Thiếu tá Steinglitz rất tiếc rẻ chia tay Weiss như chia tay một lái xe riêng, nhưng cũng chuẩn bị chào mừng một đồng nghiệp mới, nhân viên cục tình báo. Và dù sao hắn cũng coi việc ngăn ngừa trước Weiss là cần thiết:
- Chúng tôi đòi hỏi sự kiện chứ hoàn toàn không phải những kết luận suy tính của anh. Kết luận thì tự chúng tôi sẽ rút ra. Trí nhớ - đó là nghề của người tình báo - hắn với giọng bậc thầy khuyên răn thận trọng: - Đôi khi cần phải có lòng dũng cảm để lộ mình như một kẻ hèn nhát. Nhiệm vụ xâm chiếm thì trao cho những tay dũng cảm, còn phần thưởng thì chỉ những người lãnh đạo trong bộ máy chỉ huy được nhận.
Cho đến nay Steinglitz vẫn chưa nhận được chức vụ chờ đợi từ lâu, và vẫn phải cứ thực hiện các chức năng kiểm tra không rõ ràng như cũ. Hắn luôn luôn nghĩ là mình đã bị bỏ quên rồi.
Chỉ vừa nhìn thấy Weiss ở địa vị mới, Dietrich đã thành thạo báo cho anh biết rằng, trong ban tham mưu có một phiên dịch người Nga tên là Maslov. Nhưng mặc dù tên này là đại tá quân đội Nga hoàng, vẫn cần phải chú ý đến hắn, vì rằng trong một số ít kiều dân Nga trắng có đầu óc dân tộc tỏ vẻ bất mãn trước những thắng lợi của quân đội Đức ở nước Nga.
Trường còn chưa tập trung đủ thành phần chỉ huy, giảng dạy, huấn luyện, hầu hết các phòng ở đều bỏ trống, và Weiss có khả năng chọn cho một phòng tốt nhất, nhưng anh dừng lại ở một trong các phòng tồi tàn nhất, vì anh cho rằng sự khiêm tốn là một cách tự giới thiệu không thừa. Việc lựa chọn và suy nghĩ khác đã ảnh hưởng đến anh. Kế sát căn phòng cuối hành lang này là những căn nhà phụ: nhà kho và nhà bếp bây giờ còn bỏ trống. Thang lên gác thượng cũng ở ngay bên cạnh, và trong trường hợp cần thiết Weiss có thể lợi dụng không những khu vực mà còn cả lối ra dự trữ, anh được lên mái nhà là ổn cả.
Dietrich, để nhằm các mục đích tiếp xúc với học viên vào ngoài giờ hành chính, đã khuyên Weiss thay quân phục bằng thường phục. Hắn nhận xét rằng, một người Đức mặc thường phục biết tiếng Nga sẽ dễ khêu gợi sự cởi mở hơn là một người Đức mặc quân phục của kẻ chiến thắng.
Weiss suy nghĩ mông lung xem cư xử với bọn đồng nghiệp mới của mình ra sao, anh quyết định là ngay phút đầu tiên phải tự đặt mình nếu như không được ngang hàng với chúng thì ít ra cũng phải làm cho chúng cảm thấy anh là một con người có phẩm giá riêng đứng đắn, có đầy đủ nhận thức. Đồng thời phải cho chúng hiểu rằng, anh có những khái niệm rõ ràng về nước Nga và mong muốn bổ sung thêm một cách chắc chắn những hiểu biết của mình để chuyên môn hóa bản thân theo hướng này không phải với tư cách một phiên dịch, mà là ở chỗ hy vọng dần dần sẽ nhận được chức gì đó xứng đáng dưới trướng tỉnh trưởng phát xít, chẳng hạn như thống sứ Moskva.
Anh cũng quyết định rút ra ở tên quý tộc Phổ von Dietrich những kiểu cách và phong cách hành động, lấy chúng làm vũ khí tâm lý. Như sự nhã nhặn một cách lạnh nhạt, lãnh đạm, điêu luyện, biết trong lúc nói chuyện dùng hàng loạt các câu vớ vẩn, hầu như không có ý nghĩa gì, rỗng tuếch, những câu được cả bọn tay sai lẫn bọn quý tộc thích dùng như nhau. Tuy nhiên, đối với bọn quý tộc những câu được dùng như khẩu lệnh tốt giọng của nền giáo dục tốt và cần thiết để giữ kẻ tiếp chuyện trong khoảng cách có lợi.
Nói đúng ra Weiss lo ngại bọn đồng nghiệp hay cởi mở, quen bẻm mép hơn là những tên khô khan ít nói, không thích giao du và đáng nghi ngờ.
Việc giao thiệp với Landsdorff cũng cho Weiss những điều nhất định. Tính hiếu danh đã làm con người này khổ sở. Cũng như bọn nhà nghề xuất sắc khác, những tên gián điệp hoạt động nổi tiếng của Đức. Lão khát khao thảo ra một chiến dịch chưa từng thấy trong lịch sử, bằng nghệ thuật giảo quyệt vượt qua cả các tình báo nổi tiếng nhất. Lão muốn nổi danh trong môi trường hoạt động này, trở thành kẻ săn bắt tâm hồn con người mà mọi người công nhận, làm bản thân hắn trở nên bất diệt, tên tuổi của hắn vĩnh viễn được ghi vào lịch sử các cuộc chiến tranh bí mật.
Tất cả mọi ý định của Landsdorff đều đã nhằm vào chiến dịch này, lão rất tin tưởng vào một ngày nào đó nó sẽ làm lão thành người nổi tiếng. Và, chỉ ban đêm, khi có thể rũ sạch mọi sự bận rộn hàng ngày đến phát chán lên, lão mới cảm thấy mình hạnh phúc, say sưa suy nghĩ tất cả mọi cách, mọi bước thông minh của chiến dịch này trong im lặng về trước chiến thắng đang chờ lão. Ban đêm thì như vậy, còn ban ngày do ý chí của số phận không chính đáng lão đành phải làm cái công việc nhỏ bé. Và, rất tự nhiên thôi, Landsdorff tiếp nhận nhiệm vụ lựa chọn tù nhân cho các thủ đoạn gián điệp, phá hoại rộng lớn như một sĩ quan chiến đấu nhận lệnh về vùng hậu phương xa xôi để đào tạo tân binh.
Mà dù cấp trên có chúc mong điều đó, Landsdorff cũng lấy đâu ra chỗ tung hoành. “Phòng thí nghiệm tâm lý bộ quốc phòng Đức”, “trường tình báo cao cấp” do Himmler lập ra ở Bavaria, “Các khóa nâng cao trình độ nghề nghiệp” ở ngoại ô Berlin, những nơi các gián điệp loại lớn theo từng thời kỳ được đào tạo lại, đó mới là vũ đài hoạt động thích hợp đối với lão, ở những nơi đó lão mới có thể làm nổi bật sự hiểu biết về nghề nghiệp của mình, tài ba của một gián điệp lành nghề nổi tiếng đối với nhiều ngành tình báo thế giới bằng những công trình lao động của mình.
Ở đây thì đành phải làm cái công việc quá thô thiển, không xứng đáng với trình độ lành nghề của lão và hơn nữa lại vô nghĩa lý. Từ lâu Landsdorff đã hiểu rằng, chiến lược dùng các nước châu Âu khác lại hoàn toàn không có cơ sở trong cuộc chiến tranh với nước Nga.
Các nước Châu Âu đó đã bị xâm chiếm hai lần: lúc đầu bị bộ máy gián điệp toàn diện bí mật của Đức bao vây tất cả, kể cả các giới cầm quyền, và chỉ sau đó quân đội mới tập trung lực lượng của mình thành quả đấm thép, chớp nhoáng đánh bại, và dày xéo lên các quốc gia đã bị sự phản bội ăn rữa từ bên trong.
Ở nước Nga thì không có các điều kiện để thực hiện màng lưới gián điệp toàn diện. Gián điệp Đức ở nước Nga đã bị thất bại từ những năm trước chiến tranh và ngay cả lúc bắt đầu chiến tranh. Ấy thế mà hướng này - mặt trận phía Đông lại được coi là chủ yếu trong toàn bộ hệ thống các ngành gián điệp Đức.
Vì không đủ sức thành lập ở đất nước Xô Viết, một cái gì đó tương tự như “cột Năm” nên tình báo Đức bước sang con đường giả mạo và xun xoe, biên soạn các sự kiện khẳng định các ý kiến của Hitler về những mặt yếu của nước Nga. Tin này giúp quốc trưởng đánh tan những kẻ bảo vệ tướng Seeckt từ năm 1920 đã báo trước: “Nếu Đức bắt đầu chiến tranh với Nga thì sẽ là một cuộc chiến tranh không hy vọng”. Mọi chuyện giả dối được sử dụng rộng rãi cả để tuyên truyền nữa, nhưng chúng không cho và không thể cho người ta khái niệm chính xác về lực lượng thực sự của đối phương.
Landsdorff biết tất cả chuyện này, nên đánh giá việc đào tạo hàng loạt gián điệp lấy từ tù binh lên như một biện pháp phụ, không có ý nghĩa quyết định.
Ở nước Nga tất cả đều khác so với các nước châu Âu chiến bại. Hình thành được “cột Năm” trên lãnh thổ các nước đó đã đặt cơ sở trước cho các hoạt động quân sự và xác định được kết quả quân sự. Còn ở đây thì chiến thắng lại hoàn toàn phụ thuộc vào các quân chủng quốc xã.
Vì thế Landsdorff có khuynh hướng đào tạo qua các trường này càng nhiều người càng tốt. Lão định trước một điều là các nhóm phá hoại sẽ không lấy bổ sung thêm dân địa phương. Tức là trong các trường cần đào tạo không phải là kẻ đi tổ chức, mà chỉ là bọn thừa hành, đần độn, ngoan ngoãn phục tùng ý chí những kẻ cử chúng đi. Chúng sẽ ngoan ngoãn phục tùng chỉ vì sợ hãi bị xử tử và khi chạy về với đồng bào mình cũng sợ người Nga không tha tội phản quốc cho chúng.
Von Dietrich không tán thành sự hoài nghi của Landsdorff. Hắn cho rằng, trong số bọn đã được lựa chọn có những kẻ có khả năng trở thành gián điệp lớn, có thể lọt vào được các bộ của chính quyền Xô Viết. Và hắn rất hy vọng rằng Weiss sẽ giúp hắn phát hiện ra bọn này. Vì thế ngược lại thói quen của mình, Dietrich bắt đầu bộc lộ một tình cảm độ lượng với Weiss mà nguyên nhân của nó Weiss cũng phải khó khăn gì không đoán ra được. Thế nhưng tại sao Landsdorff trở nên lạnh nhạt, thờ ơ với anh, Weiss không thể hiểu nổi.
•º•
Hàng ngày, mỗi buổi chiều tối họ được chở đến đây một chuyến, ít khi hai chuyến, thành từng nhóm nhỏ bằng xe tải, thùng xe phủ kín, cửa con chấn song sắt và cửa kính che vải bạt. Bọn SS áp tải họ đến, lặng lẽ, cau có, mặt mày xám xịt như đá cuội. Chúng được lệnh chỉ có quyền bắn những người này trong trường hợp họ định công khai bỏ chạy. Và sau nhiều lần kiểm tra, khi chiếc xe chỉ mới đi vào địa điểm và lính canh phòng ở đây ký nhận mặt người hoặc các giấy tờ về họ, lập tức bọn SS lên đường trở về.
Trước tiên những kẻ được đến đây xin đi vệ sinh. Trên cả con đường, thường rất dài, mà có lệnh không được phép ra khỏi xe lần nào.
Họ không biết được chở đi đâu, và để làm gì. Vì không biết gì cả, nên mắt họ đều tối lại, lo lắng như nhau.
Phần lớn số được chọn lựa đến đây là những kẻ mà sự phản bội của chúng đã được kiểm tra trong các trại. Những kẻ đã tự lộ mình ra như là “trưởng nhà giam”, mật thám, khiêu khích. Ở đây còn chú ý đến cả những tin tức do tù binh tự báo vì bọn này mong muốn tỏ ra mình là kẻ thù không đội trời chung của chính quyền Xô Viết. Trước khi tuyển lựa từng tên trong bọn này trong ban lãnh đạo trường nghiên cứu toàn diện qua hệ thống gián điệp trong trại và ban chỉ huy trại.
Còn nếu kẻ nào đó là dân địa phương vùng bị quân Đức chiếm thì Gestapo kiểm tra theo các giấy tờ đoạt được ở đây và tra hỏi nhân dân địa phương.
Bọn mới đến bị cấm chuyện trò. Tên lính gác súng tiểu liên đeo ngang ngực, tay cầm dùi cui ngồi chính giữa nhà giam và theo dõi nghiêm ngặt để bọn này tuân theo điều kiện im lặng.
Khi đi lập giấy tờ thì bọn này được dẫn đi từng tên một.
Weiss không chỉ thực hiện vai trò người phiên dịch. Dietrich đã trao cho anh nhiệm vụ tra hỏi sơ bộ, khai thác chớp nhoáng, để sau khi phân tích xong sự đúng đắn của những tin tức thu được sẽ có thể hoặc là vạch trần sự giả dối của kẻ được tuyển lựa, hoặc là phát hiện ra sự vô dụng về tâm lý của chúng.
Từ lúc đó trở đi, nỗi lo sợ bị trừng phạt ngay tức khắc nên mỗi tên không được nói họ tên thật của mình cho bất kỳ ai. Thay vào được nhận một bí danh.
- Nào! - Weiss ra lệnh - Nhanh và gọn!
Trong khi tiếp bọn này, nét mặt Weiss thể hiện rõ vẻ “Aryan” lạnh lùng kiêu ngạo và khinh bỉ - mà có thể coi sự thể hiện này như đỉnh cao của nghệ thuật của một nghệ sĩ biểu diễn nét mặt có tài nhất. Mà đúng lần này nó đã truyền được tính cảm chân thật của anh một cách tự nhiên.
Kẻ đứng trước mặt anh đã mất thói quen tự suy nghĩ và vì thế im lặng. Mồ hôi toát ra trên chiếc môi dầy và dài của hắn, phần hói giữa đỉnh đầu cũng lấm tấm mồ hôi Weiss khẳng định hỏi:
- Tức là “Hói”?
Tên này cũng vẫn lặng lẽ như trước gật đầu đáp đúng.
Weiss quay sang tên thư ký:
- Hãy ghi tên “Hói” vào - và anh sung sướng nghĩ thầm: “Một loại tốt đây, lại có cả cái bí danh lộ liễu nữa!”.
Ngay từ lúc đầu Weiss đã quyết định, để tiến hành công tác sau này phải đặt bí danh theo đặc điểm của bọn học viên. Và trong nhiều trường hợp anh làm được điều này.
Tên Hói được ngồi xuống chiếc ghế đẩu ngay trước tấm khăn vải trắng treo trên tường, và tên lính của Cục tình báo phòng “G” chĩa máy ảnh “Leica” chụp chính diện, rồi chụp nghiêng - như vẫn chụp ảnh trong nhà tù.
Weiss chăm chú quan sát tên Hói. Trong quá trình chụp ảnh bộ mặt hắn thể hiện vẻ sẵn sàng với nụ cười trên môi.
Weiss ra lệnh:
- Nghiêm!
Nét mặt tên Hói ngay tức khắc trở nên đần độn, bất động.
Viết xong hồ sơ hắn ký tên rất nắn nót và rõ ràng rồi chuyển sang viết tiểu sử. Hắn viết lâu, có suy nghĩ, thường hỏi:
- Có ghi phần bao giờ tôi cũng gạch tên các ứng cử của chúng vào Xô Viết tối cao không? - Hắn báo cáo thêm: - Nhiều lần tôi bị lôi vào tòa án, chỉ nhờ tài tháo vát của cá nhân mà lần nào cũng thoát.
Viết xong tất cả các giấy tờ cần thiết, hắn lại viết nắn nót và rõ ràng họ tên mình dưới tờ cam kết - đảm bảo làm việc cho tình báo Đức, ấn đầu ngón tay trỏ bôi xi ở một tấm vải bông đặc biệt vào giấy, rồi chùi tay và thoải mái tuyên bố.
- Thế là xong, bây giờ thì sạch rồi.
- Ai sạch? - Weiss khe khắt hỏi.
- Thì cái ngón tay này ạ. - tên Hói sợ hãi co rúm người lại, lắp bắp nói - Vì tôi chỉ nói đến ngón tay này thôi.
Tất cả bọn vào trường này đều phải qua bước thủ tục giấy tờ như vậy. Và ngay từ lúc đó, từ giây phút đầu tiên biết bọn này, đã có thể nắm được những đặc điểm riêng nào đó của chúng.
Một số tên tỏ ra suồng sã hết chỗ nói như muốn để nhấn mạnh sự say sưa sẵn sàng làm tất cả những gì người ta đề nghị chúng. Nhưng cũng có khả năng, chúng chỉ dùng cách cư xử này của mình để che đậy những khổ đau dằn vặt của lương tâm hoặc là cố tình làm trò đã bịa ra trước, tự lộ mình như những kẻ vô dụng, những kẻ coi biển cả chỉ ngang đầu gối.
Những tên khác mắt mờ đục như xác chết, vì thất bại đè nén hành hạ, trở nên đần độn, ngoan ngoãn phục tùng, uể oải và thờ ơ làm tất cả những gì người ta yêu cầu chúng.
Bọn chúng ngoài mặt tỏ ra tinh nhanh, tháo vát. Bọn chúng thành thạo hỏi han mọi điều kiện cung cấp trong trường. Hoặc có những tên thì thầm nhắc lại công lao của mình ở trại tập trung, rồi lo lắng nói rằng, chúng sợ mọi người sẽ quên sự phản bội của chúng, sau này sẽ lầm lẫn chúng với những tên khác.
Lại có những tên tỏ ra rất độc lập. Chúng cố gắng nói bằng tiếng Đức và tuyên bố mình là kẻ thù về nguyên tắc của chính quyền Xô Viết. Trong hồ sơ bọn này cũng cương quyết nhấn mạnh rằng chúng không bị thương và không bị bao vây, mà tự nguyện đầu hàng làm tù binh. Trong tiểu sử cá nhân bọn này khai báo tỉ mỉ bố mẹ chúng có những tài sản gì trước cách mạng. Trả lời câu hỏi “Có ở trong công đoàn không?” - nhất thiết chúng đều ghi “Bị cưỡng ép vào công đoàn”.
Một tên trong số bọn suồng sã người vạm vỡ, mắt long sòng sọc, không chờ đợi, tự nhắc bí danh:
- “Lapot”.
Xem qua bản hồ sơ, Weiss đọc cột “Chức vụ trong quân đội”: chiến sĩ đội chôn người. Trước chiến tranh không có các đơn vị như thế này. Cột trả lời câu hỏi về nghề nghiệp ghi “Thợ giầy”.
Weiss nói:
- Chỗ chúng tôi có xưởng sửa chữa, tôi sẽ nhận anh vào đó.
Tên “Lapot” co rúm người lại. Sau đó rất phấn khởi vì đã tìm ra lý lẽ đang tin tưởng, hắn nhếch mép cười nói vẻ hờn giận:
- Nhưng chắc rằng tôi được tuyển lựa không phải làm thợ khâu giầy. Tôi đã trao bản cam kết làm gián điệp. Vì sao có sự hạ thấp chức vụ như vậy?
Lý lịch của “Lapot” viết rất rõ ràng, vẻ có học mặc dù hắn khẳng định mới học hết lớp ba tiểu học.
Weiss đánh dấu tất cả lại, nhưng tạm thời chưa coi phải chú ý đến tên nào là hợp lý.
Khi bị hỏi, viết hồ sơ về lý lịch bản thân, bọn tù này tỏ thái độ rất khác nhau. Một số thì như muốn báo cáo nhiều hơn về bản thân, ngược lại một số khác chỉ hạn chế bằng những câu trả lời ngắn gọn cho các câu hỏi bắt buộc và hết sức tránh dùng những lời xúc phạm khi viết về giai đoạn Xô Viết của đời mình.
Weiss nhận xét như vậy với một tên tù. Hắn cau có đáp:
- Thì tôi đã trao tờ cam đoan cộng tác, ông còn muốn gì ở tôi nữa?
Weiss nói:
- Anh phải cho ý kiến đánh giá chính trị về chính thể Xô Viết.
- Để làm gì?
- Để sau này nếu như anh sẽ có ý nghĩ chạy về bên đó và trong trường hợp nếu như bản ghi lý lịch của anh lỡ rơi vào tay chính quyền Xô Viết, thì ở đó chúng sẽ treo cổ anh không hề khoan nhượng.
- Mà không cần thế họ cũng sẽ treo cổ tôi, ông cứ yên tâm.
- Tức là anh coi bị xử tử ở bên đó hơn ở đây.
- Tôi có gì hơn, chuyện đó rõ rồi. Nếu không tôi đâu có mặt ở đây.
- Ở trại anh làm gì?
- Làm người.
- Tôi hỏi. - Weiss nghiêm nghị nói - anh có những công lao gì đối với chúng tôi?
- À công lao?… - Vẻ như bây giờ mới hiểu ra câu hỏi, tên này nhắc lại. - Những công lao bình thường nhất. Một tên chỉ cho tôi đường ngầm chạy trốn, và bóp cổ chết hắn để không lôi kéo kẻ khác chạy trốn.
- Nhưng có thể, tên này nguyên là “thỏ” ngầm của chúng tôi. - Weiss đảo mắt tò mò nhìn hỏi lại - và anh đã giết hắn.
Tên này biến ngay sắc mặt, nhưng vẫn còn tự biện bạch:
- Gestapo đã bắt giữ tôi. - Hắn nói rít qua kẽ răng. Lật áo lên và chỉ vào các vết sẹo.
- Đấy ông thấy chứ, các vết đóng dấu, đã được kiểm tra…
Một tên đầu hói, đứng tuổi bụng phệ tỏ ra đường hoàng với giọng chỉ huy, giảng giải tỉ mỉ với Weiss tại sao hắn đi sang con đường này.
Phải, hắn là một cán bộ chỉ huy, nhưng qua bảng khai quá trình công tác của hắn thấy rõ, hắn giữ mãi một chức vụ trong nhiều năm, không được tăng cấp cũng như tặng thưởng cá nhân nào. Hắn cho rằng chiến tranh sẽ mở ra cho hắn những triển vọng tiến lên về mặt nghiệp vụ. Và hắn đã hành động kiên quyết: ra lệnh cho một đơn vị không thuộc quyền hắn chỉ huy xông lên khỏi tuyến phòng ngự vào đúng lúc không phù hợp chuyển sang tấn công giáp lá cà. Cả đơn vị bị chết ngập dưới hỏa lực của quân Đức, còn một mình hắn sống sót. Hắn biết rằng sẽ bị đưa ra tòa án quân sự. Thế là hắn coi đầu hàng có lợi hơn.
- Thật đúng lúc, - tên này nhắc lại. - trong đại chiến thứ nhất tôi cũng bị bắt làm tù binh và suốt đời ghi nhớ những kỷ niệm tốt đẹp nhất về lòng nhân đạo của người Đức.
- Khi đó anh là sĩ quan à?
- Chỉ là người tuyên truyền tôn giáo thôi. Nhưng giấy tờ phong cấp linh mục cho đã gửi về trung đoàn rồi.
Một số trong bọn quyết định phản bội tổ quốc cho rằng, tội phản quốc của chúng sẽ được bọn Đức đánh giá một cách rất đặc biệt, và chúng ra sức dò hỏi phiên dịch xem chúng có thể tin tưởng vào những đặc quyền gì. Phần lớn chúng thích thú một điều: liệu sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nếu còn sống sót, chúng có quyền nhập quốc tịch Đức hay không, hoặc ít nhất cũng có khả năng giành những địa vị gì có lợi ở lãnh thổ Đức chiếm.
Một số tên đưa ra những câu hỏi đáng chú ý, thiết thực, một số khác như Weiss dự kiến còn chưa rõ ràng, đưa ra chỉ để gây ý như là chúng thực sự hy vọng ở sự khen thưởng. Vì vậy chúng cố gắng dùng đủ mọi câu hỏi tương tự để che đậy điều mà chúng muốn giấu bọn Đức ở đây.
Weiss đành phải tiến hành hỏi cung suốt từ sáng sớm đến chiều tối. Trong nhà giam sặc mùi thuốc sát trùng và mùi hôi chân giầy, mùi bẩn thỉu chua hoắc của những cơ thể lâu không tắm.
Điều khổ sở nhất là nhìn vào mắt những con người này. Một số tên đôi mắt mở to ra trong sự rên la im lặng của thất vọng, con ngươi như những vết thương xuyên qua máu tụ lại. Những con mắt gào thét không ra tiếng như vậy, có lẽ chỉ có những con người nhất định đã kết tội tự sát cho bản thân.
Ở một số khác đôi mắt nheo nhỏ lại như lưỡi dao, lạnh lùng, vì tàn nhẫn với bản thân và với tất cả thể hiện sự sẵn sàng mù quáng làm gì cũng được.
Còn số thứ ba đôi mắt nhanh nhẹn, tò mò long lên sòng sọc, khó nhận ra và trong đó có che giấu một sức sống của sự tháo vát gian giảo.
Có cả những đôi mắt lờ đờ, nhìn bất động như mắt của người đã từ giã cuộc sống nhưng còn tiếp tồn tại qua ý chí và nhận thức của mình.
Có những đôi mắt sáng sủa, độc ác và con ngươi của chúng như chấm đen của miệng khẩu súng lục đang chĩa ra, tuy đạn đã hết nhưng con ngươi còn sưởi ấm một hy vọng ngấm ngầm: vẫn còn một viên cuối cùng. Và anh ta đang dao động là sẽ giữ đến phút cuối cùng cho bản thân hay bắn vào quân thù?…
Có những đôi mắt trắng như mắt lợn, nhìn tất cả mọi cái đều như nhau dù ở đâu đi nữa. Đó là con mắt của một con vật vô tư.
Có những đôi mắt rực sáng như cháy từ bên trong, như kẻ sốt rét đang mê sảng, không còn khái niệm về thời gian, về bản thân nữa. Tất cả dường như là chuyện tưởng tượng, ngay cả sự tồn tại của bản thân cũng là giả tạo, không đúng sự thật.
Lại có những đôi mắt có khả năng giữ được sự bình tĩnh không gì phá nổi. Hình như những đôi mắt này không phải là đôi mắt thật của con người mà bằng thủy tinh nhân tạo, chỉ để không làm con người kinh sợ vì hõm mắt đen rỗng.
Lại có những đôi mắt chăm chú vô cùng tinh nhanh, luôn luôn nheo lại như mắt xạ thủ đang phục khích. Anh biết rất rõ từng phát đạn của mình không chỉ là mối tổn thất cho kẻ địch mà đồng thời còn là sự phát hiện ngụy trang của kẻ địch. Vì bằng phát đạn này anh ta sẽ kéo hỏa lực của kẻ địch về mình, và cần phải cân nhắc kỹ càng bình tĩnh trước khi bóp cò.
Cũng có thể đây chỉ là điều Weiss cảm thấy. Anh rất muốn tin rằng trong số những kẻ đi qua trước mặt anh có thể tìm được những người có các ý định bí mật, những người còn chưa mất hoàn toàn các đặc tính con người ngay cả sau những cơn thử thách tàn khốc nhất.
Việc khám bệnh chớp nhoáng cho bọn tuyển lựa không nhằm để xác định thể lực của bọn này có sử dụng được hay không mà chỉ nhằm mục đích duy nhất - tránh cho nhân viên người Đức khỏi bị lây bệnh. Ngoài ra, nếu trên cơ thể có các dấu vết của nhiều lần bị thương trong chiến đấu thì điều đó sẽ gây nghi ngờ, và tên phải qua lần hỏi cung thêm để xác định bị thương trong hoàn cảnh nào, đó có phải là kết quả của biểu hiện anh hùng hồi nào không. Những vết thương này có là tang chứng chống lại hắn không. Tất cả mọi tang chứng nghi ngờ đều ghi vào trong hồ sơ kẻ được tuyển lựa vào trường.
Có những tấm thân gầy còm chỉ có da bọc xương, giống như trên các văn bản thời cổ, ta đọc được dùng những phương pháp và công cụ tra tấn gì để hành hạ con người đến mức độ thất vọng và đẩy con người tới đây.
Lại có những tên béo phệ một cách ốm yếu trong trại vì bổng lộc các loại mà chúng ngấm ngầm ăn sống nuốt tươi vội vã và tham lam lo sợ bị trở thành tang chứng trong vụ bổng lộc này. Vì nó sẽ là bằng chứng không chối cãi được về tội phản bội của chúng. Mà chúng trở thành bọn phản bội chỉ vì món bổng lộc này, vì được thoát khỏi các công việc khổ sai, ẩn nấp trong các xà lim cá nhân tránh mặt tất cả mọi người như con thú trong hang, sặc mùi máu thịt những người bị chúng quẳng vào đây vì bất lực sau cuộc hành hình.
Weiss phải nhìn tất cả bọn này một cách chăm chú, có ghi nhớ, thâu tóm và phân tích các đặc điểm, nhưng lại không thật tin tưởng rằng anh đã phát hiện được dù chỉ một điểm để anh có thể dựa vào đó. Nghĩa là tạm thời chưa có điều gì làm cho anh tin tưởng cả.
Trong suốt những ngày này, Weiss cảm thấy một sự lo âu bệnh tật, thậm chí cả sự kinh hoảng nữa. Vì cứ mặt đối mặt mãi mãi với bọn người vô tận bị sa ngã đến mức này, anh sẽ bị thất vọng, trở nên ngờ vực, liệu anh có thể vượt qua tất cả được hay không. Anh có vượt lên trên nhận thức đang làm tâm hồn trống rỗng và có thấy được trong số đồng bào của anh ở đây có những người sống, làm việc và tồn tại bí mật, âm thầm như anh không.
Cũng như nhiều thanh niên cùng thế hệ với anh, Weiss đã có thói quen suy nghĩ rằng chỉ có kẻ thù giai cấp mới có bộ mặt với những đặc điểm dễ dàng nhận ra. Đó là những đặc điểm đã từng được xác định qua đấu tranh, những đặc điểm rõ ràng như các dấu vết bẩm sinh ra. Phải, ở đây có cả những kẻ có các đặc điểm rõ ràng. Đối với chúng, tất cả đều đơn giản và rõ ràng ngay cả sự nhận thức về sự minh bạch cũng đã tránh khỏi sự cần thiết phải giải thích vất vả sự phản bội của chúng.
Như vậy, có điều gì đó của niềm tin thầm kín nằm bên trong đạo đức và được thể hiện qua tính tình sắt thép không gắn liền với tình cảm của tính tự ái. Thái độ phục tùng hoàn cảnh làm con người mất ý chí. Con người không có tinh thần chống lại hoàn cảnh cũng như không thể thay đối được nó.
Nhưng lại có sự giảo quyệt của đầu óc mệt mỏi, sự giảo quyệt phản bội nhắc cho con người bị rơi vào cảnh bế tắc một lối thoát nhục nhã và đáng thương, và con người không nghĩ rằng lối thoát tìm thấy lại đẩy họ xuống vực sâu vô tận.
Sau khi nhượng bộ kẻ thù lần thứ nhất đôi khi con người đi đến tâm trạng điên cuồng, mất sức kháng cự và bước vào chỗ thụt sâu của đầm lầy, càng ngày càng tụt sâu xuống đáy.
Và nếu biết con người lấy được tinh thần đấu tranh từ những nguồn trong sạch nào mặc dù cuộc đấu tranh diễn ra trong các điều kiện gay cấn thế nào đi nữa thì những chất độc luôn luôn đầu độc tâm hồn người, hèn yếu chống lại tính người này cho đến cùng cũng vẫn bí ẩn.
Quyết định của tất cả những con người này đi vào con đường phản bội tổ quốc đã cắt đứt họ với tổ quốc Xô Viết. Và chính họ sau khi chứng thực quyết định này bằng chữ ký cá nhân thì họ đã như ký cho mình bản án không chối cãi được nữa.
Ở đây tất cả mọi việc đều đã rõ, Weiss chỉ còn tìm các biện pháp để thi hành bản án mà chính bọn phản bội đã ký cho bản thân. Và, bản án này được thi hành sớm bao nhiêu anh sẽ càng bảo đảm an toàn vững chắc cho người Xô Viết tránh khỏi những tội ác mà bọn đầu hàng này sẽ trở thành công cụ thực hiện chúng trong tay kẻ thù.
Nhưng chẳng lẽ anh có quyền tuyên án vô căn cứ tất cả những người đang đi trước mặt anh ở đây hay sao? Không, nhất thiết phải “điều tra” mà kết luận của nó sẽ dựa sự nghiên cứu con người. Vì mọi tài liệu khác đáng tin cậy hơn trong trường hợp như thế này anh không có và sẽ không có. Weiss phải giải quyết việc này dựa vào niềm tin của mình. Mặc dù tâm hồn những con người này có bị động chạm thế nào đi nữa, nếu như nó còn chưa mất một phần nhỏ sức sống của Tổ quốc thì vẫn còn hy vọng là phần nhỏ bé này sẽ có thể chiến thắng mọi thế lực đen tối, chết chóc trong con người.
Và ở đây, ngay giữa kẻ thù đông đảo này Weiss phải tim cho mình bạn đồng minh. Anh biết rằng, chuyện đó đòi hỏi sư tập trung căng thẳng mọi trí lực của anh. Đó là chiến công thực sự cần phải giành được.
Weiss tò mò, nghiên cứu ngắm kỹ từng tên đi qua trước mặt anh, kiên quyết tìm bằng được điểm tựa đôi khi có thể hư ảo, không đúng sự thật. Nếu như phát hiện ra điểm đó, nhất thiết phải làm nó lớn lên như một bàn đạp để chinh phục con người. Sau khi quyết định, con người đó sẽ có quyền trở thành bạn chiến đấu của anh, của Weiss.
Còn đối với bọn không đáng tin cậy, không có khả năng chuộc tội đen tối của mình thì ở đây mọi chuyện sẽ đơn giản hơn. Weiss cẩn thận suy nghĩ xem anh phải áp dụng những phương pháp kỹ thuật nào. Anh được vũ trang nghề nghiệp khá tốt, biết khá đầy đủ nghệ thuật tác chiến, các phương pháp tổ chức công tác tình báo được áp dụng hợp lý nhất trong những điều kiện này. Và anh biết rằng ở đây anh sẽ không đơn độc. Sau khi ở nhà nhận được các đề nghị của anh, các chuyên gia trong lĩnh vực này sẽ tốn không ít lao động tỉ mỉ cho việc thảo kế hoạch của mình.
Những suy nghĩ về vấn đề đối xử ra sao để bọn đồng nghiệp ở “Ban tham mưu Valia” đánh giá tốt sự nỗ lực công tác của anh cũng trùng theo những điều đó, mà làm thế nào không gây nên sự ghen tị, khiến chúng thấy rằng người bạn đồng nghiệp trẻ tuổi của chúng có một số khả năng chủ yếu là do lòng yêu lao động không mệt mỏi. Và làm như thế, một mặt gây được cảm tình với bọn đồng nghiệp, mặt khác sẽ tiết kiệm thời gian và sức lực nhằm giải quyết nhiệm vụ chính của anh. Nhưng không có bộ giáp bảo vệ như vậy, anh không thể bước lên vũ đài chiến đấu. Có cần phải nói tới sự căng thẳng về trí lực và thể lực đòi hỏi ở Weiss đã lớn tới mức độ nào hay không?