Dorrit Bé Nhỏ

Lượt đọc: 302 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Chuyện Trong Gia Đình

❊ ❊ ❊

Đồng hồ thành phố vừa điểm chín giờ sáng thứ Hai, bà Clennam đã được Jeremiah Flintwinch—gã thợ quản gia với dáng vẻ như bị gọt bớt—đẩy xe lăn đến bên chiếc tủ cao có bàn viết. Khi bà mở khóa, kéo cánh tủ ra và ngồi vào bàn, Jeremiah liền lui ra—như thể tranh thủ đi treo cổ cho rảnh nợ—và người con trai bước vào.

“Sáng nay mẹ thấy trong người khá hơn chút nào không?”

Bà lắc đầu, vẫn giữ nguyên vẻ đạo mạo khắc kỷ đến xa xỉ như đêm qua khi bàn về thời tiết. “Tôi sẽ chẳng bao giờ khá hơn được nữa. Nhưng thế cũng tốt, Arthur ạ, ít ra tôi biết điều đó và chịu đựng được.”

Bà ngồi đó, hai tay đặt riêng rẽ trên mặt bàn, phía trước là chiếc tủ cao sừng sững, trông chẳng khác nào một nhạc công đang chơi trên cây đàn phong cầm câm lặng trong nhà thờ. Người con trai cũng nghĩ vậy (một suy nghĩ đã quá quen thuộc với anh) khi kéo ghế ngồi xuống bên cạnh.

Bà mở một hai ngăn kéo, lật qua lật lại mấy tờ tài liệu kinh doanh rồi xếp trả vào chỗ cũ. Gương mặt nghiêm nghị của bà không để lộ lấy một nét giãn ra, chẳng một ai có thể dựa vào đó mà dò tìm lối vào mê cung tăm tối trong tư tưởng của bà.

“Mẹ ơi, con nói chuyện công việc của chúng ta được chưa? Mẹ đã sẵn sàng bàn chuyện làm ăn chưa?”

“Tôi sẵn sàng chưa ư, Arthur? Phải hỏi anh đã sẵn sàng chưa mới đúng. Cha anh mất đã hơn một năm rồi. Từ đó đến nay tôi luôn đợi quyết định của anh, tùy anh định liệu đấy chứ.”

“Trước khi đi con phải thu xếp nhiều việc; và khi rời đi, con cũng muốn đi đây đi đó một thời gian để nghỉ ngơi và tĩnh tâm.”

Bà quay mặt về phía anh, làm như thể chưa nghe hoặc chẳng hiểu mấy từ cuối cùng anh vừa nói.

“Để nghỉ ngơi và tĩnh tâm ư.”

Bà đảo mắt nhìn quanh căn phòng u tối, đôi môi mấp máy như lặp lại mấy từ đó với chính mình, như muốn viện dẫn căn phòng làm chứng xem nơi này đã cho bà được bao nhiêu sự nghỉ ngơi và tĩnh tâm.

“Hơn nữa, thưa mẹ, mẹ là người duy nhất quản lý di sản, nắm toàn quyền điều hành và quản lý gia tài, nên chẳng còn mấy việc—hay nói đúng hơn là chẳng còn việc gì—để con can thiệp, cho đến khi mẹ thu xếp mọi thứ xong xuôi theo ý mẹ.”

“Sổ sách đã làm xong cả rồi,” bà đáp. “Tôi có ở đây. Mọi chứng từ đều đã kiểm tra và phê duyệt. Anh thích xem lúc nào cũng được, Arthur; ngay bây giờ nếu anh muốn.”

“Chỉ cần biết công việc đã xong xuôi là đủ rồi mẹ. Vậy con tiếp tục nhé?”

“Sao lại không?” bà lạnh lùng nói.

“Mẹ ạ, Công ty của chúng ta nhiều năm qua làm ăn ngày càng sút kém, công việc kinh doanh liên tục đi xuống. Chúng ta chưa từng đặt niềm tin vào ai, cũng chẳng khiến ai tin tưởng; chúng ta không thu phục được nhân tâm; con đường chúng ta đi đã lệch khỏi dòng chảy thời đại, và chúng ta đã bị bỏ lại quá xa. Con không cần phải nói nhiều về điều này với mẹ. Tự mẹ cũng thừa biết.”

“Tôi hiểu ý anh,” bà đáp lại bằng giọng chừng mực.

“Ngay cả ngôi nhà cũ kỹ mà chúng ta đang ngồi đây,” người con tiếp tục, “cũng là một minh chứng. Thời cha con còn trẻ, và thời bác con trước đó, đây là nơi làm ăn thực sự, là trung tâm giao thương sầm uất. Còn bây giờ, nó chỉ là một sự vô lý kỳ quặc, lỗi thời và mất hết mục đích sử dụng. Mọi lô hàng của chúng ta từ lâu đã chuyển giao cho đại lý Rovinghams; và dù mẹ đã phát huy tối đa sự sắc sảo, cảnh giác để giám sát họ cũng như quản lý tài sản của cha, thì những phẩm chất đó của mẹ cũng vẫn sẽ mang lại hiệu quả tương tự cho cơ nghiệp của cha dù mẹ có sống ở bất kỳ căn nhà riêng nào khác, có phải vậy không?”

“Anh có cho rằng,” bà bèn vặn lại, bỏ qua câu hỏi của anh, “một ngôi nhà là vô dụng, Arthur, khi nó là nơi che chở cho người mẹ tàn tật và đau khổ này—một sự tàn tật đích đáng và nỗi đau khổ đích đáng?”

“Con chỉ đang nói về mục đích kinh doanh thôi.”

“Anh nói thế để làm gì?”

“Con đang đi vào vấn đề đây.”

“Tôi đoán trước được,” bà nhìn chằm chằm vào anh, “anh định nói gì rồi. Nhưng Chúa đời nào để tôi than van trước bất kỳ tai ách nào Người giáng xuống. Trong sự tội lỗi của mình, tôi đáng phải nhận lấy sự thất vọng cay đắng này, và tôi chấp nhận nó.”

“Mẹ ơi, con rất đau lòng khi nghe mẹ nói vậy, dù con đã e sợ rằng mẹ sẽ—”

“Anh biết thừa tôi sẽ nói thế. Anh thừa biết tính tôi mà,” bà ngắt lời.

Người con ngập ngừng một khắc. Anh đã chạm đúng vào mồi lửa của bà và cảm thấy kinh ngạc. “Được rồi!” bà trơ ra như đá. “Nói tiếp đi. Lại đây tôi nghe.”

“Như mẹ đã đoán trước, về phần con, con quyết định từ bỏ việc kinh doanh. Con sẽ không dính dáng đến nó nữa. Con không dám đưa ra lời khuyên cho mẹ; con biết mẹ vẫn sẽ tiếp tục duy trì nó. Nếu con có chút ảnh hưởng nào đối với mẹ, con chỉ xin dùng nó để giảm bớt sự khắt khe của mẹ dành cho con khi con gây ra sự thất vọng này; để mẹ hiểu rằng con đã sống nửa đời người mà chưa từng một lần dám cãi lời mẹ. Con không thể nói rằng tâm hồn và trí óc con hoàn toàn tuân phục các quy tắc của mẹ; con không thể nói rằng bốn mươi năm qua mang lại lợi ích hay niềm vui gì cho con hay cho bất kỳ ai; nhưng con đã quen sống phục tùng, và con chỉ mong mẹ ghi nhận điều đó.”

Thật khốn khổ cho kẻ van xin nào—nếu quả thực từng có một kẻ như thế—mong tìm kiếm sự rủ lòng thương từ gương mặt sắt đá bên bàn viết kia. Thật khốn khổ cho kẻ phạm lỗi nào phải đem lời thỉnh cầu đến trước tòa án nơi đôi mắt nghiêm khắc kia tọa chối. Người phụ nữ cứng cỏi này cần biết bao cái tôn giáo huyền bí của bà, một thứ tôn giáo bao phủ trong tăm tối và u uẩn, với những tia sấm sét của lời nguyền rủa, sự trả thù và diệt vong giáng xuống từ những đám mây đen kịt. *Xin tha nợ cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con* là một lời cầu nguyện quá đỗi yếu mềm đối với bà. *Lạy Chúa, xin hãy trừng phạt kẻ nợ con, hãy làm chúng héo mòn, hãy đè bẹp chúng; xin Chúa hãy làm đúng như con muốn, và con sẽ thờ phụng Người*—đó mới chính là ngọn tháp đá xúc phạm thần thánh mà bà dựng lên để trèo lên Thiên đàng.

“Anh nói xong chưa, Arthur, hay còn điều gì muốn nói nữa? Tôi nghĩ chắc chẳng còn gì khác đâu. Anh nói ngắn gọn đấy, nhưng toàn chuyện to tát!”

“Mẹ, con vẫn còn một chuyện nữa muốn nói. Chuyện này đã đè nặng trong tâm trí con ngày đêm suốt thời gian qua. Nó khó nói hơn nhiều so với những gì con vừa trình bày. Những chuyện trước chỉ liên quan đến con; còn chuyện này liên quan đến tất cả chúng ta.”

“Tất cả chúng ta! Tất cả chúng ta là những ai?”

“Bản thân mẹ, con, và người cha đã mất của con.”

Bà nhấc hai tay khỏi mặt bàn, khoanh lại đặt lên đùi, rồi ngồi nhìn về phía bếp lửa với vẻ thâm trầm bí hiểm như một bức tượng Ai Cập cổ đại.

“Mẹ hiểu cha hơn con gấp nhiều lần; và sự kín kẽ của cha đối với con luôn phải nhượng bộ trước mẹ. Mẹ mạnh mẽ hơn cha rất nhiều, mẹ là người điều khiển cha. Từ khi còn là một đứa trẻ, con đã biết rõ điều đó như bây giờ. Con biết sự lấn át của mẹ đối với cha là lý do khiến cha phải sang Trung Quốc gánh vác việc kinh doanh bên đó, trong khi mẹ quản lý ở đây (dù cho đến tận bây giờ con vẫn không biết liệu đó có thực sự là những điều khoản ly thân mà hai người đã thỏa thuận hay không); và chính ý muốn của mẹ đã giữ con lại bên mẹ cho đến năm hai mươi tuổi, rồi mới sang với cha như con đã làm. Chắc mẹ không phiền lòng khi con nhắc lại chuyện này sau hai mươi năm chứ?”

“Tôi đang đợi nghe xem tại sao anh lại nhắc lại đây.”

Anh hạ thấp giọng, ngập ngừng gượng gạo và như thể trái với ý muốn của chính mình:

“Con muốn hỏi mẹ, đã bao giờ mẹ nghi ngờ—”

Nghe đến từ *Nghi ngờ*, bà liếc nhìn con trai trong khoảnh khắc, cau mày giận dữ. Sau đó bà lại để ánh mắt hướng về phía bếp lửa như trước; nhưng vết nhăn cau mày vẫn hằn nguyên trên trán, như thể người thợ chạm khắc Ai Cập cổ đại đã tạc nó vào gương mặt đá hoa cương cứng đờ kia để nhăn nhó suốt muôn đời.

“—rằng cha có một ký ức bí mật nào đó khiến tâm trí cha phải dằn dằn, dằn dằn sự hối hận? Mẹ có bao giờ nhận thấy điều gì trong hành vi của cha gợi lên chuyện đó; hoặc từng nói với cha về điều đó, hay nghe cha ám chỉ đến một chuyện như vậy bao giờ chưa?”

“Tôi không hiểu anh định ám chỉ loại ký ức bí mật nào đã hành hạ cha anh,” bà lên tiếng sau một hồi im lặng. “Anh nói năng thật kỳ bí.”

“Liệu có khả năng nào, mẹ ơi,” người con ghé sát lại gần bà hơn khi thì thầm, bàn tay run rẩy đặt lên mặt bàn viết, “liệu có khả năng nào cha đã trót làm điều sai trái với ai đó mà chưa kịp đền bù không?”

Nhìn anh bằng ánh mắt giận dữ, bà ngửa người ra sau tựa vào tựa ghế để giữ khoảng cách với anh, nhưng không trả lời một từ.

“Con biết rất rõ, thưa mẹ, nếu suy nghĩ này chưa từng một lần lóe lên trong đầu mẹ, thì việc con thốt ra nó, dù là trong sự tin cậy này, trông thật tàn nhẫn và vô đạo. Nhưng con không thể xua tan nó được. Thời gian và sự thay đổi (con đã thử cả hai trước khi phá vỡ sự im lặng) đều không thể xóa mờ nó. Xin mẹ nhớ cho, con đã ở bên cha. Xin nhớ cho, con đã nhìn thấy mặt cha khi ông trao chiếc đồng hồ vào tay con và cố gắng diễn đạt rằng ông gửi nó như một tín vật mà mẹ sẽ hiểu. Xin nhớ cho, con đã nhìn thấy cha trong những giây phút cuối đời, với cây bút chì trong bàn tay run rẩy, cố viết vài chữ cho mẹ đọc, nhưng không thể tạo thành hình thù. Sự nghi ngờ mơ hồ này càng xa xôi và tàn nhẫn bao nhiêu, thì những tình tiết củng cố nó lại càng có vẻ hợp lý bấy nhiêu. Vì Chúa, xin chúng ta hãy nghiêm túc kiểm tra xem có tội lỗi nào được ủy thác cho chúng ta để khắc phục hay không. Chẳng ai có thể giúp việc này ngoại trừ mẹ.”

Bà vẫn ngửa người ra sau ghế đến mức sức nặng làm chiếc xe lăn thỉnh thoảng xích lại một chút, khiến bà trông như một bóng ma dữ tợn đang lướt xa dần khỏi anh. Bà giơ cánh tay trái lên, gập ở khuỷu tay với lưng bàn tay hướng về phía mặt như một tấm lá chắn ngăn cách giữa bà và anh, rồi nhìn anh trong sự im lặng bất động.

“Trong việc vơ vét tiền bạc và chèn ép người khác—con đã bắt đầu và con phải nói ra những điều này, mẹ ạ—có thể ai đó đã bị lừa gạt, tổn hại, thậm chí phá sản cay đắng. Mẹ là động cơ vận hành toàn bộ bộ máy này từ trước khi con ra đời; tinh thần mạnh mẽ của mẹ đã thấm đượm vào mọi giao dịch của cha trong hơn bốn mươi năm qua. Con nghĩ mẹ có thể dập tắt những nghi ngờ này nếu mẹ thực sự muốn giúp con tìm ra sự thật. Mẹ sẽ giúp con chứ, mẹ?”

Anh dừng lại với hy vọng bà sẽ lên tiếng. Nhưng mái tóc xám của bà nằm nép hai bên gò má vững chãi thế nào, thì đôi môi mỏng dính của bà cũng bướng bỉnh, bất động hệt như vậy.

“Nếu có thể đền bù cho ai đó, nếu có thể hoàn trả cho ai đó, xin hãy cho con biết và thực hiện. Không, mẹ ơi, nếu trong khả năng của con, hãy để con tự đền bù. Con đã thấy quá ít hạnh phúc đến từ tiền bạc; trong hiểu biết của con, nó mang lại quá ít bình yên cho ngôi nhà này, hay cho bất kỳ ai thuộc về nó, đến mức nó chẳng có giá trị gì với con so với người khác. Nó chẳng thể mua cho con thứ gì ngoài sự tự trách và khổ đau, nếu con cứ bị ám ảnh bởi sự nghi ngờ rằng nó đã làm u tối những giờ phút cuối đời của cha bằng sự hối hận, và rằng nó không thuộc về con một cách trung thực và công bằng.”

Có một sợi dây chuông treo trên bức tường ốp gỗ, cách bàn viết chừng hai ba thước. Bằng một chuyển động chân nhanh và đột ngột, bà đạp mạnh chiếc xe lăn lùi nhanh về phía đó và giật dây chuông dữ dội—tay vẫn giơ lên trong tư thế che đỡ như thể anh sắp đánh bà và bà đang đỡ đòn.

Một cô gái hớt hơ hớt hải chạy vào, vẻ mặt sợ hãi.

“Gọi Flintwinch vào đây!”

Chỉ trong chớp mắt cô gái đã lui ra, và lão già đã đứng ngay ngưỡng cửa. “Sao thế! Mới đó mà hai người đã thượng cẳng chân hạ cẳng tay rồi à?” lão vừa nói vừa thản nhiên vuốt mặt. “Tôi biết ngay mà. Mới đoán thế xong.”

“Flintwinch!” người mẹ gọi, “nhìn con trai tôi đi. Nhìn nó mà xem!”

“Thì tôi đang nhìn nó đây,” Flintwinch đáp.

Bà duỗi cánh tay vừa dùng để che chắn ra, rồi chỉ tay vào kẻ đang hứng chịu cơn giận của bà.

“Ngay trong giờ phút nó vừa trở về—khi giầy dưới chân còn chưa kịp khô—nó đã bôi nhọ ký ức của cha nó với mẹ nó! Nó bảo mẹ nó cùng với nó làm gián điệp theo dõi mọi giao dịch cả đời của cha nó! Nó nghi ngờ rằng tài sản trên thế gian này mà chúng ta đã vất vả gầy dựng từ sớm đến khuya, bằng sự hao mòn thân xác, lao dịch và hy sinh, chỉ là đồ cướp bóc; và nó hỏi nên trả lại cho ai để đền bù và hoàn trả!”

Dù đang gầm lên giận dữ, giọng bà lại hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát, thậm chí còn thấp hơn giọng nói bình thường. Bà thốt ra từng từ vô cùng rõ ràng.

“Đền bù!” bà nói. “Đúng thế! Mồm miệng nó nói chuyện đền bù sao mà dễ dàng thế, khi vừa trở về từ những chuyến ăn chơi nhảy múa ở xứ người, sống một cuộc đời phù hoa và khoái lạc. Nhưng sao nó không nhìn vào tôi đây này, đang ngồi tù và bị xiềng xích ở chốn này! Tôi chịu đựng không một lời than van, bởi vì đời tôi đã được định sẵn là phải đền bù cho tội lỗi của mình như thế. Đền bù ư! Căn phòng này không có đền bù sao? Suốt mười lăm năm qua ở đây không có đền bù sao?”

Bà luôn tính toán các giao dịch của mình với Đấng Tối Cao như thế đấy, ghi chép tỉ mỉ các khoản có vào sổ, giữ chặt các khoản nợ và đòi hỏi những gì thuộc về mình. Bà chỉ đặc biệt ở chỗ là làm việc đó với một sức mạnh và sự quyết liệt ghê gớm. Hàng ngàn hàng vạn người vẫn làm như thế mỗi ngày, theo những cách thức khác nhau.

“Flintwinch, đưa cuốn sách đó cho tôi!”

Lão già lấy cuốn sách trên bàn đưa cho bà. Bà kẹp hai ngón tay vào giữa các trang sách, khép lại rồi giơ lên trước mặt con trai theo cách đe dọa.

“Thời xửa thời xưa, Arthur ạ, cái thời được ghi lại trong cuốn chú giải này, có những người đạo đức được Chúa kính yêu, những người sẽ nguyền rủa con cái họ vì những lỗi còn nhỏ hơn thế này nhiều: những người sẽ xua đuổi con cái họ, và xua đuổi cả những dân tộc chống lưng cho chúng, để bị Chúa và người đời ruồng bỏ, bị diệt vong cho đến tận đứa trẻ còn bế ngửa. Nhưng tôi chỉ nói với anh rằng, nếu anh còn lặp lại chủ đề đó với tôi một lần nữa, tôi sẽ từ anh; tôi sẽ đuổi anh ra khỏi cánh cửa đó khiến anh thà không có mẹ từ khi còn trong nôi còn hơn. Tôi sẽ không bao giờ nhìn mặt hay nhận anh nữa. Và nếu sau này, anh có bước vào căn phòng tăm tối này để nhìn cái xác chết của tôi, thì cái xác của tôi, nếu có thể, cũng sẽ chảy máu khi anh lại gần.”

Như trút được phần nào gánh nặng nhờ sự tàn khốc của lời đe dọa này, và một phần (dù sự thật này nghe thật quái đản) nhờ sự ấn tượng chung rằng đó là một hành vi mang tính tôn giáo, bà đưa cuốn sách lại cho lão già rồi im lặng.

“Nào,” Jeremiah nói; “tôi xin nói trước là tôi không có ý định đứng ra hòa giải giữa hai người đâu, nhưng liệu tôi có thể hỏi (vì tôi được gọi vào đây như người thứ ba) rốt cuộc chuyện này là thế nào không?”

“Ông cứ nghe bản từ mẹ tôi ấy,” Arthur đáp khi thấy bà nhường lời cho mình. “Thế thôi. Những gì tôi nói, tôi chỉ nói với mẹ tôi.”

“Ồ!” lão già thốt lên. “Từ mẹ anh ư? Lắng nghe từ mẹ anh sao? Được thôi! Nhưng mẹ anh có nhắc đến việc anh nghi ngờ cha mình. Thế là không tròn đạo làm con đâu, cậu Arthur. Rồi tiếp theo cậu sẽ nghi ngờ ai nữa đây?”

“Đủ rồi,” bà Clennam quay mặt đi, chỉ nói riêng với lão già. “Đừng nhắc lại chuyện này nữa.”

“Được rồi, nhưng khoan đã, khoan đã,” lão già kiên trì. “Để xem chúng ta đang ở đâu nào. Bà đã nói với cậu Arthur rằng cậu ấy không được đổ tội lên đầu cha mình chưa? Rằng cậu ấy không có quyền làm thế? Rằng cậu ấy chẳng có căn cứ nào cả?”

“Bây giờ tôi đang nói với nó đây.”

“À! Phải rồi,” lão già nói. “Bây giờ bà mới nói với cậu ấy. Trước đây bà chưa nói, giờ bà mới nói. Đúng rồi! Đúng rồi! Bà biết đấy, tôi đã đứng giữa bà và cha cậu ấy quá lâu rồi, đến mức có vẻ như cái chết chẳng làm thay đổi được gì, tôi vẫn đang đứng ở giữa hai người. Tôi sẽ tiếp tục làm thế, và công bằng mà nói, tôi yêu cầu phải làm rõ điều đó. Arthur, cậu nghe cho rõ đây: cậu không có quyền nghi ngờ cha cậu, và cậu chẳng có căn cứ nào để làm thế cả.”

Lão đặt hai tay vào lưng chiếc xe lăn, vừa lẩm nhẩm trong miệng vừa chậm rãi đẩy bà chủ trở lại bàn viết. “Nào,” lão tiếp tục, đứng sau lưng bà: “ nhỡ đâu tôi có đi đâu mà để dở dang công việc, rồi lúc hai người lại nổi máu lên bàn tiếp nửa còn lại thì sao, Arthur đã nói với bà cậu ấy định làm gì với việc kinh doanh chưa?”

“Nó đã từ bỏ rồi.”

“Chắc là chẳng nhường lại cho ai đâu nhỉ?”

Bà Clennam liếc nhìn con trai đang tựa vào một khung cửa sổ. Anh nhận ra ánh mắt đó và nói: “Cho mẹ tôi, dĩ nhiên rồi. Mẹ muốn làm gì tùy ý.”

“Và nếu có bất kỳ niềm vui nào,” bà nói sau một khoảng lặng ngắn, “có thể vớt vát lại từ sự thất vọng khi đứa con trai đang ở độ tuổi sung sức nhất lại không chịu thổi sức trẻ và sinh lực mới vào cơ nghiệp này để làm cho nó phát đạt và hùng mạnh, thì đó là việc đề bạt một người tôi tớ cũ trung thành. Jeremiah ạ, thuyền trưởng đã bỏ tàu, nhưng ông và tôi sẽ cùng chìm cùng nổi với nó.”

Jeremiah, đôi mắt sáng rực lên như vừa nhìn thấy tiền, phóng một ánh nhìn đột ngột về phía người con trai, như muốn nói: *Tôi chẳng việc gì phải cảm ơn cậu về việc này; cậu chẳng giúp ích được gì đâu!* rồi lão nói với bà chủ rằng lão cảm ơn bà, Affery cảm ơn bà, lão sẽ không bao giờ bỏ rơi bà, và Affery cũng sẽ không bao giờ bỏ rơi bà. Cuối cùng, lão rút chiếc đồng hồ từ sâu trong túi ra và nói: “Mười một giờ rồi. Đến giờ ăn hàu của bà rồi đấy!” và với sự thay đổi chủ đề mà chẳng làm thay đổi chút nét mặt hay thái độ nào, lão nhấn dây chuông.

Nhưng bà Clennam, vì quyết tâm tự khắt khe với bản thân hơn nữa sau khi bị cho là không biết đến sự đền bù, đã từ chối ăn hàu khi được đem lên. Món ăn trông thật hấp dẫn; tám con hàu xếp thành hình tròn trên chiếc đĩa trắng đặt trên khay phủ khăn ăn trắng tinh, bên cạnh là một lát bánh mì Pháp phết bơ và một ly rượu pha nước mát lạnh gọn gàng; nhưng bà cưỡng lại mọi lời thuyết phục và cho đem xuống—nhất định lại ghi hành động này vào mục điểm cộng trong Sổ Bổn Mạng Đời Đời của bà.

Bữa ăn nhẹ bằng hàu này không phải do Affery phục vụ, mà do cô gái xuất hiện khi tiếng chuông vang lên lúc nãy; chính là cô gái đã ở trong căn phòng mờ tối đêm qua. Bây giờ mới có cơ hội quan sát, Arthur nhận ra rằng vóc dáng nhỏ bé, các đường nét nhỏ nhắn và bộ quần áo đơn sơ của cô khiến cô trông trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. Một người phụ nữ có lẽ không dưới hai mươi hai tuổi, nhưng nếu đi trên đường, người ta có thể nhầm cô mới chỉ bằng một nửa tuổi đó. Không phải vì gương mặt cô trẻ măng, bởi thực ra trên đó chứa đựng nhiều sự suy tư và lo âu hơn so với độ tuổi tràn đầy sức sống; nhưng vì cô quá nhỏ bé và nhẹ nhàng, quá lặng lẽ và e ấp, và dường như ý thức được sự lệch lạc của mình giữa ba người người lớn tuổi khắc nghiệt kia, nên cô mang toàn bộ dáng vẻ và thái độ của một đứa trẻ bị áp chế.

Bằng một cách thức khắc nghiệt và thất thường, lúc thì ban phát ơn huệ lúc lại đè nén, như kiểu vừa tưới nước vừa dùng máy ép thủy lực, bà Clennam tỏ ra quan tâm đến cô gái phụ thuộc này. Ngay cả trong khoảnh khắc cô bước vào lúc tiếng chuông giật dữ dội, khi người mẹ dùng hành động kỳ quặc đó để che chắn trước người con trai, đôi mắt bà Clennam đã có một sự nhận biết riêng dành cho cô, dường như chỉ để dành riêng cho cô. Như thể trong thứ kim loại cứng nhất vẫn có những cấp độ cứng khác nhau, và trong chính màu đen cũng có những sắc độ khác nhau, thì ngay cả trong thái độ gay gắt của bà Clennam đối với toàn thể nhân loại và đối với Dorrit Nhỏ, vẫn có một sự phân cấp tinh tế.

Dorrit Nhỏ đi làm thuê việc may vá. Với mức giá bao nhiêu một ngày—hoặc ít đến thế nào—từ tám giờ sáng đến tám giờ tối, người ta có thể thuê Dorrit Nhỏ. Đúng giờ, Dorrit Nhỏ xuất hiện; đúng giờ, Dorrit Nhỏ biến mất. Những gì xảy ra với Dorrit Nhỏ giữa hai mốc tám giờ đó là một ẩn số.

Một hiện tượng đạo đức khác của Dorrit Nhỏ. Ngoài tiền công, hợp đồng hàng ngày của cô bao gồm cả các bữa ăn. Cô có một sự ghê tởm kỳ lạ đối với việc ăn uống cùng người khác; cô sẽ không bao giờ làm thế nếu có thể trốn thoát. Cô luôn lấy lý do rằng mình phải bắt đầu làm mảnh việc này trước, hoặc phải hoàn thành mảnh việc kia trước; và chắc chắn cô sẽ bày mưu tính kế—chẳng ma mãnh lắm, vì chẳng lừa được ai—để được ăn một mình. Khi thành công trong việc này, cô hạnh phúc ôm cái đĩa của mình đi bất cứ đâu, dùng đùi làm bàn, hoặc một chiếc hộp, hoặc mặt đất, thậm chí người ta còn cho rằng cô đứng nhón chân ăn ngấu nghiến bên cạnh kệ lò sưởi; mối lo lớn nhất trong ngày của Dorrit Nhỏ thế là được trút bỏ.

Thật không dễ để nhìn rõ gương mặt của Dorrit Nhỏ; cô quá khép kín, miệt mài với cây kim trong những góc khuất xa xôi, và giật mình sợ hãi nếu vô tình gặp ai đó trên cầu thang. Nhưng đó dường như là một gương mặt tái nhạt trong suốt, biểu cảm nhanh nhạy, dù các đường nét không đẹp, ngoại trừ đôi mắt màu hạt dẻ mềm mại. Một cái đầu hơi cúi xuống tinh tế, một vóc dáng nhỏ nhắn, một đôi tay nhỏ nhắn nhanh nhẹn bận rộn, và một bộ quần áo tàn tươm—phải tàn tươm lắm mới trông như thế, vì nó rất gọn gàng—đó chính là Dorrit Nhỏ khi cô ngồi làm việc.

Về những chi tiết cụ thể hay tổng quát liên quan đến Dorrit Nhỏ, anh Arthur trong ngày hôm đó đã phải nhờ vào đôi mắt của chính mình và cái lưỡi của bà Affery. Nếu bà Affery có ý chí hay cách thức riêng của mình, có lẽ bà đã không có cảm tình với Dorrit Nhỏ. Nhưng vì “hai kẻ khôn ngoan đó”—cụm từ bà Affery luôn dùng để nhắc đến hai người kia, những kẻ đã nuốt chửng cá tính của bà—đã đồng ý chấp nhận Dorrit Nhỏ như một lẽ tự nhiên, bà chẳng còn cách nào khác là làm theo. Tương tự như vậy, nếu hai kẻ khôn ngoan đó đồng ý sát hại Dorrit Nhỏ dưới ánh nến, thì bà Affery, nếu được yêu cầu cầm nến, chắc chắn cũng sẽ làm.

Trong những khoảng thời gian nghỉ giữa việc quay chim đa đa cho phòng người bệnh và chuẩn bị đĩa thịt bò nướng bánh đúc cho phòng ăn, bà Affery đã cung cấp những thông tin kể trên; lần nào cũng thò đầu vào cửa lần nữa sau khi đã rút ra, để thúc giục sự chống đối lại hai kẻ khôn ngoan. Việc xúi giục đứa con trai duy nhất chống lại họ dường như đã trở thành một niềm đam mê mãnh liệt của bà Flintwinch.

Trong ngày hôm đó, Arthur cũng đi kiểm tra toàn bộ ngôi nhà. Anh thấy nó thật u ám và tăm tối. Những căn phòng ảm đạm, bị bỏ hoang nhiều năm trời, dường như đã chìm vào một sự u mê u tối mà không gì có thể đánh thức chúng dậy được nữa. Đồ đạc vừa xơ xác vừa kềnh càng, giống như trốn chui trốn lủi trong các phòng hơn là trang trí cho chúng, và chẳng có chút màu sắc nào trong khắp ngôi nhà; thứ màu sắc từng có ở đó từ lâu đã biến mất theo những tia nắng thất lạc—có lẽ đã bị hấp thụ vào hoa cỏ, bươm bướm, bộ lông chim chóc, đá quý, hay bất cứ thứ gì khác. Chẳng có lấy một sàn nhà nào bằng phẳng từ móng cho đến mái; trần nhà bị khói và bụi làm cho mù mạt một cách kỳ dị, đến mức mấy bà lão bói toán có thể nhìn vào đó mà đoán vận mệnh còn tốt hơn nhìn vào bã trà; những bếp lửa lạnh ngắt chẳng cho thấy dấu vết nào của việc từng được làm ấm ngoại trừ những đống muội than rụng xuống từ ống khói, xoáy thành những trận gió lốc mù mịt nhỏ khi cửa mở. Trong căn phòng từng là phòng khách, có một cặp gương gầy còm, với những đoàn người da đen u buồn mang những vòng hoa đen đi quanh khung gương; nhưng ngay cả những hình người này cũng thiếu đầu thiếu chân, và một thần Tình yêu trông như phu đào huyệt đã quay quanh trục của chính nó và bị lộn ngược đầu xuống, còn một con khác thì rơi mất hoàn toàn. Căn phòng mà cha của Arthur Clennam quá cố từng dùng làm văn phòng làm ăn khi anh mới có ký ức đầu tiên, vẫn không thay đổi đến mức có thể tưởng tượng như ông vẫn đang bí mật giữ nó, giống như di vật bằng xương bằng thịt của ông đang giữ căn phòng trên tầng; Jeremiah Flintwinch vẫn đi lại giữa hai người để thương lượng.

Bức tranh của ông, u tối và mờ ả, im lặng một cách tha thiết trên tường, với đôi mắt nhìn chằm chằm vào con trai như từng nhìn khi cõi sống lìa bỏ ông, dường như đang thúc giục anh một cách ghê rợn thực hiện công việc anh đã cố gắng; nhưng về sự nhượng bộ từ phía mẹ anh, giờ đây anh chẳng còn hy vọng gì, và về bất kỳ phương cách nào khác để dập tắt sự nghi ngờ của mình, anh cũng đã từ bỏ hy vọng từ lâu. Dưới hầm tối cũng như trên các phòng ngủ, những vật dụng cũ kỹ mà anh nhớ rõ đã bị thời gian và sự mục nát làm thay đổi, nhưng vẫn nằm nguyên ở vị trí cũ; ngay cả những thùng bia rỗng mốc meo màng nhện, và những chai rượu rỗng với rêu phong và nấm mốc làm tắc nghẽn cổ chai. Ở đó, giữa những giá để chai rượu kỳ lạ và những vệt sáng nhạt từ khoảng sân phía trên chiếu xuống, là phòng chứa két sắt tích trữ những cuốn sổ kế toán cũ, chúng có mùi ẩm mốc và mục nát như thể chúng thường xuyên được cân đối sổ sách vào những giờ mờ sáng tĩnh mịch bởi sự sống dậy hằng đêm của những kế toán viên quá cố.

Món thịt bò nướng bánh đúc được dọn ra một cách ăn ăn hối lỗi trên chiếc khăn bàn co rút ở một đầu bàn ăn, vào lúc hai giờ chiều, khi anh ăn tối cùng ông Flintwinch, người cộng sự mới. Ông Flintwinch thông báo với anh rằng mẹ anh giờ đã lấy lại sự bình tĩnh, và anh không cần phải sợ bà nhắc lại những chuyện đã xảy ra buổi sáng nữa. “Và cậu đừng có đổ tội lên đầu cha cậu nữa, cậu Arthur ạ,” Jeremiah nói thêm, “nói một lần cho xong, đừng làm thế nữa! Giờ thì chúng ta xong chuyện đó rồi.”

Ông Flintwinch đã dọn dẹp và phủi bụi lại căn phòng làm việc nhỏ của riêng mình, như thể để ăn mừng việc lão đạt được phẩm vị mới. Lão tiếp tục công việc này khi đã no nê thịt bò, đã dùng mặt phẳng của con dao hút sạch toàn bộ nước sốt trong đĩa nướng, và đã uống tĩn đời từ một thùng bia nhẹ trong nhà bếp. Được tiếp sức như vậy, lão xắn tay áo sơ mi lên và bắt tay vào việc lại; và Arthur, khi quan sát lão làm việc, thấy rõ ràng rằng bức tranh của cha anh, hay ngôi mộ của cha anh, cũng sẽ cởi mở thông tin với anh hệt như lão già này.

“Này, Affery, chị kia,” ông Flintwinch gọi khi bà đi qua sảnh. “Chị vẫn chưa dọn giường cho cậu Arthur khi tôi lên đó lúc nãy đâu đấy. Nhanh tay lên. Động đậy đi.”

Nhưng Arthur thấy ngôi nhà quá trống trải và u ám, và anh quá đỗi ngần ngại khi phải chứng kiến một vụ đày ải tàn nhẫn khác đối với những kẻ thù của mẹ anh (mà có lẽ có cả chính anh trong đó) vào sự biến dạng thể xác và sự hủy hoại vĩnh viễn, nên anh tuyên bố ý định sẽ trọ tại quán cà phê nơi anh đã để hành lý. Ông Flintwinch tỏ ra vui vẻ với ý định tống khứ anh đi, còn mẹ anh thì hờ hững, ngoại trừ những cân nhắc về việc tiết kiệm, đối với hầu hết các thu xếp trong nhà mà không nằm trong bốn bức tường phòng bà, nên anh dễ dàng đạt được mục đích mà không gây ra xung đột mới. Họ thỏa thuận giờ làm việc hàng ngày, mà mẹ anh, ông Flintwinch và anh sẽ cùng nhau dành ra để kiểm tra sổ sách và giấy tờ cần thiết; và anh rời khỏi ngôi nhà mà anh vừa mới tìm lại được với một trái lòng nặng trĩu.

Nhưng còn Dorrit Nhỏ thì sao?

Giờ làm việc, sau khi đã trừ đi những khoảng thời gian ăn hàu và chim đa đa theo chế độ dưỡng bệnh của người bệnh mà trong lúc đó Clennam tranh thủ đi dạo cho thư thái, là từ mười giờ sáng đến sáu giờ chiều trong khoảng hai tuần. Đôi khi Dorrit Nhỏ bận rộn với cây kim, đôi khi không, đôi khi xuất hiện như một khách xót thương khiêm tốn: đó hẳn là tư cách của cô trong lần anh mới đến. Sự tò mò ban đầu của anh tăng lên mỗi ngày, khi anh rình rập cô, nhìn thấy hoặc không nhìn thấy cô, và đầu óc không ngừng suy đoán về cô. Bị chi phối bởi suy nghĩ chủ đạo của mình, anh thậm chí còn rơi vào thói quen tự thảo luận với chính mình về khả năng cô có liên quan theo cách nào đó với sự việc ấy. Cuối cùng, anh quyết định sẽ theo dõi Dorrit Nhỏ và tìm hiểu thêm về câu chuyện của cô.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 9 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.