội đã xúc phạm sâu sắc kể từ lần cuối cậu gặp tôi. Cậu biết tôi là người nhạy cảm và dũng cảm, và bản tính của tôi là cai trị. Xã hội đã tôn trọng những phẩm chất đó ở tôi thế nào? Tôi đã bị la ó khắp các con phố. Tôi đã bị giải đi qua các con phố để bảo vệ khỏi những người đàn ông, và đặc biệt là phụ nữ, những kẻ lao vào tôi với bất kỳ vũ khí nào họ vơ vội được. Tôi đã phải nằm trong tù vì sự an toàn của chính mình, với nơi giam giữ được giữ bí mật, e rằng tôi sẽ bị lôi ra ngoài và gục ngã dưới hàng trăm cú đập. Tôi đã bị chở ra khỏi Marseilles trong đêm tối mịt mùng, và bị đưa đi xa hàng dặm đường trong tình trạng bị bọc kín trong rơm. Tôi không còn an toàn khi đến gần nhà mình nữa; và với một số tiền bố nát trong túi, tôi đã phải đi bộ qua lớp bùn lầy và thời tiết tồi tệ kể từ đó, cho đến khi chân tôi bị tàn phế—nhìn chúng xem! Đó là những sự nhục nhã mà xã hội đã gây ra cho tôi, một người sở hữu những phẩm chất tôi vừa đề cập, và là những phẩm chất mà cậu biết rõ tôi sở hữu. Nhưng xã hội sẽ phải trả giá cho điều đó."
Tất cả những điều này gã đều thì thầm vào tai người đồng hành, bàn tay che trước môi.
"Ngay cả ở đây," gã tiếp tục bằng giọng điệu ấy, "ngay cả trong cái quán rượu hèn mạt này, xã hội vẫn truy đuổi tôi. Bà chủ quán bôi nhọ tôi, và những người khách của bà ta bôi nhọ tôi. Tôi, một quý ông với cung cách và tài năng đủ để làm họ chết đứng! Nhưng những bất công mà xã hội đã chất đống lên tôi đều được khắc sâu trong lồng ngực này."
Đáp lại tất cả những lời đó, John Baptist vừa chăm chú lắng nghe giọng nói khàn khàn bị đè nén, vừa thỉnh thoảng chêm vào: "Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi!" vừa lắc đầu và nhắm mắt lại, như thể đó là vụ án rõ ràng nhất chống lại xã hội mà một sự trung thực tuyệt đối có thể vạch ra.
"Đặt giày của tôi ở kia," Lagnier nói tiếp. "Treo áo khoác của tôi cho khô ở góc cửa kia. Lấy mũ của tôi." Gã làm theo từng chỉ dẫn khi được đưa ra. "Và đây là chiếc giường mà xã hội giao cho tôi, phải không? Chà. Tốt lắm!"
Khi gã duỗi dài người trên giường, với chiếc khăn tay xơ xước buộc quanh cái đầu gian tà của gã, và chỉ có cái đầu gian tà của gã nhô ra khỏi chăn màn, John Baptist bị gợi nhớ khá mạnh mẽ về những gì suýt chút nữa đã xảy ra để ngăn không cho chòm râu mép nhếch lên như thế nữa, và chiếc mũi xếch xuống như thế nữa.
"Lại bị chiếc cốc xóc xăm của số phận thảy vào chung hội với cậu nhỉ, hả? Thề có Chúa! Càng tốt cho cậu. Cậu sẽ hưởng lợi đấy. Tôi cần nghỉ ngơi một giấc thật dài. Sáng mai cứ để tôi ngủ."
John Baptist đáp rằng ông chủ cứ ngủ bao lâu tùy thích, rồi chúc gã một đêm an lành và thổi tắt ngọn nến. Người ta có thể tưởng tượng rằng hành động tiếp theo của gã người Ý sẽ là cởi quần áo; nhưng gã làm hoàn toàn ngược lại, gã mặc quần áo từ đầu đến chân, chỉ trừ đôi giày. Khi làm xong, gã nằm xuống giường với một phần chăn đắp lên người, chiếc áo khoác vẫn buộc quanh cổ, để trôi qua đêm dài.
"Khi gã choàng tỉnh, cha nuôi Rạng Đông đang hé nhìn người trùng tên với mình. Gã đứng dậy, cầm giày trên tay, xoay chìa khóa cửa hết sức cẩn thận, rồi rón rén đi xuống cầu thang. Ở dưới chẳng có gì chuyển động ngoài mùi cà phê, rượu, thuốc lá và xi-rô; còn chiếc quầy nhỏ của bà chủ trông khá ghê rợn. Nhưng gã đã trả cho bà chủ món nợ nhỏ của mình từ đêm qua, và gã chẳng muốn gặp ai—chẳng muốn gì ngoài việc xỏ giày và đeo bao tải lên, mở cửa và bỏ chạy."

Gã đã thành công trong mục đích của mình. Chẳng có chuyển động hay giọng nói nào vang lên khi gã mở cửa; chẳng có cái đầu gian tà nào buộc trong chiếc khăn tay xơ xước nhó ra khỏi cửa sổ tầng trên. Khi mặt trời đã nâng trọn đĩa tròn lên trên đường chân trời bằng phẳng, và chiếu những tia lửa xuống con đường rải đá lầy lội dài đằng dặc với hàng cây nhỏ ủ rũ, một vệt đen di chuyển dọc theo con đường và bắn tung tóe giữa những vũng nước mưa rực rỡ, vệt đen đó chính là John Baptist Cavalletto đang vội vã bỏ chạy khỏi gã chủ nhân của mình.