Dorrit Bé Nhỏ

Lượt đọc: 302 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Những Người Bạn Đồng Hành

❊ ❊ ❊

“Hôm nay đằng ấy không còn tiếng hò hét om sòm như hôm qua nữa đâu nhỉ, thưa ông?”

“Tôi chẳng nghe thấy gì cả.”

“Thế thì chắc chắn là không có rồi. Mấy cái người này mà đã hò hét thì phải gào lên cho bằng được để người ta nghe thấy mới chịu.”

“Tôi đồ rằng ai gào gạt mà chẳng muốn người khác nghe thấy.”

“Chà! Nhưng dân ở đây lúc nào cũng gào hét. Không gào thì họ chẳng chịu nổi đâu.”

“Ý ông là người dân Marseilles sao?”

“Tôi muốn nói đến người Pháp nói chung cơ. Lúc nào họ cũng thế. Còn về Marseilles thì ai mà chẳng biết cái chốn này. Chính nơi này đã tung ra cái giai điệu nổi loạn nhất từng được sáng tác trên đời. Họ làm sao sống nổi nếu không vừa hô ‘allong’ vừa ‘marshong’ tiến về một cái gì đó—chiến thắng, cái chết, hay địa ngục, hay bất cứ cái quái gì.”

Người nói chuyện, với vẻ hóm hỉnh hèn hèn luôn hiện hữu trên gương mặt, nhìn qua bức tường chắn sóng bằng sự coi thường tột độ dành cho Marseilles; rồi ông đứng cố định vị trí bằng cách thọc hai tay vào túi quần, xóc tiền xu leng keng, và buông một tiếng cười ngắn đầy mỉa mai về phía thành phố.

“Allong với chả marshong. Tôi nghĩ sẽ vẻ vang hơn cho mấy người đấy nếu để người khác được allong và marshong đi làm ăn hợp pháp, thay vì tống họ vào khu cách ly!”

“Mệt mỏi thật đấy,” người kia nói. “Nhưng hôm nay chúng ta sẽ được ra ngoài rồi.”

“Ra ngoài hôm nay!” người thứ nhất nhắc lại. “Được ra ngoài hôm nay lại càng làm tăng thêm cái sự phi lý tày trời này ấy chứ. Ra ngoài! Thế rốt cuộc từ trước đến nay chúng ta bị nhốt vào đây vì cái cớ gì chứ?”

“Phải thú nhận là chẳng có lý do nào đủ thuyết phục cả. Nhưng vì chúng ta tới từ Phương Đông, mà Phương Đông lại là xứ sở của dịch bệnh—”

“Dịch bệnh!” người kia ngắt lời. “Đó chính là niềm uất hận của tôi đấy. Từ lúc tới đây, lúc nào tôi cũng thấy mình như phát bệnh. Tôi giống như một kẻ tỉnh táo bị nhốt trong nhà thương điên; tôi không thể nào chịu nổi cái kiểu bị nghi ngờ này. Tôi đến đây khỏe mạnh như bất kỳ lúc nào trong đời; thế mà nghi ngờ tôi mắc dịch bệnh thì khác nào truyền bệnh cho tôi. Và tôi đã mắc bệnh rồi đấy—tôi đang bị nó hành đây này.”

“Ông chịu đựng giỏi đấy chứ, ông Meagles,” người thứ hai mỉm cười nói.

“Không đâu. Nếu ông biết thực trạng ra sao, đó sẽ là nhận xét cuối cùng ông nghĩ đến đấy. Đêm này qua đêm khác tôi tỉnh giấc và tự bảo, đấy, giờ thì mình mắc bệnh rồi, giờ thì nó phát ra rồi, giờ thì mình gánh đủ rồi, giờ thì mấy cái gã kia tha hồ mà đưa ra cớ này cớ nọ để phòng ngừa. Chà, thà tôi bị xiên một cái cọc qua người rồi cắm lên tấm bìa trong bộ sưu tập bọ cánh cứng, còn hơn là sống cái kiểu sống mà tôi đã phải chịu đựng ở đây.”

“Ôi dào, ông Meagles ơi, chuyện qua rồi thì đừng nhắc lại nữa,” một giọng nữ vui vẻ cất lên khuyên lơn.

“Qua rồi!” ông Meagles lặp lại, vẻ mặt (dù không có chút ác ý nào) dường như rơi vào trạng thái tâm lý kỳ quặc mà ở đó, từ cuối cùng bất kỳ ai thốt ra cũng trở thành một xúc phạm mới. “Qua rồi! Và tại sao tôi lại không được nói đến nó nữa chỉ vì nó đã qua?”

Đó là bà Meagles vừa cất lời với ông Meagles; và bà Meagles, cũng giống như ông Meagles, rất tươi tắn và khỏe mạnh, sở hữu một gương mặt Anh quốc phúc hậu đã nhìn ngắm những điều bình dị suốt năm mươi lăm năm qua hoặc hơn, và phản chiếu trọn vẹn sự rạng rỡ của những điều ấy.

“Thôi mà! Thôi đừng bận tâm nữa, Mình ơi, đừng bận tâm nữa!” bà Meagles nói. “Vì Chúa, Mình hãy vui vẻ với Pet đi.”

“Với Pet ư?” ông Meagles nhắc lại bằng giọng điệu hờn dỗi. Tuy nhiên, Pet đang đứng ngay sau lưng ông, khẽ chạm tay lên vai ông, và lập tức ông Meagles tha thứ cho Marseilles từ tận đáy lòng.

Pet chừng hai mươi tuổi. Một cô gái da trắng trẻo với mái tóc màu nâu óng ả xõa tự nhiên thành những lọn xoăn bồng bềnh. Một cô gái đáng yêu với gương mặt bộc bạch và đôi mắt tuyệt đẹp; đôi mắt ấy thật to, thật mềm mại, thật sáng ngời, được đặt một cách hoàn hảo trên chiếc đầu xinh xắn, nhân hậu của cô. Cô tròn trịa, tươi trẻ, có má núm đồng tiền và được cưng chiều; ở Pet toát lên một vẻ e ấp, phụ thuộc—cái điểm yếu đáng yêu nhất trên đời, mang lại cho cô sức quyến rũ vương giả duy nhất mà một cô gái đẹp đẽ và dễ thương như thế có thể thiếu.

“Bây giờ, tôi hỏi ông,” ông Meagles bộc bạch với sự tin cậy êm ái nhất, tự lùi lại một bước và đẩy con gái tiến lên một bước để minh họa cho câu hỏi của mình: “Tôi chỉ muốn hỏi ông, giữa những người đàn ông với nhau thôi, ông ĐÃ BAO GIỜ nghe thấy cái chuyện vô lý vô cớ nào như việc tống Pet vào khu cách ly chưa?”

“Nhưng việc đó ít ra cũng mang lại một kết quả: khiến cho ngay cả thời gian cách ly cũng trở nên dễ chịu.”

“Thôi nào!” ông Meagles nói, “chắc chắn đó là một điều an ủi. Tôi rất cảm ơn ông vì nhận xét đó. Nào, Pet con cưng, con nên đi cùng Mẹ để chuẩn bị lên thuyền đi là vừa. Viên chức y tế và đủ loại gã bịp bợm đội mũ ba sừng đang ra đây để thả chúng ta ra khỏi cái chốn này đây; và tất cả lũ tù nhân chúng ta sẽ lại cùng nhau ăn sáng theo phong cách của những người Cơ Đốc giáo, trước khi tung cánh bay về những phương trời khác nhau. Tattycoram, bám sát lấy tiểu thư trẻ của cô đấy nhé.”

Ông nói với một cô gái xinh đẹp có mái tóc và đôi mắt đen tuyền óng ả, ăn mặc rất gọn gàng; cô gái khẽ nhún người nhún gối chào rồi đi theo sau bà Meagles và Pet. Cả ba người cùng nhau bước qua khoảng sân hiên trống trải, nắng cháy, rồi biến mất sau một vòm cửa màu trắng lóa. Người đồng hành của ông Meagles, một người đàn ông trầm lặng, trầm ngâm chừng bốn mươi tuổi, vẫn đứng nhìn về phía vòm cửa ấy sau khi họ đã đi khỏi; cho đến khi ông Meagles vỗ nhẹ vào tay ông.

“Xin lỗi ông,” ông ấy giật mình nói.

“Không sao, không sao cả,” ông Meagles đáp.

Họ lặng lẽ đi qua đi lại một lượt dưới bóng râm của bức tường, tận hưởng làn gió biển mát lành hiếm hoi lúc bảy giờ sáng ở độ cao nơi đặt dãy trại cách ly. Người đồng hành của ông Meagles tiếp tục cuộc trò chuyện.

“Tôi có thể hỏi ông,” ông nói, “tên của—”

“Tattycoram ư?” ông Meagles xen vào. “Tôi chẳng có chút manh mối nào cả.”

“Tôi lại nghĩ,” người kia nói, “rằng—”

“Tattycoram?” ông Meagles lại gợi ý.

“Cảm ơn ông—tôi tưởng Tattycoram là một cái tên; và tôi đã vài lần băn khoăn về sự kỳ lạ của nó.”

“Chà, thực ra là thế này,” ông Meagles nói, “như ông thấy đấy, bà Meagles và tôi là những người thực tế.”

“Điều đó ông đã nhắc tới nhiều lần trong những cuộc trò chuyện thú vị và bổ ích mà chúng ta đã có với nhau khi sải bước trên những khoảng sân đá này,” người kia nói, một nụ cười thoáng hiện trên gương mặt trầm ngâm, sạm nắng của ông.

“Những người thực tế. Thế nên một ngày nọ, cách đây chừng năm hay sáu năm, khi chúng tôi đưa Pet đến nhà thờ ở Bệnh viện Trẻ mồ côi—ông đã nghe nói về Bệnh viện Trẻ mồ côi ở London chưa? Giống như Viện Trẻ bỏ rơi ở Paris ấy?”

“Tôi có thấy rồi.”

“Chà! Một ngày nọ, khi chúng tôi đưa Pet đến nhà thờ ở đó để nghe nhạc—vì là những người thực tế, nhiệm vụ cả đời chúng tôi là cho con bé thấy tất cả những gì chúng tôi nghĩ có thể làm nó vui—Mẹ (tên tôi hay gọi bà Meagles) bắt đầu khóc nức nở đến mức phải đưa bà ấy ra ngoài. ‘Có chuyện gì thế, Mẹ?’ tôi hỏi khi đã giúp bà ấy tĩnh trí lại một chút: ‘Mình làm Pet sợ đấy, em yêu.’ ‘Em biết chứ, Bổn mạng ơi,’ Mẹ nói, ‘nhưng em nghĩ chính vì em yêu con bé quá nên suy nghĩ đó mới nảy ra trong đầu em.’ ‘Suy nghĩ gì nảy ra trong đầu Mẹ cơ?’ ‘Ôi chao!’ Mẹ lại bật khóc, ‘khi em nhìn tất cả những đứa trẻ đó xếp thành từng tầng từng tầng, hướng lời cầu xin từ người cha mà không đứa nào từng biết trên đời này đến Người Cha vĩ đại của tất cả chúng ta trên Thiên đàng, em lại nghĩ, liệu có người mẹ tội nghiệp nào từng đến đây, nhìn vào những gương mặt thơ dại đó và băn khoăn không biết đứa trẻ đáng thương nào là đứa mình đã sinh ra trong thế giới cô quạnh này, để rồi suốt đời nó chẳng bao giờ biết đến tình yêu, nụ hôn, gương mặt, giọng nói, hay thậm chí cả cái tên của mẹ!’. Đó, chính cái suy nghĩ ấy ở Mẹ mới thật là thực tế, và tôi đã bảo bà ấy như vậy. Tôi nói: ‘Mẹ ơi, đó chính là điều tôi gọi là tính thực tế ở Mẹ đấy, em yêu ạ.’”

Người kia, không khỏi xúc động, gật đầu đồng tình.

“Thế là hôm sau tôi bảo: Này Mẹ, tôi có đề nghị này chắc Mẹ sẽ ưng đấy. Chúng ta hãy nhận một trong những đứa trẻ đó về làm đứa tớ nhỏ cho Pet. Chúng ta là những người thực tế. Thế nên nếu chúng ta thấy tính nết nó có đôi chút tì vết, hoặc cách sống của nó có đôi chút khác biệt với chúng ta, chúng ta sẽ biết rõ mình cần phải cảm thông cho điều gì. Chúng ta sẽ biết phải trừ đi biết bao nhiêu ảnh hưởng và trải nghiệm đã tạo nên chúng ta—không cha mẹ, không anh chị em ruột thịt, không có cá tính gia đình, không có Đôi hài thủy tinh, cũng chẳng có Bà tiên ban phép. Và đó là cách chúng tôi có được Tattycoram.”

“Còn cái tên của cô bé—”

“Ơ kìa!” ông Meagles thốt lên, “tôi lại quên mất cái tên rồi. Chà, ở Viện người ta gọi nó là Harriet Beadle—mọt cái tên áp đặt, dĩ nhiên rồi. Này nhé, Harriet thì chúng tôi đổi thành Hattey, rồi thành Tatty, bởi vì, là những người thực tế, chúng tôi nghĩ ngay cả một cái tên âu ếm vui tươi cũng có thể là một điều mới mẻ đối với nó, và có thể mang lại hiệu ứng dịu dàng, trìu mến, ông hiểu không? Còn về cái họ Beadle, tôi chẳng cần phải nói thì ông cũng biết là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Nếu có thứ gì đó không thể dung thứ bằng bất cứ giá nào, thứ gì đó đại diện cho sự hống hách và lố bịch của kẻ cậy quyền, thứ gì đó diện áo chẽn, áo giáp và gậy gộc đại diện cho sự bấu víu của người Anh chúng tôi vào những điều nhảm nhí ngay cả khi ai ai cũng đã nhận ra, thì đó chính là gã xô-lai (beadle). Dạo này ông có thấy gã xô-lai nào không?”

“Là một người Anh đã ở Trung Quốc hơn hai mươi năm, thì tôi chưa thấy.”

“Thế thì,” ông Meagles nói, đặt ngón tay trỏ lên ngực người đồng hành với sự sôi nổi lớn, “đừng có nhìn gã xô-lai nào nếu ông có thể tránh được nhé. Mỗi khi tôi thấy một gã xô-lai ăn bận chỉnh tề đi xuống phố vào Chủ nhật, dẫn đầu một trường từ thiện, tôi bắt buộc phải quay đi và chạy mất, nếu không tôi sẽ đấm gã mất. Cái tên Beadle là không thể dùng được rồi, mà người sáng lập Viện Trẻ mồ côi đó lại là một linh hồn phước hạnh tên là Coram, nên chúng tôi lấy tên đó đặt cho người tớ nhỏ của Pet. Có lúc nó là Tatty, có lúc nó là Coram, cho đến khi chúng tôi quen miệng trộn hai cái tên lại với nhau, và giờ thì nó luôn là Tattycoram.”

“Con gái ông,” người kia nói, sau khi họ lại lặng lẽ đi qua đi lại một lượt nữa và dừng lại một lúc bên bức tường nhìn xuống biển trước khi tiếp tục bước đi, “là đứa con duy nhất của ông, tôi biết điều đó, ông Meagles. Tôi có thể hỏi ông—không phải vì tò mò tò tọc gì đâu, mà vì tôi quá đỗi vui mừng khi được trò chuyện cùng ông, và có thể trong thế giới mê lộ này tôi sẽ không bao giờ được trò chuyện bình yên với ông lần nào nữa, nên tôi muốn lưu giữ một ký ức chính xác về ông và gia đình ông—tôi có thể hỏi ông, liệu có phải tôi đã nghe từ người vợ tốt lành của ông rằng ông bà từng có những đứa con khác không?”

“Không. Không,” ông Meagles nói. “Không hẳn là những đứa con khác. Một đứa con khác thôi.”

“Tôi sợ rằng mình đã vô tình chạm vào một niềm đau.”

“Không sao đâu,” ông Meagles nói. “Dù tôi có trầm ngâm về chuyện đó, tôi cũng không hề đau buồn. Nó làm tôi lắng lại một chút, chứ không làm tôi khổ sở. Pet có một người chị em sinh đôi đã qua đời khi chúng tôi mới chỉ vừa nhìn thấy đôi mắt nó—giống hệt mắt của Pet—nhô lên khỏi mặt bàn khi con bé kiễng chân bấu vào đó.”

“Ôi! Ra là thế, ra là thế!”

“Vâng, và vì là những người thực tế, một kết quả đã dần dần nảy sinh trong tâm trí của bà Meagles và tôi mà có thể ông hiểu—hoặc có thể ông không hiểu. Pet và người chị em bé nhỏ của nó giống nhau đến từng chi tiết, và hòa làm một hoàn toàn đến mức trong suy nghĩ của mình, chúng tôi chưa bao giờ tách biệt hai đứa ra kể từ đó. Thật vô ích nếu bảo chúng tôi rằng đứa con đã mất của chúng tôi chỉ là một đứa trẻ sơ sinh. Chúng tôi đã thay đổi đứa trẻ đó theo những thay đổi của đứa con được gìn giữ bên mình và luôn ở cùng chúng tôi. Khi Pet lớn lên, đứa trẻ đó cũng lớn lên; khi Pet trở nên chín chắn và dịu dàng hơn, người chị em của nó cũng trở nên chín chắn và dịu dàng hơn theo đúng từng cấp độ đó. Thật khó mà thuyết phục tôi rằng nếu ngày mai tôi bước sang thế giới bên kia, nhờ lòng thương hại của Chúa, tôi sẽ không được đón nhận ở đó bởi một đứa con gái giống hệt Pet, cũng khó như việc thuyết phục tôi rằng bản thân Pet không phải là một thực thể đang ở bên cạnh tôi lúc này.”

“Tôi hiểu ông,” người kia nhẹ nhàng nói.

“Còn đối với nó,” người cha tiếp tục, “việc mất đi hình bóng và người bạn chơi đùa bé nhỏ một cách đột ngột, cùng với sự gắn bó từ sớm của nó với bí ẩn mà tất cả chúng ta đều chia sẻ bình đẳng, nhưng không mấy khi được diễn tả một cách mạnh mẽ đến thế trước một đứa trẻ, tất yếu đã có ảnh hưởng nhất định đến tính cách của nó. Lại nữa, mẹ nó và tôi không còn trẻ khi kết hôn, và Pet luôn có một kiểu cuộc sống của người lớn bên chúng tôi, mặc dù chúng tôi đã cố gắng thích nghi với nó. Chúng tôi đã được khuyên nhiều hơn một lần khi con bé hơi đau ốm, rằng nên thay đổi khí hậu và không khí cho nó càng thường xuyên càng tốt—đặc biệt là vào khoảng thời gian này của đời nó—và giữ cho nó luôn được vui vẻ. Vì vậy, vì tôi không cần phải dính chặt lấy bàn làm việc ở ngân hàng nữa (mặc dù tôi đã từng đủ nghèo trong thời của mình, tôi đảm bảo với ông, nếu không tôi đã cưới bà Meagles từ lâu trước đó), chúng tôi đi rong ruổi khắp thế giới. Đó là lý do tại sao ông thấy chúng tôi đang ngơ ngác nhìn Sông Nile, và các Kim Tự Tháp, và các Nhân Sư, và Sa mạc, và tất cả những thứ còn lại; và đó là lý do tại sao Tattycoram sẽ trở thành một kẻ lữ hành vĩ đại hơn cả Thuyền trưởng Cook theo thời gian.”

“Tôi cảm ơn ông,” người kia nói, “rất chân thành vì sự tin tưởng của ông.”

“Đừng bận tâm,” ông Meagles đáp, “Tôi chắc chắn là ông hoàn toàn tự nhiên. Và bây giờ, ông Clennam, có lẽ tôi có thể hỏi ông liệu ông đã quyết định đi đâu tiếp theo chưa?”

“Quả thực là chưa. Tôi là một kẻ tha phương trôi dạt khắp nơi, đến mức tôi dễ dàng bị cuốn theo bất kỳ dòng chảy nào.”

“Thật kỳ lạ đối với tôi—nếu ông thứ lỗi cho sự tự do của tôi khi nói như vậy—rằng ông không đi thẳng đến London,” ông Meagles nói, với giọng điệu của một cố vấn tin cậy.

“Có lẽ tôi sẽ đi.”

“Ừ! Nhưng ý tôi là đi với một quyết tâm cơ.”

“Tôi không có quyết tâm nào cả. Nghĩa là,”—ông hơi ửng đỏ,—“gần như chẳng có chút quyết tâm nào mà tôi có thể đưa vào hành động lúc này. Được huấn luyện bằng bạo lực; bị bẻ gãy chứ không phải bẻ cong; bị xiềng xích nặng nề vì một mục đích mà tôi chưa bao giờ được tham vấn và chưa bao giờ là của tôi; bị đẩy sang bên kia thế giới trước khi tôi trưởng thành, và bị lưu tày ở đó cho đến khi cha tôi qua đời ở đó một năm trước; lúc nào cũng phải nghiền ngẫm trong một cối xay mà tôi luôn căm ghét; người ta có thể trông chờ gì ở tôi ở độ tuổi trung niên này? Quyết tâm, mục đích, hy vọng ư? Tất cả những ngọn đèn đó đã bị dập tắt trước khi tôi kịp phát âm ra những từ đó.”

“Thắp chúng lên lại đi!” ông Meagles nói.

“Ôi! Nói thì dễ lắm. Tôi là con trai, ông Meagles ạ, của một người cha và người mẹ khắc nghiệt. Tôi là đứa con duy nhất của những phụ huynh luôn đong, đếm và định giá mọi thứ; đối với họ, những gì không thể đong, đếm và định giá thì không hề tồn tại. Họ là những người nghiêm khắc theo đúng nghĩa đen, những người thực hành một tôn giáo nghiệt ngã; bản thân tôn giáo của họ là một sự hy sinh u uất những sở thích và sự cảm thông chưa bao giờ là của chính họ, được dâng lên như một phần của bản hợp đồng để bảo vệ tài sản của họ. Những gương mặt khắc khổ, kỷ luật không lay chuyển, sự sám hối ở thế giới này và sự kinh hoàng ở thế giới bên kia—chẳng có gì duyên dáng hay dịu dàng ở bất cứ đâu, và sự trống rỗng trong trái tim bị khuất phục của tôi ở khắp mọi nơi—đó là tuổi thơ của tôi, nếu tôi có thể lạm dụng từ này để áp dụng cho một khởi đầu cuộc đời như thế.”

“Thật vậy sao?” ông Meagles nói, cảm thấy rất khó chịu trước bức tranh được vẽ ra trong tưởng tượng của mình. “Đó là một sự khởi đầu gay go đấy. Nhưng thôi nào! Bây giờ ông phải học hỏi và thu lợi từ tất cả những gì nằm ngoài nó, như một người thực tế.”

“Nếu những người thường được gọi là thực tế cũng thực tế theo hướng của ông—”

“Ồ, họ đúng là như thế mà!” ông Meagles nói.

“Họ đúng là như thế sao?”

“Chà, tôi đoán vậy,” ông Meagles đáp, suy nghĩ về điều đó. “Hả? Người ta chỉ có thể thực tế thôi, và bà Meagles cùng tôi chẳng là gì khác ngoài điều đó.”

“Con đường chưa biết của tôi như vậy là dễ dàng hơn và tràn đầy hy vọng hơn tôi mong đợi rồi,” Clennam vừa lắc đầu vừa nở nụ cười trầm ngâm. “Thôi đủ về tôi rồi. Thuyền đến rồi kìa.”

Chiếc thuyền đầy những chiếc mũ ba sừng mà ông Meagles vốn có sự phản đối mang tính dân tộc; và những người đội những chiếc mũ ba sừng đó lên bờ và bước lên các bậc thang, và tất cả những người lữ hành bị giam giữ tụ tập lại với nhau. Sau đó là một sự xuất hiện ồ ạt của các loại giấy tờ từ phía những chiếc mũ ba sừng, và việc điểm danh các cái tên, cùng một công việc to lớn là ký tên, đóng dấu, dán tem, tra mực và rắc cát, với những kết quả cực kỳ mờ nhòe, sạn cát và không thể đọc được. Cuối cùng, mọi thứ đều được thực hiện theo đúng quy tắc, và những người lữ hành được tự do ra đi bất cứ nơi nào họ muốn.

Họ chẳng bận tâm mấy đến những ánh nhìn chằm chằm và cái nắng chói chang, trong niềm vui mới phục hồi sự tự do của mình, mà lướt qua cảng trên những chiếc thuyền rực rỡ, và tập hợp lại tại một khách sạn lớn, nơi ánh nắng mặt trời bị loại bỏ bởi các cánh cửa chớp đóng kín, và nơi những khoảng sàn lát đá trần trụi, trần nhà cao vút, và những hành lang vang vọng làm dịu đi cái nóng gay gắt. Ở đó, một chiếc bàn lớn trong một căn phòng lớn sớm được bày bạt ngàn một bữa ăn tuyệt vời; và khu cách ly trở nên thực sự trống trải, được nhớ đến giữa những món ăn tinh tế, trái cây phương nam, rượu ướp lạnh, hoa từ Genoa, tuyết từ đỉnh núi, và tất cả các màu sắc của cầu vồng lấp lánh trong gương.

“Nhưng tôi chẳng có ý xấu gì với những bức tường đơn điệu đó nữa,” ông Meagles nói. “Người ta luôn bắt đầu tha thứ cho một nơi chốn ngay khi nó được để lại phía sau; tôi cá là một người tù bắt đầu mủi lòng đối với nhà tù của mình, sau khi anh ta được thả ra.”

Họ có khoảng ba mươi người trong đoàn, và tất cả đều đang trò chuyện; nhưng tất yếu là theo từng nhóm. Cha và Mẹ Meagles ngồi với con gái của họ ở giữa, ba người cuối cùng ở một bên bàn: ở phía đối diện ngồi ông Clennam; một quý ông người Pháp cao lớn với mái tóc và râu đen tuyền, có vẻ ngoài sạm đen và đáng sợ, nếu không muốn nói là mang dáng dấp quỷ quái một cách quý phái, nhưng lại tỏ ra là người dịu dàng nhất trong số những người đàn ông; và một phụ nữ trẻ người Anh xinh đẹp, du lịch hoàn toàn một mình, người có một gương mặt kiêu hãnh, quan sát, và đã tự rút lui khỏi những người còn lại hoặc bị những người còn lại tránh né—chẳng ai, ngoại trừ chính cô ấy có lẽ, có thể quyết định chắc chắn là cái nào. Phần còn lại của bữa tiệc gồm những thành phần thông thường: những người lữ hành vì công việc, và những người lữ hành vì niềm vui; các sĩ quan từ Ấn Độ nghỉ phép; thương nhân trong ngành thương mại Lạp Sát và Thổ Nhĩ Kỳ; một người chồng người Anh làm mục sư trong chiếc áo gile gắt gao khiêm tốn, đang trong chuyến đi tuần trăng mật với người vợ trẻ của mình; một người mẹ và người cha người Anh uy nghi, thuộc tầng lớp quý tộc, với một gia đình gồm ba cô con gái đang tuổi trưởng thành, những người đang giữ một cuốn nhật ký để làm bối rối những sinh linh đồng loại của họ; và một người mẹ người Anh già bị điếc, dạn dĩ trong du lịch, với một cô con gái thực sự đã trưởng thành một cách quyết liệt, cô con gái này đi phác họa khắp vũ trụ với kỳ vọng cuối cùng sẽ điều chỉnh mình vào trạng thái hôn nhân.

Người phụ nữ Anh dè dặt đã bắt lấy nhận xét cuối cùng của ông Meagles.

“Ý ông là một người tù tha thứ cho nhà tù của mình sao?” cô nói, chậm rãi và nhấn mạnh.

“Đó là sự suy đoán của tôi, cô Wade. Tôi không dám phán đoán chắc chắn một người tù có thể cảm thấy thế nào. Tôi chưa từng làm tù nhân bao giờ.”

“Tiểu thư nghi ngờ,” vị quý ông người Pháp nói bằng ngôn ngữ của mình, “việc dễ dàng tha thứ đến thế sao?”

“Tôi nghi ngờ.”

Pet phải dịch đoạn này cho ông Meagles, người chưa bao giờ tình cờ tiếp thu được bất kỳ kiến thức nào về ngôn ngữ của bất kỳ quốc gia nào mà ông du lịch đến. “Ồ!” ông nói. “Chà chà! Nhưng thật là đáng tiếc, phải không?”

“Rằng tôi không dễ tin sao?” cô Wade nói.

“Không hẳn là vậy. Hãy đặt nó theo cách khác. Rằng cô không thể tin rằng thật dễ dàng để tha thứ.”

“Kinh nghiệm của tôi,” cô lặng lẽ đáp lại, “đã sửa chữa niềm tin của tôi về nhiều mặt, trong nhiều năm qua. Đó là sự tiến triển tự nhiên của chúng ta, tôi nghe nói vậy.”

“Thôi được, thôi được! Nhưng tôi hy vọng mang lòng oán hận không phải là điều tự nhiên chứ?” ông Meagles vui vẻ nói.

“Nếu tôi bị nhốt ở bất kỳ nơi nào để mòn mỏi và chịu đựng, tôi sẽ luôn ghét nơi đó và muốn đốt trụi nó, hoặc san bằng nó với mặt đất. Tôi chỉ biết có thế.”

“Mạnh mẽ đấy chứ, thưa ông?” ông Meagles nói với người Pháp; đó là một thói quen khác của ông khi xưng hô với các cá nhân thuộc mọi quốc gia bằng tiếng Anh thành ngữ, với một niềm tin hoàn hảo rằng họ phải hiểu nó bằng cách nào đó. “Khá là mạnh mẽ ở người bạn xinh đẹp của chúng ta, ông sẽ đồng ý với tôi, tôi nghĩ vậy?”

Vị quý ông người Pháp lịch sự đáp lại: “Pardon?” Để rồi ông Meagles đáp lại với nhiều sự hài lòng: “Ông nói đúng. Đó là ý kiến của tôi.”

Bữa sáng bắt đầu uể uả dần, ông Meagles có một bài phát biểu với mọi người. Nó đủ ngắn và đủ hợp lý, xét đến việc đó là một bài phát biểu, và nồng nhiệt. Nó chỉ đơn giản mang lại hiệu ứng rằng vì tất cả họ đã được đưa đến với nhau bởi sự tình cờ, và đều giữ được một sự hiểu biết tốt đẹp với nhau, và giờ đây sắp phân tán, và không có khả năng bao giờ lại thấy tất cả cùng nhau nữa, họ còn có thể làm gì tốt hơn là chào tạm biệt nhau, và chúc nhau may mắn trong một ly sâm panh mát lạnh đồng loạt xung quanh bàn? Điều đó đã được thực hiện, và với một sự bắt tay chung, cuộc hội ngộ đã tan rã mãi mãi.

Người thiếu nữ cô đơn suốt thời gian này không nói thêm lời nào. Cô đứng dậy cùng những người còn lại, và lặng lẽ rút lui về một góc xa của căn phòng lớn, nơi cô ngồi trên một chiếc ghế sofa bên cửa sổ, dường như đang theo dõi sự phản chiếu của nước khi nó tạo ra một sự rung rinh màu bạc trên các thanh cửa chớp. Cô ngồi, quay lưng lại với toàn bộ chiều dài của căn phòng, như thể cô cô đơn theo sự lựa chọn kiêu hãnh của chính mình. Tuy nhiên, vẫn khó như bao giờ hết để nói một cách chắc chắn liệu cô tránh né những người còn lại, hay bị tránh né.

Bóng tối nơi cô ngồi, rủ xuống như một tấm che u uất qua trán cô, rất hợp với tính cách vẻ đẹp của cô. Người ta khó có thể nhìn thấy gương mặt, thật tĩnh lặng và khinh bỉ, được tôn lên bởi đôi lông mày đậm cong vút, và những nếp tóc tối màu, mà không băn khoăn xem biểu cảm của nó sẽ ra sao nếu một sự thay đổi diễn ra. Rằng nó có thể mềm mại hơn hoặc mủi lòng, dường như gần như không thể. Rằng nó có thể sâu sắc hơn thành sự tức giận hoặc bất kỳ sự thách thức cực đoan nào, và rằng nó phải thay đổi theo hướng đó khi nó thay đổi chút nào, sẽ là ấn tượng kỳ lạ của nó đối với hầu hết những người quan sát. Nó được trang điểm và cắt tỉa không theo một nghi lễ biểu cảm nào. Mặc dù không phải là một gương mặt cởi mở, không có sự giả tạo nào trong đó. ‘Tôi tự chủ và tự lực; ý kiến của bạn chẳng là gì đối với tôi; tôi không có hứng thú với bạn, không quan tâm gì đến bạn, và nhìn và nghe bạn với sự thờ ơ’—điều này nó nói lên một cách rõ ràng. Nó nói như vậy trong đôi mắt kiêu hãnh, trong cánh mũi phập phồng, trong khuôn miệng đẹp đẽ nhưng khép chặt và thậm chí tàn nhẫn. Che đi hai trong số những kênh biểu cảm đó, và kênh thứ ba vẫn sẽ nói như vậy. Giấu tất cả chúng đi, và chỉ cần sự quay đầu thôi cũng sẽ cho thấy một bản chất không thể khuất phục.

Pet đã tiến lại gần cô (cô đã là chủ đề của nhận xét giữa gia đình cô và ông Clennam, những người hiện là những người duy nhất khác chiếm giữ căn phòng), và đang đứng bên cạnh cô.

“Cô có”—cô quay mắt lại, và Pet ngập ngừng—“mong chờ ai đến gặp cô ở đây không, cô Wade?”

“Tôi ư? Không.”

“Cha đang gửi người đến Poste Restante. Ông có thể có niềm vui nhắn người đưa tin hỏi xem có thư nào cho cô không?”

“Tôi cảm ơn ông ấy, nhưng tôi biết là không thể có thư nào.”

“Chúng tôi e rằng,” Pet nói, ngồi xuống bên cạnh cô, e ấp và nửa dịu dàng, “cô sẽ cảm thấy hoàn toàn bị bỏ rơi khi tất cả chúng tôi đi khỏi.”

“Thật sao!”

“Không phải,” Pet nói, vẻ tạ lỗi và ngượng ngùng trước đôi mắt của cô, “tất nhiên không phải là chúng tôi là bạn đồng hành gì với cô, hoặc chúng tôi đã có thể như vậy, hoặc chúng tôi nghĩ cô muốn điều đó.”

“Tôi đã không có ý định làm cho mọi người hiểu rằng tôi muốn điều đó.”

“Vâng. Tất nhiên rồi. Nhưng—tóm lại là,” Pet nói, rụt rè chạm vào tay cô khi nó nằm bất động trên ghế sofa giữa họ, “cô sẽ không cho phép Cha trao cho cô bất kỳ sự giúp đỡ hay dịch vụ nhỏ nào sao? Ông sẽ rất vui đấy.”

“Rất vui,” ông Meagles nói, tiến lại gần cùng với vợ và Clennam. “Bất cứ điều gì ngoài việc nói ngôn ngữ đó, tôi sẽ rất vui lòng đảm nhận, tôi chắc chắn đấy.”

“Tôi cảm ơn ông,” cô đáp lại, “nhưng các cuộc sắp xếp của tôi đã được thực hiện, và tôi thích đi theo cách riêng của mình theo kiểu riêng của mình.”

“Thật sao?” ông Meagles tự nói với mình, khi ông quan sát cô với một cái nhìn bối rối. “Chà! Đúng là có tính cách trong đó nữa.”

“Tôi không quen lắm với xã hội của các thiếu nữ, và tôi e rằng tôi có thể không thể hiện sự trân trọng đối với điều đó như những người khác có thể. Chúc mọi người một chuyến đi vui vẻ. Tạm biệt!”

Cô sẽ không đưa tay ra, có vẻ như vậy, nhưng ông Meagles đã đưa tay ra ngay trước mặt cô đến mức cô không thể đi qua nó. Cô đặt tay mình vào tay ông, và nó nằm ở đó đúng như nó đã nằm trên ghế sofa.

“Tạm biệt!” ông Meagles nói. “Đây là lời tạm biệt cuối cùng trong danh sách, vì Mẹ và tôi vừa mới nói lời đó với ông Clennam ở đây, và ông ấy chỉ chờ để nói lời đó với Pet. Tạm biệt! Chúng ta có thể không bao giờ gặp lại nhau nữa.”

“Trong hành trình qua cuộc đời, chúng ta sẽ gặp những người đang đến gặp chúng ta, từ nhiều nơi kỳ lạ và bằng nhiều con đường kỳ lạ,” câu trả lời bình thản vang lên; “và những gì được ấn định cho chúng ta làm đối với họ, và những gì được ấn định cho họ làm đối với chúng ta, tất cả sẽ được thực hiện.”

Có một điều gì đó trong cách thốt ra những từ này gây khó chịu cho tai Pet. Nó ám chỉ rằng những gì sắp làm tất yếu là cái ác, và nó khiến cô thì thầm: “Ôi Cha!” và thu mình lại như trẻ con, theo cách được cưng chiều của cô, xích lại gần ông hơn một chút. Điều này không qua mắt người nói.

“Đứa con gái xinh đẹp của ông,” cô nói, “giật mình khi nghĩ đến những điều như vậy. Tuy nhiên,” nhìn thẳng vào cô, “cô có thể chắc chắn rằng có những người đàn ông và phụ nữ đã ở trên đường của họ rồi, những người có việc phải làm với cô, và những người sẽ làm điều đó. Chắc chắn họ sẽ làm điều đó. Họ có thể đang đến hàng trăm, hàng ngàn dặm qua biển ở kia; họ có thể đang ở ngay gần đây lúc này; họ có thể đang đến, dù cô có biết hay có thể làm gì để ngăn cản điều đó hay không, từ những thứ rác rưởi tồi tàn nhất của chính thị trấn này.”

Với lời chào tạm biệt lạnh lùng nhất, và với một biểu cảm mệt mỏi nhất định trên vẻ đẹp của cô khiến nó, mặc dù chưa hẳn ở thời kỳ đỉnh cao, có một vẻ tàn phai, cô rời khỏi căn phòng.

Bây giờ, có nhiều cầu thang và hành lang mà cô phải đi qua khi đi từ phần đó của ngôi nhà rộng lớn đến căn phòng cô đã đảm bảo cho sự chiếm giữ của riêng mình. Khi cô gần như hoàn thành chuyến đi, và đang đi dọc theo hành lang nơi có phòng cô, cô nghe thấy một âm thanh tức giận của sự lẩm bẩm và khóc nức nở. Một cánh cửa đang mở, và bên trong cô nhìn thấy người hầu cận của cô gái cô vừa rời đi; cô tớ gái với cái tên kỳ lạ.

Cô đứng lại, để nhìn cô tớ gái này. Một cô gái lầm lì, nồng nhiệt! Mái tóc đen tuyền phong phú của cô xõa tung quanh mặt, gương mặt cô đỏ bừng và nóng bừng, và khi cô khóc nức nở và giận dữ, cô giật môi mình bằng một bàn tay không thương tiếc.

“Lũ súc sinh ích kỷ!” cô gái nói, khóc nức nở và phập phồng giữa chừng. “Chẳng quan tâm điều gì xảy ra với tôi! Bỏ tôi ở đây đói và khát và mệt mỏi, để chết đói, mặc kệ tôi! Lũ thú vật! Lũ quỷ dữ! Lũ khốn nạn!”

“Cô gái tội nghiệp của tôi, có chuyện gì thế?”

Cô ngước mắt lên đột ngột, với đôi mắt đỏ ngầu, và với hai tay lơ lửng, trong hành động véo cổ mình, vừa mới bị biến dạng với những vết đỏ lớn. “Chẳng liên quan gì đến cô về chuyện có vấn đề gì. Nó chẳng có ý nghĩa gì với bất kỳ ai cả.”

“Ồ có chứ; tôi rất tiếc khi thấy cô như thế này.”

“Cô không tiếc đâu,” cô gái nói. “Cô đang vui thì có. Cô biết là cô vui mà. Tôi chưa bao giờ như thế này ngoại trừ hai lần ở khu cách ly đằng kia; và cả hai lần cô đều tìm thấy tôi. Tôi sợ cô.”

“Sợ tôi ư?”

“Vâng. Cô dường như đến giống như sự tức giận của chính tôi, sự độc ác của chính tôi, sự—bất kể nó là gì—tôi không biết nó là gì. Nhưng tôi bị đối xử tồi tệ, tôi bị đối xử tồi tệ, tôi bị đối xử tồi tệ!” Ở đây những tiếng khóc nức nở và những giọt nước mắt, và bàn tay xé rách, tất cả đều đã bị đình chỉ cùng nhau kể từ sự ngạc nhiên đầu tiên, lại tiếp tục cùng nhau một lần nữa.

Người khách đứng nhìn cô với một nụ cười chú ý kỳ lạ. Thật tuyệt vời khi thấy sự dữ dội của cuộc chiến trong cô gái, và sự đấu tranh thể xác cô tạo ra như thể cô bị xé rách bởi những Con Quỷ thời xưa.

“Tôi trẻ hơn cô ta hai hoặc ba tuổi, thế mà chính tôi lại là người chăm sóc cô ta, như thể tôi đã già, và chính cô ta lại là người luôn được cưng chiều và gọi là Baby! Tôi ghét cái tên đó. Tôi ghét cô ta! Họ làm một kẻ ngốc out của cô ta, họ làm hỏng cô ta. Cô ta chẳng nghĩ đến gì ngoài bản thân mình, cô ta chẳng nghĩ đến tôi nhiều hơn nếu tôi là một gốc cây và một chiếc đá!” Cô gái tiếp tục như vậy.

“Cô phải có sự kiên nhẫn.”

“Tôi sẽ không có sự kiên nhẫn!”

“Nếu họ chăm sóc bản thân mình nhiều, và ít hoặc không chăm sóc cô, cô không được bận tâm đến điều đó.”

“Tôi sẽ bận tâm.”

“Suỵt! Hãy thận trọng hơn. Cô quên mất vị trí phụ thuộc của mình rồi.”

“Tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi sẽ bỏ chạy. Tôi sẽ làm một điều hại gì đó. Tôi sẽ không chịu đựng điều đó; tôi không thể chịu đựng điều đó; tôi sẽ chết nếu tôi cố chịu đựng điều đó!”

Người quan sát đứng với tay đặt trên khuôn ngực của chính mình, nhìn cô gái, như một người bị bệnh ở một bộ phận có thể tò mò theo dõi sự phẫu thuật và trưng bày của một trường hợp tương tự.

Cô gái giận dữ và chiến đấu với tất cả sức mạnh của tuổi trẻ và sự tràn đầy sức sống của cô, cho đến khi từng chút một những lời cảm thán nồng nhiệt của cô trôi đi thành những tiếng lẩm bẩm đứt đoạn như thể cô đang đau đớn. Theo các cấp độ tương ứng, cô chìm xuống một chiếc ghế, sau đó quỳ xuống, sau đó xuống mặt đất bên cạnh chiếc giường, kéo tấm phủ giường theo cô, một nửa để giấu chiếc đầu xấu hổ và mái tóc ướt đẫm của cô trong đó, và một nửa, như có vẻ vậy, để ôm lấy nó, còn hơn là không có gì để đưa vào khuôn ngực ăn ăn ăn ăn của cô.

“Đi đi khỏi tôi, đi đi khỏi tôi! Khi tính khí của tôi đến với tôi, tôi bị điên. Tôi biết tôi có thể giữ nó lại nếu tôi chỉ cố gắng đủ cứng cỏi, và đôi khi tôi cố gắng đủ cứng cỏi, và những lúc khác tôi không và sẽ không. Tôi đã nói gì vậy! Tôi biết khi tôi nói điều đó, tất cả đều là dối trá. Họ nghĩ tôi đang được chăm sóc ở đâu đó, và có tất cả những gì tôi muốn. Họ chẳng là gì ngoài tốt với tôi. Tôi yêu họ tha thiết; không có ai có thể tốt hơn với một sinh linh không biết ơn hơn họ luôn dành cho tôi. Làm ơn, làm ơn đi đi, vì tôi sợ cô. Tôi sợ bản thân mình khi tôi cảm thấy tính khí của mình đang đến, và tôi cũng sợ cô nhiều như vậy. Đi đi khỏi tôi, và để tôi cầu nguyện và khóc cho bản thân tốt hơn!”

Ngày trôi qua; và một lần nữa cái nhìn chằm chằm rộng lớn đã tự nhìn chằm chằm ra ngoài; và đêm nóng bức đã ở trên Marseilles; và qua đó đoàn lữ hành của buổi sáng, tất cả đã phân tán, đi theo những con đường đã định của họ. Và như vậy mãi mãi theo ngày và đêm, dưới ánh mặt trời và dưới các vì sao, leo lên những ngọn đồi bụi bặm và nhẫn nại dọc theo những đồng bằng mệt mỏi, hành trình bằng đường bộ và hành trình bằng đường biển, đến và đi thật kỳ lạ, để gặp gỡ và tác động và phản ứng lẫn nhau, tất cả chúng ta những người lữ hành bồn chồn di chuyển qua chuyến hành hương của cuộc đời.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 9 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.