Ông Clennam càng lui tới thường xuyên thì sự thiện cảm mà Cha của Marshalsea dành cho ông lại càng không tăng lên tương ứng. Sự chậm hiểu của ông về vấn đề Món quà Tri ân to lớn kia chẳng những không thể khơi gợi lòng mến mộ trong khuôn ngực người cha, mà trái lại còn dễ gây mất lòng ở nơi nhạy cảm ấy, thậm chí bị xem là sự thiếu hụt trầm trọng về mặt phong độ quân tử. Một cảm giác thất vọng—bắt nguồn từ việc phát hiện ra ông Clennam dường như chẳng hề sở hữu sự tinh tế mà vì quá tin người, vị phụ thân từng sẵn lòng gán cho ông—bắt đầu bao phủ tâm trí người cha. Vị phụ thân thậm chí còn đi xa đến mức tuyên bố trong gia đình rằng ông e là Clennam không phải người có bản chất cao thượng. Ông quan sát và nhận thấy, trên cương vị công khai là người lãnh đạo và đại diện cho Học viện, ông rất vui lòng đón tiếp Clennam mỗi khi ông này đến chào hỏi; nhưng về mặt cá nhân, ông thấy mình chẳng thể hòa hợp nổi. Ở con người ấy dường như thiếu đi một điều gì đó (chính ông cũng chẳng rõ là điều gì). Mặc dù vậy, người cha không hề tỏ ra thiếu lịch sự bên ngoài, mà ngược lại, còn ưu ái dành cho Clennam sự chú ý đặc biệt; có lẽ ông vẫn ấp ủ hy vọng rằng, dù không phải người kiệt xuất và linh hoạt đến mức tự nguyện dâng tặng món quà tri ân lần nữa, thì Clennam vẫn có đủ bản chất của một quý ông biết điều để ứng đối tròn vai trong bất kỳ cuộc trao đổi nào đi theo hướng đó.
Với ba tư cách gộp lại: một quý ông bên ngoài vô tình bị khóa trong ngục ngay đêm đầu xuất hiện, một quý ông bên ngoài đi điều tra gia cảnh của Cha Marshalsea với ý tưởng giật gân là giúp ông ra tù, và một quý ông bên ngoài dành sự quan tâm cho đứa con của Marshalsea, Clennam nhanh chóng trở thành một vị khách đáng chú ý. Ông không ngạc nhiên trước những sự vồ vập mà mình nhận được từ ông Chivery mỗi khi viên cai ngục này gác cổng, bởi ông vốn chẳng phân biệt mấy giữa sự lịch thiệp của Chivery với những người gác ngục khác. Thế nhưng, chính vào một buổi chiều nọ, ông Chivery đã khiến ông kinh ngạc tột cùng và bỗng nhiên nổi bật hẳn lên so với các đồng nghiệp.
Bằng vài thủ thuật khéo léo trong việc dọn dẹp Nhà gác, ông Chivery đã dàn xếp đuổi hết mấy "Học viên" đang lang thang ra ngoài; để khi Clennam bước ra khỏi nhà tù, ông sẽ thấy Chivery đang đứng gác một mình.
"(Chuyện riêng) Tôi xin lỗi ông," ông Chivery thầm thì vẻ bí mật; "nhưng xin hỏi ông định đi hướng nào ạ?"
"Tôi định đi qua Cầu." Clennam kinh ngạc nhìn ông Chivery, người lúc này trông chẳng khác nào một Biểu tượng của Sự im lặng khi đứng ngậm chiếc chìa khóa trên môi.
"(Chuyện riêng) Tôi lại xin lỗi ông lần nữa," ông Chivery nói, "nhưng ông có thể đi vòng qua hẻm Horsemonger được không? Liệu ông có thể thu xếp chút thời gian ghé qua địa chỉ này không?" Nói rồi, ông ta đưa cho Clennam một tấm danh thiếp nhỏ, in để phát cho khách hàng của Chivery & Co., Tiệm thuốc lá, Nhà nhập khẩu Xì-gà Havannah chính hiệu, Thuốc lá sợi Bengal, Xì-gà Cuba thơm ngon, Đại lý Thuốc xỉa thượng hạng, v.v. và v.v.
"(Chuyện riêng) Không phải chuyện làm ăn thuốc lá đâu ạ," ông Chivery nói. "Sự thực là do vợ tôi. Bả muốn thưa với ông một lời về một chuyện liên quan đến—vâng," ông Chivery gật đầu đáp lại ánh mắt e ngại của Clennam, "liên quan đến cô ấy."
"Tôi sẽ ghé gặp vợ ông ngay."
"Cảm ơn ông. Đa tạ ông. Không tốn quá mười phút đi đường của ông đâu. Xin cứ hỏi gặp bà Chivery!" Những lời dặn dò này được ông Chivery—người vốn đã thả Clennam ra—thận trọng nói qua một ô cửa trượt nhỏ trên cánh cửa ngoài, nơi ông ta có thể kéo ra từ bên trong để quan sát khách khứa bất cứ khi nào thích.
Arthur Clennam cầm tấm danh thiếp trong tay, tìm đến địa chỉ ghi trên đó và nhanh chóng tới nơi. Đó là một tiệm buôn rất nhỏ, bên trong có một người phụ nữ đàng hoàng đang ngồi sau quầy may vá. Mấy hũ thuốc lá nhỏ, mấy hộp xì-gà nhỏ, một vài loại tẩu thuốc, một hai hũ thuốc xỉa nhỏ cùng một cái dụng cụ nho nhỏ giống như cái đón gót giày dùng để đong thuốc, tạo thành toàn bộ hàng hóa bán lẻ của tiệm.
Arthur xưng tên và nói mình đến theo lời mời của ông Chivery. Ông cho biết hình như có chuyện liên quan đến Cô Dorrit. Bà Chivery lập tức đặt việc đang làm xuống, đứng dậy khỏi chiếc ghế sau quầy và ngao đán lắc đầu.
"Bây giờ ông có thể nhìn thấy nó đấy," bà nói, "nếu ông hạ cố ghé mắt nhìn một cái."
Cùng với những lời bí hiểm đó, bà dẫn khách vào một phòng khách nhỏ sau cửa hiệu, có một ô cửa sổ nhỏ trông ra cái sân sau vô cùng chật hẹp và ảm đạm. Trong khoảng sân ấy, một đống ga giường cùng khăn trải bàn đang cố gắng khô (nhưng vô ích vì thiếu gió) trên một hai sợi dây phơi; và giữa những món đồ đang phấp phới đó, trên một chiếc ghế, có một gã trẻ tuổi trông tội nghiệp đang ngồi như người thủy thủ cuối cùng còn sống sót trên boong một con tàu ẩm ướt mà chẳng còn sức lực đâu để cuốn buồm.
"Thằng John nhà chúng tôi đấy," bà Chivery nói.
Để không tỏ ra thờ ơ, Clennam hỏi anh ta đang làm gì ở đó.
"Đó là cách giải khây duy nhất của nó đấy," bà Chivery lại lắc đầu. "Nó nhất quyết không chịu ra, dù là ra sân sau, những khi không có đồ phơi; nhưng hễ có đồ phơi che chắn mắt mũi hàng xóm là nó sẽ ngồi đó hàng giờ liền. Hàng giờ liền đấy ông ạ. Nó bảo nó cảm thấy như đang ở trong rừng cây!" Bà Chivery lại lắc đầu, lấy vạt tạp dề xức mắt theo kiểu một người mẹ, rồi dẫn khách trở lại khu vực bán hàng.
"Xin mời ông ngồi," bà Chivery nói. "Cô Dorrit là nguyên do khiến thằng John nhà chúng tôi ra nông nỗi này đấy, ông ạ; nó đang tan nát con tim vì cô ấy, và tôi xin mạn phép hỏi làm sao đền bù cho cha mẹ nó đây khi nó suy sụp hoàn toàn?"
Bà Chivery, một người phụ nữ trông đầy đặn và rất được kính trọng quanh hẻm Horsemonger nhờ tình cảm và cách nói năng, thốt ra những lời này với một sự bình thản đáng sợ, rồi ngay sau đó lại bắt đầu lắc đầu và lau nước mắt.
"Thưa ông," bà nói tiếp, "ông quen biết gia đình đó, lại quan tâm và có tiếng nói với họ. Nếu ông có thể thúc đẩy những quan điểm giúp hai người trẻ được hạnh phúc, thì vì thằng John nhà chúng tôi, và vì cả hai đứa, tôi van xin ông hãy làm như vậy!"
"Tôi đã quá quen," Arthur đáp lại trong sự ngỡ ngàng, "trong suốt thời gian ngắn quen biết cô ấy, tôi đã quá quen nhìn nhận Cô Dorrit dưới một góc độ hoàn toàn khác với những gì bà vừa trình bày, đến mức bà làm tôi quá đỗi bất ngờ. Cô ấy có quen con trai bà không?"
"Lớn lên cùng nhau mà ông," bà Chivery nói. "Chơi đùa từ bé."
"Cô ấy có biết con trai bà là người si mê cô ấy không?"
"Ôi, chúa ơi, thưa ông," bà Chivery nói với một phản ứng run rẩy đầy tự hào, "cô ấy chẳng thể nào nhìn thấy nó vào Chủ nhật mà lại không biết điều đó. Riêng cây gậy chống của nó thôi cũng đã nói lên điều đó từ lâu rồi, nếu không muốn nói đến những thứ khác. Mấy cậu thanh niên như thằng John đâu có tự nhiên cầm cái gậy bịt ngà voi chỉ trỏ làm gì. Lần đầu tôi biết chuyện thì cũng thế thôi."
"Nhưng có lẽ Cô Dorrit lại không sẵn lòng như bà nghĩ đâu."
"Thế thì cô ấy biết điều đó qua lời tỏ tình rồi, thưa ông," bà Chivery nói.
"Bà có chắc không?"
"Thưa ông," bà Chivery nói, "chắc chắn như việc tôi đang đứng trong căn nhà này vậy. Chính mắt tôi nhìn thấy con tôi đi ra khi tôi ở trong căn nhà này, và chính mắt tôi nhìn thấy con tôi đi vào khi tôi ở trong căn nhà này, và tôi biết nó đã làm điều đó!" Bà Chivery tạo ra một sức nặng nhấn mạnh kinh ngạc từ những chi tiết dông dài và sự lặp lại vừa rồi.
"Tôi có thể hỏi làm sao anh ấy lại rơi vào tình trạng tuyệt vọng khiến bà phải lo âu đến thế không?"
"Chuyện đó," bà Chivery nói, "xảy ra đúng cái ngày mà chính mắt tôi nhìn thấy thằng John trở về căn nhà này. Từ đó đến nay nó chưa từng trở lại bình thường trong căn nhà này. Nó chưa từng như thế này kể từ cái giờ mà tôi cùng bố nó đến thuê căn nhà này theo quý từ bảy năm trước!" Một hiệu ứng giống như lời tuyên thệ dưới ánh sáng pháp lý được tạo ra nhờ cấu trúc câu từ dị biệt của bà Chivery.
"Tôi có thể mạn phép hỏi câu chuyện theo góc nhìn của bà được không?"
"Được chứ," bà Chivery nói, "và tôi sẽ kể cho ông bằng danh dự và bằng lời thề chân thực như việc tôi đang đứng trong gian hiệu này. Thằng John nhà chúng tôi ai cũng khen, ai cũng mến. Nó chơi với cô ấy từ hồi còn là một đứa trẻ khi cô ấy chơi ở cái sân đó. Nó biết cô ấy từ dạo đó. Chiều Chủ nhật nọ, sau khi ăn tối ngay tại phòng khách này, nó đi ra ngoài và gặp cô ấy, có hẹn trước hay không hẹn trước thì tôi không dám chắc. Nó đã ngỏ lời với cô ấy. Nhưng anh trai và chị gái cô ấy thì tham vọng cao xa, phản đối thằng John nhà chúng tôi. Bố cô ấy thì ích kỷ, chỉ biết mình, không muốn chia sẻ cô ấy với ai. Trong hoàn cảnh đó, cô ấy đã trả lời thằng John nhà chúng tôi rằng: 'Không, John, em không thể lấy anh, em không thể lấy bất kỳ người chồng nào, em không có ý định trở thành vợ người ta, em định sẽ luôn là một sự hi sinh, từ biệt anh, hãy tìm một người khác xứng đáng hơn và quên em đi!' Đó là cái cách mà cô ấy bị đày đọa làm nô lệ trường kỳ cho những kẻ không xứng đáng để cô ấy phải làm nô lệ. Đó là lý do vì sao thằng John nhà chúng tôi chẳng tìm thấy niềm vui nào khác ngoài việc ra ngồi chịu lạnh giữa đống đồ phơi, và phô ra ở cái sân đó—như chính tôi đã chỉ cho ông xem—một phế tích tàn thân làm xé lòng người mẹ!" Đến đây, người phụ nữ tốt bụng chỉ tay ra ô cửa sổ nhỏ, nơi con trai bà đang ngồi ủ rũ giữa "rừng cây" không tiếng hót; rồi bà lại lắc đầu lau mắt, van xin Clennam hãy vì tương lai của cả hai đứa trẻ mà dùng ảnh hưởng của mình để đảo ngược chuỗi bi kịch này.
Bà quả quyết trong cách trình bày vụ việc đến mức, và câu chuyện ấy lại dựa trên những tiền đề quá đúng đắn về vị thế của Tiểu Dorrit cùng gia đình cô, khiến Clennam không thể quả quyết phản bác. Ông vốn dành cho Tiểu Dorrit một sự quan tâm thật đặc biệt—sự quan tâm vừa tách biệt cô ra khỏi, lại vừa nảy sinh từ những điều dung tục và thô kệch xung quanh cô—đến mức ông cảm thấy thất vọng, khó chịu, thậm chí đau đớn khi phải hình dung cô lại đi yêu cậu trẻ Chivery ở sân sau, hay bất kỳ ai tương tự. Mặt khác, ông tự lý giải với mình rằng dù có yêu hay không yêu anh ta thì cô vẫn cứ tốt lành và chân thành như thế; và việc biến cô thành một nàng tiên trong nhà, với cái giá là sự cô độc trong tâm hồn khỏi những người duy nhất mà cô biết, chẳng qua chỉ là sự yếu đuối trong tưởng tượng của riêng ông, chứ chẳng phải sự tốt lành gì. Dẫu vậy, dáng vẻ trẻ trung và thoát tục, điệu bộ rụt rè, nét quyến rũ trong giọng nói và ánh mắt nhạy cảm của cô, cùng vô số điểm khiến ông quan tâm vượt khỏi bản ngã của cô, và sự khác biệt sâu sắc giữa cô với những người xung quanh, đều không thể hòa hợp, và nhất quyết không chịu hòa hợp với ý niệm mới được đặt ra này.
Sau khi suy ngẫm những điều đó trong đầu—thực ra ông đã nghĩ trong lúc bà còn đang nói—ông bảo bà Chivery tốt bụng rằng bà có thể tin tưởng ông sẽ làm hết sức mình bất cứ lúc nào để thúc đẩy hạnh phúc của Cô Dorrit, và giúp cô đạt được nguyện vọng trong lòng nếu điều đó nằm trong khả năng của ông và nếu ông có thể tìm hiểu xem nguyện vọng đó là gì. Đồng thời ông cũng cảnh báo bà không nên dựa vào những suy đoán và biểu hiện bên ngoài; nghiêm cấm không được tiết lộ để tránh làm Cô Dorrit phiền lòng; và đặc biệt khuyên bà nên cố gắng giành lấy sự tin tưởng của con trai mình để nắm chắc thực hư câu chuyện. Bà Chivery cho rằng sự thận trọng sau cùng là thừa thãi, nhưng vẫn hứa sẽ thử. Bà lắc đầu như thể không nhận được sự an ủi trọn vẹn như từng kỳ vọng vào cuộc gặp này, nhưng dù sao vẫn cảm ơn ông vì đã cất công giúp đỡ. Sau đó họ chia tay trong êm đẹp, và Arthur bước đi.
Dòng người đông đúc trên phố chen chúc với dòng suy nghĩ hỗn loạn trong tâm trí khiến ông tránh đường Cầu London mà rẽ sang hướng Cầu Sắt yên tĩnh hơn. Vừa đặt chân lên cầu, ông đã thấy Tiểu Dorrit đang đi phía trước. Đó là một ngày đẹp trời, gió nhẹ thổi, và cô dường như vừa mới ra đó hóng mát. Chưa đầy một giờ trước, ông vừa mới chia tay cô ở phòng của cha cô.
Đó là một sự tình cờ đúng lúc, thuận lợi cho mong muốn quan sát nét mặt và dáng vẻ của cô khi không có ai bên cạnh. Ông bước nhanh hơn; nhưng trước khi ông kịp đến gần, cô đã ngoảnh đầu lại.
"Tôi làm cô giật mình à?" ông hỏi.
"Tôi tưởng mình nhận ra tiếng bước chân," cô ấp úng trả lời.
"Và cô đã nhận ra sao, Tiểu Dorrit? Cô khó mà ngờ đó là tiếng bước chân của tôi."
"Tôi không đợi ai cả. Nhưng khi nghe tiếng bước chân, tôi nghĩ... nghe giống như của ông."
"Cô có đi xa nữa không?"
"Không, thưa ông, tôi chỉ đi dạo ở đây một chút cho thoáng."
Họ cùng nhau bước đi, cô đã lấy lại vẻ tin cẩn dành cho ông, ngước nhìn lên mặt ông và nói sau khi liếc nhìn xung quanh:
"Kỳ lạ thật. Có lẽ ông khó mà hiểu được. Thỉnh thoảng tôi có cảm giác như việc đi dạo ở đây gần như là một sự nhẫn tâm."
"Nhẫn tâm sao?"
"Khi nhìn thấy dòng sông, khoảng trời bao la, bao nhiêu cảnh vật, cùng sự chuyển động đổi thay thế này. Rồi sau đó trở về, ông biết đấy, và thấy cha vẫn ở trong nơi chật hẹp cũ kỹ ấy."
"Ôi, phải rồi! Nhưng khi trở về, cô phải nhớ rằng cô mang theo tinh thần và hơi thở của những điều này để làm cha vui lên."
"Tôi có làm được vậy không? Tôi mong là mình làm được! Tôi e là ông đã tưởng tượng quá nhiều, thưa ông, và biến tôi thành người quá mạnh mẽ. Nếu ông ở trong tù, liệu tôi có thể mang lại sự an ủi như thế cho ông không?"
"Có chứ, Tiểu Dorrit, tôi chắc chắn như vậy."
Ông nhận ra từ sự run rẩy trên làn môi và bóng xám đao xót chợt thoáng qua trên mặt cô rằng tâm trí cô đang hướng về cha mình. Ông giữ im lặng vài khoảnh khắc để cô lấy lại sự bình thản. Tiểu Dorrit đang run rẩy trên tay vịn của ông lúc này lại càng không hề ăn nhập với lý thuyết của bà Chivery, nhưng lại không phải là không thể dung hòa với một tưởng tượng mới vừa lóe lên trong ông: rằng có thể có một ai đó khác ở khoảng cách tuyệt vọng—một tưởng tượng còn mới mẻ hơn nữa—ở khoảng cách tuyệt vọng không thể với tới.
Họ quay lại, và Clennam nói, Maggy đang đến kìa! Tiểu Dorrit ngước lên ngạc nhiên, rồi họ chạm mặt Maggy, người vừa nhìn thấy họ đã dừng khựng lại. Nó đã lon ton chạy đi, bận rộn và chú tâm đến mức không nhận ra họ cho đến khi họ rẽ về phía mình. Lúc này, nó lập tức cắn rứt lương tâm đến mức ngay cả cái giỏ xách của nó cũng dường như biến đổi theo.
"Maggy, em đã hứa với chị là sẽ ở lại gần cha cơ mà."
"Mẹ Nhỏ ơi, em cũng muốn thế lắm chứ, nhưng ngài ấy không cho. Ngài ấy mà đuổi em đi thì em phải đi thôi. Ngài ấy bảo: 'Maggy, mau cầm thư này đi rồi quay về, nếu có thư trả lời tốt thì tao cho mày sáu xu,' thì em phải nhận chứ. Ôi Mẹ Nhỏ ơi, một đứa trẻ mười tuổi tội nghiệp thì biết làm sao được? Rồi nếu cậu Tip—nếu cậu ấy vô tình đi vào lúc em đi ra, rồi cậu ấy hỏi 'Mày đi đâu đấy Maggy?' và em bảo 'Em đi đến chỗ Này chỗ Nọ,' rồi cậu ấy bảo 'Tao cũng thử vận may xem sao,' rồi cậu ấy vào quán George viết một lá thư đưa cho em bảo 'Cầm lá thư này đến cùng chỗ đó, nếu thư trả lời tốt tao cho mày một shilling,' thì đâu phải lỗi tại em, Mẹ Nhỏ!"
Qua đôi mắt cúi sầm của Tiểu Dorrit, Arthur đọc được cô đã đoán ra những lá thư đó gửi cho ai.
"Em đang đi đến chỗ Này chỗ Nọ đây. Đấy! Nơi em sắp đến là đó đấy," Maggy nói. "Em đang đi đến chỗ Này chỗ Nọ. Mẹ Nhỏ ơi, không phải chuyện của chị đâu—là chuyện của ông, ông biết đấy," Maggy vừa nói vừa quay sang Arthur. "Tốt nhất ông nên đi đến chỗ Này chỗ Nọ, để em giao thư cho ông."
"Chúng ta không cần phải câu nệ thế đâu, Maggy. Đưa thư cho tôi ở đây đi," Clennam nói nhỏ.
"Vậy thì đi sang bên kia đường đi," Maggy đáp lại bằng một tiếng thì thầm rất to. "Mẹ Nhỏ vốn không được biết chuyện này đâu, và chị ấy sẽ chẳng bao giờ biết nếu ông chịu đi đến chỗ Này chỗ Nọ thay vì cứ lãng quẻ lang thang ở đây. Đâu phải lỗi tại em. Em phải làm theo lời người ta dặn chứ. Họ phải biết xấu hổ vì đã dặn em làm thế mới đúng."
Clennam băng sang bên kia đường và vội vã mở các lá thư ra. Lá thư từ người cha đề cập rằng thật ngoài dự kiến, ông thấy mình rơi vào một tình cảnh lạ lẫm là bị thất hứa một khoản tiền chuyển từ City mà ông vốn đinh ninh trông chờ, nên ông phải cầm bút—do hoàn cảnh bất hạnh bị giam cầm suốt hai mươi ba năm qua (gạch chân hai lần) nên không thể tự mình đến được, bằng không chắc chắn ông đã đến—cầm bút để khẩn khoản xin ông Clennam cho vay số tiền Ba Bảng Mười Shilling dựa trên giấy nợ đính kèm. Lá thư từ người con trai thì trình bày rằng ông Clennam chắc chắn sẽ vui mừng khi biết anh ta rốt cuộc đã tìm được một công việc ổn định rất vừa ý, hứa hẹn một tương lai vô cùng tươi sáng; nhưng việc ông chủ tạm thời chưa thể trả khoản lương còn nợ tính đến nay (trong tình cảnh đó ông chủ đã kêu gọi sự bao dung rộng lượng mà anh ta tin mình sẽ không bao giờ thiếu đối với đồng loại), cộng với hành vi lừa đảo của một người bạn giả dối và giá cả thực phẩm đắt đỏ hiện nay, đã đẩy anh ta đến bờ vực phá sản, trừ phi trước năm giờ bốn mươi lăm phút chiều nay anh ta gom đủ số tiền tám bảng. Số tiền này, hẳn ông Clennam sẽ hân hoan khi biết, nhờ sự sốn sắng của vài người bạn vốn rất tin tưởng vào sự trung thực của anh ta, đã gom gần đủ, chỉ còn thiếu khoản dư khiêm tốn là một bảng mười bảy shilling và bốn xu; việc cho vay khoản dư này trong thời hạn một tháng sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp như thường lệ.
Clennam trả lời những lá thư này ngay tại chỗ bằng bút chì và sổ tay; gửi cho người cha số tiền ông ta xin, và từ chối yêu cầu của người con. Sau đó ông giao cho Maggy mang thư phản hồi về, đồng thời cho nó một shilling mà lẽ ra nó đã bị hụt mất do thương vụ phụ bị đổ bể.
Khi ông trở lại với Tiểu Dorrit và họ lại bắt đầu bước đi như trước, cô đột nhiên nói:
"Tôi nghĩ tôi nên về thì hơn. Tôi nên về nhà thì hơn."
"Đừng buồn," Clennam nói, "tôi đã trả lời những lá thư đó rồi. Chẳng có gì đâu. Cô biết chúng là gì mà. Chẳng có gì đáng bận tâm đâu."
"Nhưng tôi sợ," cô đáp, "khi để cha ở lại, tôi sợ khi rời xa bất kỳ ai trong số họ. Khi tôi vắng mặt, họ sẽ biến chất—nhưng họ không cố ý đâu—ngay cả Maggy cũng vậy."
"Đó là một nhiệm vụ rất ngây thơ mà con bé nhận làm thôi, tội nghiệp nó. Và việc nó giấu cô, chắc chắn nó chỉ nghĩ là để cô khỏi phải bận lòng."
"Vâng, tôi mong là vậy, tôi mong là vậy. Nhưng tôi nên về nhà thì hơn! Mới mấy hôm trước chị tôi còn bảo tôi đã quá quen với nhà tù đến mức mang cả giọng điệu và nét tính cách của nơi đó. Chắc chắn là vậy rồi. Chắc chắn phải thế khi tôi nhìn thấy những chuyện này. Nơi của tôi là ở đó. Tôi ở đó thì tốt hơn, tôi thật nhẫn tâm khi ở đây, trong khi tôi có thể làm được dù là việc nhỏ nhất ở nơi ấy. Tạm biệt ông. Tốt nhất là tôi nên ở nhà!"
Cách cô bộc bạch đầy đau đớn những lời này, như thể chúng tự bộc phát ra từ con tim bị dồn nén, khiến Clennam khó lòng cầm được nước mắt khi nhìn và nghe cô nói.
"Đừng gọi nơi đó là nhà, con ơi!" ông khẩn khoản. "Tôi luôn thấy đau lòng mỗi khi nghe cô gọi nơi đó là nhà."
"Nhưng đó là nhà mà! Tôi còn có thể gọi nơi nào khác là nhà cơ chứ? Tại sao tôi lại phải quên nó dù chỉ trong một khoảnh khắc?"
"Cô chưa bao giờ quên, Tiểu Dorrit ngoan cẩn, trong bất kỳ việc làm tốt đẹp và chân thành nào."
"Tôi mong là vậy, ôi tôi mong là vậy! Nhưng tôi ở lại đó thì tốt hơn; tốt hơn nhiều, tròn bổn phận hơn nhiều, và hạnh phúc hơn nhiều. Xin ông đừng đi cùng tôi nữa, hãy để tôi đi một mình. Tạm biệt ông, cầu Chúa ban phúc cho ông. Cảm ơn ông, cảm ơn ông rất nhiều."
Ông cảm thấy tốt nhất nên tôn trọng lời khẩn cầu của cô, nên đứng yên nhìn bóng dáng mảnh mai ấy nhanh chóng khuất xa. Khi bóng dáng ấy đã biến mất khỏi tầm mắt, ông quay mặt về phía dòng nước và đứng suy ngẫm.
Vào bất kỳ lúc nào, cô cũng sẽ đau lòng khi phát hiện ra những lá thư ấy; nhưng đau lòng đến mức này, và theo một cách không thể kiềm chế nổi sao?
Không.
Khi nhìn thấy cha mình ăn xin dưới lớp ngụy trang sờn cũ, khi cô van xin ông đừng cho cha cô tiền, cô cũng đau lòng, nhưng không đến mức này. Có điều gì đó vừa làm cô trở nên nhạy cảm sắc nhọn và sâu sắc hơn lúc này. Phải chi, đang có một ai đó ở khoảng cách tuyệt vọng không thể với tới? Hay là sự nghi ngờ ấy đã được gieo vào tâm trí ông, bởi chính những liên tưởng của ông giữa dòng sông động đậy chảy dưới chân cầu với chính dòng sông ấy ở phía thượng nguồn, giai điệu không đổi của nó trên mũi con phà, dòng chảy êm đềm trôi vài dặm một giờ, nơi đây là đám sậy, nơi kia là những nhành hoa súng, chẳng có gì bất định hay xáo động?
Ông đứng đó nghĩ về đứa con tội nghiệp của mình, Tiểu Dorrit, suốt một thời gian dài; ông nghĩ về việc cô đang trở về nhà; ông nghĩ về cô trong đêm tối; ông nghĩ về cô khi một ngày mới lại bắt đầu. Và đứa con tội nghiệp Tiểu Dorrit cũng nghĩ về ông—quá mực trung thành, ôi, quá mực trung thành!—dưới bóng râm của bức tường Marshalsea.