Ngay cả trong lúc đau yếu Weiss cũng không chịu nằm yên mà anh làm việc bằng cách thu thập tin tức qua bọn đồng nghiệp đến thăm anh để biết các công việc có lợi chủ yếu đối với anh.
Thế là, chẳng hạn, anh đã biết rằng bức điện cuối cùng mà “Ban tham mưu Valia” nhận được của Gvozd mang đặc tính bi thảm: “Nhóm đang bị các cơ quan phản gián Liên Xô bao vây. Chúng tôi phá hủy điện đài. Nếu như thoát khỏi bị theo dõi, chúng tôi sẽ vượt trận tuyến”. Nghĩa là, mọi chuyện xảy ra với Gvozd đều tốt.
Dietrich dựa vào kinh nghiệm bản thân mà hắn có được trong khi tiến hành hỏi cung ở các trại để lựa chọn học viên cho các trường, đã đi tới kết luận là người Nga, đặc biệt phát triển tình cảm giúp đỡ anh em rất thông cảm với những ai cần được thông cảm. Ngoài ra, trong các chính sách của Liên Xô còn có những chỉ thị chính thức đòi hỏi mọi công dân phải ân cần quan tâm đến nhau. Và điều cơ bản, điều quy định: thường dân Liên Xô có lòng yêu nước đến khó tin, và mỗi người lính hay sĩ quan Liên Xô bị tàn tật sau khi bị thương được đồng bào mình vô cùng kính trọng, quan tâm chăm sóc và được chính quyền bảo trợ.
Nhân dịp này Dietrich coi toàn diện nhất là phải bắt tay tìm kiếm thương binh trong các trại tập trung.
Tuy thế hắn cũng ít hy vọng vào kết quả, bởi vì bọn chỉ huy trại, do các nguyên nhân kinh tế đơn thuần đã thủ tiêu đầu tiên mọi tù binh tàn tật, hoặc tạo ra cho họ những điều kiện để họ nhanh chóng bị chết một cách tự nhiên.
Dietrich đã ra lệnh cho các nhóm tình báo tiến hành tìm kiếm trong các trại tập trung những tù binh bị cụt một chân hoặc tay. Và nếu không phát hiện ra loại đó không có thì ghi dấu những người dự kiến thích hợp để sau khi kiểm tra mặt đáng tin cậy của họ thì dùng lý do này khác đưa họ đến quân y viện “để điều trị”. Ở đó các thầy thuốc có kinh nghiệm theo chỉ thị nhận được sẽ cưa một chân hoặc tay họ.
Nhưng trong khi số này chưa tới trường liệu có nên chọn một số trong khối học viên đã được đào tạo có thể lực tốt không chê vào đâu được hơn là tù nhân trong các trại tập trung không, và việc chữa chạy cho họ sau khi giải phẫu sẽ đòi hỏi ít thời gian hơn nhiều.
Theo ý kiến của Dietrich, tốt nhất là cưa một chân. Như thế dễ đập vào mắt, dễ nhận thấy và sẽ cho điệp viên được quẳng vào hậu phương Liên Xô khả năng phần nào tay họ còn nguyên vẹn, đòi hỏi phải thu xếp cho họ làm việc ở một xí nghiệp quốc phòng Liên Xô nào đó.
Việc còn tay cho phép làm việc được, còn việc cưa một chân (rõ ràng là bị mất ngoài mặt trận) là đảm bảo chắc chắn cho việc, khi vào làm việc trong xí nghiệp quốc phòng, điệp viên sẽ không bị kiểm tra quá cẩn thận.
Steinglitz đánh giá cao đề nghị này của Dietrich.
Landsdorff, vẻ buồn chán nghe hai sĩ quan trình bày xong, nói:
- Chẳng khác gì bọn mẹ mìn vẫn từng làm như thế.
Steinglitz không biết thế nào là mẹ mìn, và trầm ngâm nhăn mặt.
- Nhưng đây là tù binh chứ không phải trẻ con! - Dietrich cất giọng phản đối.
- Sự quan sát tinh vi đối với nhân viên phản gián. - Landsdorff giọng châm biếm nói.
Lão cảm thấy vừa tức giận vừa đáng buồn khó tả, vì chỉ bây giờ mới cảm thấy rằng, cùng với tuổi tác trí nhớ cũng dần bị mất đi và lão bắt đầu quên mất nhiều điều trong kinh nghiệm thực tế giàu có nhất của mình và đã có lúc là thực tế rất tế nhị.
Ngay từ những năm đại chiến thế giới thứ nhất, trong lúc chiến đấu ở Verdun, lão đã nghĩ tới những nhóm tình báo hay có khả năng kịp thời ra chỉ thị cho các binh lính Đức bị thương nhẹ thay bằng quân phục Pháp rồi ban đêm đưa chúng ra ngoài trận tuyến. Ở đây các cứu thương Pháp nhặt nhóm phá hoại này vác lên vai mang về công sự mình.
Trong thời gian chiến tranh ở Tây Ban Nha, một trong số các đồng nghiệp của Landsdorff giữ chức cố vấn trong chính phủ Franco đã nhớ lại phương pháp đó. Thế là những lính Franco bị thương nhẹ liền được thay bằng quân phục chiến sĩ cộng hòa, và đêm đêm bọn này sử dụng rất có kết quả súng lục và chất nổ trên các đường phố Madrid, còn ban ngày chúng lại để lộ rõ chân tay được băng phồng to lên và hăng hái lết cặp nạng trên đường phố Rio de Grande, thu hút nhân dân thành phố phải xúc động cúi chào.
Nhưng đối với Landsdorff, điều đó như thấp kém hơn phẩm giá lão - lên mặt với quá khứ vẻ vang của mình và nhắc lại những công lao của mình như là chúng không được đánh giá đúng mức, vì thế, tôn trọng mưu đồ của Dietrich, lão độ lượng đồng ý với tên đại úy.
- Đề nghị của ông có cơ sở thật sắc sảo và có sức cám dỗ về tư tưởng. Nhưng… - Landsdorff chắp tay lại trước mặt mình và ngắm nghía những chiếc móng tay được sơn bóng cẩn thận màu xanh nhạt, chứ không thì đã như trái tim: cùng với tuổi già nó đập ngày càng chậm dần, lạnh nhạt tuyên bố: - Nhưng tôi là người kiên quyết chống đối, - hơi chậm lại, - những hành động quá kỳ quặc như cưỡng ép giải phẫu.
Dietrich sôi nổi cắt ngang:
- Không có sự cưỡng bức nào. Đối tượng sẽ đưa vào quân y viện. Ở đây hắn sẽ được khuyên thấy rõ sự cần thiết của việc dùng tới phẫu thuật. Nhờ có các phương pháp gây tê hiện đại hắn thậm chí không cảm thấy đau đớn. Tỉnh dậy và…
Landsdorff nhăn trán.
Dietrich nhận thấy thế, vội nói:
- Cuối cùng thì các nhà giải phẫu của chúng ta cũng được phép tiến hành một số thực nghiệm y học bằng người ở trại giam. Chính tôi đã trông thấy khi đến thăm khu nhà đặc biệt…
- Ông đã trông thấy, còn tôi thì lại không muốn biết điều này. - Landsdorff giận dữ cắt ngang.
- Nhưng tất cả những việc đó là vì lợi ích cao cả chung của con người, - Dietrich nhắc lại. - Bây giờ không còn là thời trung cổ khi mà các thầy thuốc bị kết tội thiêu sống chỉ vì họ đã mổ xác người chết để đi sâu vào các bí mật của cơ thể con người.
- Cũng chính là không được quên rằng, bây giờ không còn là thời trung cổ nữa, mà là thời đại của văn minh mà chúng ta mang lại cho loài người, - câu này Landsdorff cất lên gần như một cách máy móc vì lão nhớ lại chuyến đi Berlin vừa rồi của mình.
Ở đó, lão có mặt trong bữa cơm thân mật tại nhà lão thọt Goebbels, một con người bé nhỏ có toàn quyền hoảng sợ vì những cơn ghen tuông tam bành của vợ là Magda, người dám nói xấu mọi tính hiếu sắc đỏng đảnh của chồng và của người tiên tri nền văn hóa Đức mới với quốc trưởng.
Thế là sau bữa cơm Goebbels dẫn Landsdorff vào phòng trưng bày tranh của mình, nơi treo đủ các tấm tranh cướp được ở những nhà bảo tàng nổi tiếng của nhiều nước châu Âu.
Landsdorff nhớ nhiều bức tranh ở đây từ khi lão bôn ba khắp châu Âu để thực hiện nhiều sứ mệnh khác nhau đặc biệt, nhưng là người có học, lão vẫn dành thời gian đến thăm các nhà bảo tàng nghệ thuật.
Lão trao đổi với Goebbels các ký ức của mình.
Goebbels quan tâm nói:
- Ông nói phải. Có thói quen xem xét các vật phẩm này như tài sản quý giá của dân tộc, một loại sở hữu quốc gia đấy. Nhưng theo đề nghị riêng của quốc trưởng, Goering, Himmler, Ribbentrop và những nhân vật cao cấp khác của quốc xã, tôi đã triệu tập được một hội đồng nhỏ gồm các luật sư xuất sắc nhất. Và họ đảm bảo với tôi điều tôi thông báo cho các nhân vật đáng chú ý rằng luật pháp quốc tế chỉ ước định trước thời hạn công hiệu là hai mươi năm, sau thời hạn này, kẻ nào gây nên dù bất kỳ hành động gì đều không bị hình sự trừng phạt, còn chủ nhân các báu vật không thể thưa kiện bên bị cáo được.
- Liệu có đang phải làm các luật sư lo lắng không? - Landsdorff hỏi.
- Tại sao lại không? - Về phần mình Goebbels cũng hỏi. Và tinh quái hỏi tiếp: - Người bằng hữu thân mến, ông có nhận thấy rằng trong các bộ đồ sưu tập của chúng ta cảm thấy thiếu thốn một cách đáng buồn những thứ của các phòng hội dân tộc London, New York và một điều đáng buồn nhất, là tạm thời không có gì của Moskva, Leningrad hay không? - Thế đấy - lão nói đầy ý nghĩa, - nếu tường phòng hội họa của tôi còn chưa được trang trí bằng các tượng thánh Kremlin và các tranh của nhà bảo tàng quốc gia Leningrad, thì cuộc trao đổi ý kiến của các luật sư tuyệt đối không thừa. Là một người sưu tầm, tôi biểu lộ sự nhìn xa thấy rộng đáng được thứ lỗi đối với một người sưu tầm, và không chỉ đối với một người sưu tầm, đúng không?
Buổi nói chuyện với Goebbels lúc này hiện ra trong trí nhớ của Landsdorff không phải ngẫu nhiên.
Và, rút từ đó kết luận nhìn xa thấy rộng, Landsdorff trịnh trọng nói với Dietrich:
- Là chỉ huy của ông, tôi nghiêm cấm ông làm mọi hành động có thể trái ngược với các nguyên tắc nhân đạo. - Đưa mắt sang Steinglitz, lão hỏi: - Tôi hy vọng rằng ông có trí nhớ tốt và trong bất kỳ hoàn cảnh nào ông cũng có thể nhớ lại chỉ thị kiên quyết này của tôi chứ? - Trầm ngâm nghĩ. Sau đó, giễu cợt liếc nhìn bộ mặt thất vọng dài ngoẵng của hai sĩ quan, lão nhắc lại: - Thế đấy, tôi nghiêm cấm mọi hành động cưỡng bức. Và nếu tên nào trong số học viên, cứ cho là trong khi tìm hiểu các chất nổ mới hoặc vì sử dụng vũ khí mới không cẩn thận bị thương tổn cơ thể, một vấn đề thường xảy ra với binh lính trong lúc diễn tập chiến đấu, dứt khoát tôi sẽ có hình phạt nghiêm khắc nhất đối với người sĩ quan nào tiến hành buổi học đó. Nhưng nếu kẻ bị thương sau khi bình phục có thể lực thích hợp và bày tỏ nguyện vọng tự nguyện tiếp tục hoạt động tình báo của hắn, thì kẻ này đáng được biểu dương. - Giọng oai nghiêm lão nói thêm: - Còn nói chung ý định của các ông sử dụng bọn tàn phế sau khi bị thương ngoài mặt trận có mục đích nhân đạo: cho chúng khả năng kiếm được nghề nghiệp và trở thành người có lợi cho quốc xã. Tuy nhiên, thường thường bọn tàn phế cảm thấy cái không đầy đủ của mình, chúng khổ sở vì không có tiền đồ trong tương lai, và vì thế chúng là bọn dễ thuyết phục nhất khi tuyển lựa. Không những chỉ Cục tình báo, mà nhiều cơ quan gián điệp và phản gián khác của chúng ta cũng đã từng khẳng định điều này, ở đây đã lượm được kinh nghiệm phong phú và bổ ích.
Thí dụ, thiếu tá Steinglitz rõ ràng cho rằng một nhân vật cao cấp trong Bộ ngoại giao Anh từng giúp chúng ta bởi vì bỗng nhiên trở thành người sùng bái các lý tưởng của quốc trưởng thì phải? Rất tiếc! Chúng ta gây tác động với người này không phải bằng phương pháp tư tưởng, mà là y học. Chúng ta đã đề nghị một đồng bào của chúng ta, một thầy thuốc nổi tiếng London khuyên bảo bệnh nhân của mình rằng bệnh nhân mắc bệnh ung thư không chữa được, và còn xác định thời hạn chính xác bệnh nhân sống được trên trái đất này. Tất nhiên bệnh nhân trong tâm trạng ngã lòng, tới một độ chỉ lo lắng một điều, đảm bảo cung cấp nuôi gia đình sau khi mình chết. Chúng ta đã giúp hắn cung cấp cho chúng ta những tài liệu lấy trong tủ thép không cháy “Bộ Ngoại giao” thì các ông đã được biết. - Lão ngáp, rồi vươn người. - Như các ông thấy đấy, những bông hoa của lý tưởng mới, đang nở từ những hạt giống do chúng tôi, người già thu thập.
Tuy nhiên Landsdorff không kìm được và đã làm thỏa mãn tính hiếu danh bị xúc phạm của lão bằng cách cho Dietrich hiểu rằng, đề nghị của hắn không lấy gì làm mới lạ như hắn tưởng.
•º•
Weiss biết rõ ý định mà Dietrich đang ấp ủ. Chỉ còn phải biết học viên nào sẽ bị biến thành người què quặt, và đồng thời phải phát hiện ra việc định nhằm vào công việc nào. Trước hết Weiss quyết định tìm hiểu lời yêu cầu lựa chọn phim tài liệu Liên Xô thích ứng. Anh đã nhiều lần dùng phương pháp này để thu thập tin tức cho Trung tâm.
Cho đến lúc này gián điệp của “Ban tham mưu Valia” chưa lọt được vào một xí nghiệp quốc phòng nào của Liên Xô, mặc cho Canaris tức giận đòi hỏi, hầu như tất cả các chiến dịch nhằm mục đích này điều bị nhất loạt phá tan.
Bây giờ thì các cuộc phá hoại bắt đầu được chuẩn bị trong vòng đặc biệt bí mật.
Có một trại đặc biệt mới được thành lập, chỉ có sĩ quan cao cấp được phép ra ngoài vòng bảo vệ trại. Còn nhân viên tình báo làm việc với các nhóm đang được đào tạo ở trại thì nghiêm cấm không được vượt quá giới hạn này. Weiss không được đến đây…
Việc thành lập trại bí mật này chứng minh giai đoạn hoạt động mới của “Ban tham mưu Valia”, tức là trước mắt Ban này đặt ra những nhiệm vụ quan trọng, tức là bây giờ nó là một mối nguy hiểm lớn chưa từng thấy đối với Liên Xô.
Kỷ luật nghiêm ngặt nhất còn được tăng thêm vì đang chờ đợi Canaris đến, viên này quyết định đi thanh tra một chuyến các đơn vị Cục tình báo tập trung sang phương Đông.
Trong tình thế này Weiss phải hết sức thận trọng, linh hoạt và hành động có sự dè dặt suy nghĩ ngay cả trong các hoàn cảnh mỗi ngày làm chậm trễ việc lột trần các mưu đồ của kẻ thù lại làm cho mối nguy hiểm đang đe dọa tiến lại gần hơn.
Chỉ huy phân hiệu nữ của trường tình báo Warsaw, đại úy của cái gọi là “quân đội giải phóng Nga” do bọn Đức thành lập gồm bọn phản bội và bán nước (ROA) Klavdia-Clara Aufbaum-Zelenko là một phụ nữ có học và giàu kinh nghiệm sống.
Theo yêu cầu của mụ, ngay từ năm 1920, chồng mụ là Fritz Aufbaum, nguyên là kế toán tài vụ ở mỏ Donetsk lúc đó thuộc công ty Bỉ, đã đổi không những họ tên, mà cả nghề chuyên môn nữa, và dưới chính quyền Xô Viết y đã làm tới chức kỹ sư trưởng. Nhu cầu về lớp trí thức kỹ thuật rất lớn. Việc không đủ trí thức kỹ thuật của mình, viên kỹ sư trưởng mới xuất hiện này đã chuộc lại bằng việc biết cách đối xử đàng hoàng với những người cấp dưới, bằng việc nói ít và hoàn thành xuất sắc mọi mệnh lệnh và ý kiến của bất kỳ thủ trưởng nào. Đó là một con người thiển cận nhưng lại không sợ sự mạo nhận của mình vì hắn đã ngấm ngầm tin tưởng sâu sắc rằng, người Nga và Ukraine đó là dân nửa Á nửa Âu. Còn hắn, Aufbaum, một người châu Âu chính cống, như thế cũng hoàn toàn đủ để lãnh đạo họ, hơn nữa trong số cấp dưới lại có những người hiểu biết rất rõ vấn đề mà chính hắn lại có khái niệm rất mờ mịt.
Zelenko thì say mê với thời cổ Ukraine và thậm chí còn cho đăng trong tạp chí dân cư một tác phẩm gì đó về vấn đề này. Sau đó, khi chồng chuyển về Bryansk, mụ bắt đầu ham mê cả thời cổ Nga.
Vào thời kỳ mà những người trong phong trào Stakhanovite nổi danh vì những kỷ lục lao động của mình bắt đầu được đào tạo thành đội trưởng sản xuất, Zelenko dạy tiếng Đức cho họ.
Điều này tạo cho họ khả năng có các mối liên hệ với một số trong họ, những người sau này lãnh đạo các xí nghiệp khổng lồ.
Là người yêu lao động, Zelenko đã dịch các sách kỹ thuật Đức ra tiếng Nga và kiếm được rất nhiều tiền. Còn sau đó lại dịch từ tiếng Nga sang tiếng Đức những tác phẩm của các nhà luyện kim và khác thác than Xô Viết và các nhà xuất bản Đức chú ý tới.
Fedor Zelenko mấy lần đi công tác sang Đức.
Ở đó, khi được biết rằng hắn là người Đức, hắn được chú ý đặc biệt và bọn Đức dự định tuyển lựa hắn. Sau khi nghe hết mọi đề nghị và hứa hẹn, sau khi cân nhắc cẩn thận, Zelenko từ chối các đề nghị này: địa vị của hắn ở đất nước Xô Viết vững chắc, cao sang và có triển vọng cám dỗ hắn nhiều hơn là đóng vai điệp viên của Đức.
Trở về nước, hắn có báo cáo tất cả những chuyện này cho cơ quan an ninh quốc gia và cả cho vợ là có lợi cho bản thân. Tin tức hắn thông báo càng củng cố vững chắc hơn niềm tin vào hắn. Còn về phần vợ thì phản ứng nổ ra thật bất ngờ. Klavdia nguyên là một phụ nữ nóng nảy, có suy nghĩ phát triển cao, không những chỉ nhìn thấy ở đây một điều lãng mạn mà còn buồn da diết vì nhớ quê hương tổ tiên mụ. Và không theo ý chồng Klavdia đã liên hệ với một nhân viên của nhà xuất bản, nơi mụ công tác, tên này là gián điệp Đức.
Hình dung mình là Mata Hari mới, được cổ vũ bằng hoạt động mới, Klavdia trông lại xinh ra, hơi gầy đi vì những lo lắng dồn dập và do đó lấy lại được vẻ cân đối cơ thể thiếu nữ.
Nhưng ở đây, và hơn nữa do một điều bất ngờ nhất, một đòn đau đã giáng vào gia đình Zelenko-Aufbaum.
Đứa con trai mười lăm tuổi của gia đình này là đoàn viên thanh niên Komsomol.
Hình ảnh Pavka Korchagin là lý tưởng cho người thanh niên này. Anh bỏ học và không theo ý bố mẹ gia nhập đội thanh niên trong một khu mỏ đang ở trong tình trạng không hoàn thành mức kế hoạch.
Mọi người làm việc hăng say, tận tụy, mặc dù vậy sống vẫn thiếu thốn vì thiếu kinh nghiệm lại không đủ thể lực, không thể hoàn thành mức đã định.
Đó là đội thanh niên công xã gồm những người như đã nói rõ, sau này phải giải tán mặc dù trong con người họ mang tư tưởng bình đẳng, anh em trong mọi việc, nhưng họ lại đứng trên con đường của chủ nghĩa bình quân lệch lạc.
Thế là một lần, trở về nhà để tắm rửa và ăn uống thỏa thuê một ngày bù cho những bữa thiếu thốn, anh nghe thấy về ban đêm cha mình thì thầm đề nghị dứt khoát với mẹ để mẹ không được liên hệ với gián điệp Đức nữa.
Anh lao vào phòng của bố mẹ và hỏi đầy kinh sợ:
- Có thật thế không?
Sau tất cả những lời chồng và con nói với mụ, Klavdia thất vọng quát:
- Có thể cứ đi mà khai báo tôi!
- Còn gì nữa, con sẽ đi làm như thế. - người con trai nói. Và thoát ra khỏi tay người cha định giữ anh lại, anh bỏ đi khỏi nhà.
Sáng hôm sau Fyodor Zelenko, khi vào gara nơi đỗ chiếc xe “emka” riêng của mình, giải thưởng hoàn thành một trăm bốn mươi phần trăm kế hoạch cả năm do xí nghiệp Zelenko lãnh đạo đạt được, phát hiện ra con trai mình đã thắt cổ tự tử.
Sau tai họa này Fyodor Zelenko thấy không còn đủ tâm lực hành động như con trai hắn định hành động, thêm vào đó Klavdia bị chấn động trước sự việc xảy ra, trong tâm trạng mất tự chủ phải đưa vào bệnh viện thần kinh điều trị.
Năm 1937 không phải Klavdia bị bắt, mà là chồng mụ.
Sau cái chết của con trai và ra khỏi bệnh viện thần kinh, bị mất liên lạc với gián điệp Đức. Klavdia lòng hừng hực ý chí trả thù cho chồng, bèn quyết định phục hồi lại những mối quan hệ cũ, nhưng gián điệp Đức không tiếp nhận sự giúp đỡ của mụ vì hai lý do. Vì rằng, thứ nhất, lúc này, là vợ của một người bị bắt giam, mụ có thể bị theo dõi. Thứ hai, tình báo Đức không muốn tha thứ cho mụ về lời từ chối làm việc trước đây theo các lý do không xứng đáng với sự biện bạch là con trai tự sát.
Trí nhớ tốt của một công nhân phong trào Stakhanovite nổi tiếng, nguyên là học trò của Klavdia, lúc này đã trở thành một trong số các lãnh đạo lớn ngành công nghiệp, đã giúp cho Klavdia thoát khỏi số phận mà hồi đó rơi vào phần lớn những người vợ khác của các ông chồng bị bắt giam.
Klavdia được nhậm chức giáo viên trong trường mười năm, sau đó trở thành hiệu trưởng trường này.
Khi quân Đức chiếm đóng thành phố nơi Klavdia đã sống, mụ bị bắt vào trại tập trung. Bị giam giữ mấy tháng liền và sau khi kiểm tra đủ các mặt Klavdia được biên chế làm phiên dịch cho tổ chức ROA, còn sau đó, mụ được phong chức đại úy không cần sự tham gia của Gestapo và được đề bạt làm chỉ huy trưởng phân hiệu nữ trường tình báo.
Cũng như trường Warsaw, trường này nằm trên một địa điểm nghỉ mát, đào tạo tình báo điện báo viên. Thời gian đào tạo là sáu tháng.
Sau đó các nữ học viên này được đưa đến trường trung tâm, ở đây được đào tạo cùng với nam giới trong thời hạn một tháng nữa, mỗi nữ có một nam cùng cặp.
Bọn chỉ huy “Ban tham mưu Valia” đã coi hợp lý nhất là dùng nữ chứ không phải là nam làm điện báo viên. Bởi vì đàn ông trong tuổi tòng quân mà sống lâu ở một nơi dễ bị thu hút sự nghi ngờ đối với bản thân hơn là nữ, người có thể khai mình là dân chạy trốn khỏi các vùng bị Đức chiếm đóng hoặc là dân sơ tán, và như thế lại còn gây được sự thông cảm của dân địa phương nữa.
Số nữ học viên này được tuyển lựa trong các trại tập trung và các nhà tù, nơi bọn nhân viên SS và Gestapo đã tiến hành các thử thách tập dượt họ. Sau đó, lựa chọn được danh sách phù hợp rồi, chúng mới chở họ về trường trong tình trạng rất đáng thương, và lần nào cũng vậy, tên chỉ huy đội hộ tống họ về trường cũng phải đảm bảo với đại úy Klavdia: hội đồng y tế kiểm nghiệm có thẩm quyền đã cho giấy chứng nhận là người được đưa đến (hay những người được đưa đến) không có các thương tích nặng ở các bộ máy quan trọng của cơ thể và nhất định sẽ hồi phục.
Các nhóm của Cục tình báo, cảnh sát, các ban chỉ huy Đức hoạt động trong vùng chúng chiếm đóng cũng giúp đỡ cho trường bằng cách cung cấp những cán bộ đã được kiểm tra qua công tác ở chỗ chúng.
Những nhân vật có đặc quyền này đến trường không có người bảo vệ, mà chỉ có một số tay chân đi kèm tương ứng, trông rất đường hoàng, ăn mặc sang trọng và lúc đầu đã tỏ ra suồng sã. Nhưng đại úy Clara bằng phương pháp đặc biệt đã nhanh chóng cho chúng hiểu rằng đây không phải là nhà chứa gái, mà là một trường tình báo có kỷ luật nghiêm ngặt còn hơn cả trong quân đội nữa.
Bản thân đại úy Clara đúng là chưa bao giờ dùng phương pháp giáo dục thể lực.
Để làm việc này có một người chuyên trách - phó chỉ huy trường phụ trách chính trị, trung úy ROA hiên ngang nhận mình là Inga Ratmirova, trong giao thiệp gọi theo tên là Nyurka. Một phụ nữ đẫy đà, vai rộng, mông nhô căng trong chiếc quần chẽn đầu gối, tóc cắt ngắn, để một mớ tóc cắt bằng phủ trên chiếc trán thấp và bộ răng nâu xám vì hút thuốc. Mụ có dáng điệu và thói quen của đàn ông.
Là một nhân viên hình sự nhà nghề, một kẻ hiểu biết sâu mọi quy chế trại giam và nhà tù. Ngay khi làm việc ở nhà tù Liên Xô, Inga đã đưa đề nghị xin ra mặt trận, và được cử làm huấn luyện viên cứu thương đến một đơn vị quân đội. Khi bị bắt làm tù binh bọn lính Đức khám thấy trong túi thuốc rất nhiều đồng hồ đeo tay, bót thuốc lá và những tập tiền nhàu nát.
Chút nữa thì mụ bị đánh chết: lối kiếm chác này đã làm công phẫn tình cảm bọn lính. Nhưng bọn Gestapo nhìn thấy ở hành động này của mụ một bằng chứng rất tốt là mụ rõ ràng có lợi cho quốc xã.
Thế là mụ kẻ cướp ngoài mặt trận này lúc đầu được cứu thoát khỏi sự trừng phạt của binh lính, sau đó với các giấy tờ giới thiệu rất tốt được đưa về hậu phương để phục vụ trong tổ chức “quân đội giải phóng Nga” - ROA.
Các phụ nữ từ những vùng bị chiếm đóng đến đây đã có kinh nghiệm trong việc công tác với bọn Đức và biết cách đặt quan hệ với chúng, mà hơn nữa còn chưa mất thể lực. Vì thế họ cương quyết chống lại Nyurka khi mụ định thể hiện những khuynh hướng đặc biệt gì đó của mình. Đối với một số thiếu nữ đã bị tàn phế và mất sức vì các cuộc tra tấn, hỏi cung trong nhà giam Gestapo, mụ cưỡng ép nhượng bộ mụ, và làm ra vẻ quan tâm chăm sóc họ.
Chính đại úy Clara đặc biệt về hành động lại rất có đạo đức, nhờ lối sống hợp vệ sinh trông mụ vẫn còn rất trẻ và không ai dám bảo rằng người phụ nữ này đã ngoài bốn mươi. Bộ quân phục rất hợp với khổ người mụ và bộ mặt có cái mũi nhọn trông nghiêng như mặt chim của mụ rất tươi tỉnh, chiếc cổ cao chưa có một nếp nhăn.
Một số sĩ quan đứng tuổi của Cục tình báo có cấp bậc cao đã muốn có quan hệ khoái lạc nhẹ nhàng với mụ và bất đắc dĩ có thể là quan hệ vợ chồng, nhưng mụ đã mạnh dạn khước từ mọi mong muốn này, vì coi việc tái giá lúc chồng còn sống là vô đạo đức. Còn các quan hệ tạm thời, nhẹ nhàng thì lại thấp kém hơn phẩm hạnh của mụ.
Những khuynh hướng hư hỏng của Nyurka chỉ gây cho Clara lòng khinh bỉ tất nhiên. Nhưng trong thâm tâm vì sợ mụ nhân viên hình sự đôi khi hay nổi nóng điên dại và có khả năng bất chấp này, đại úy Clara đã hạn chế phản đối việc người phó chỉ huy của mụ hành động phóng đãng bằng cách với thái độ căm ghét lạnh nhạt và tàn nhẫn, mụ theo dõi các học viên được Nyurka đối xử tốt.
Người nào phạm dù cho lỗi nhẹ đi nữa mụ cũng đuổi về trại tập trung. Còn nếu lỗi nghiêm trọng, mụ đưa đến trại SS đóng ở gần trường. Những vụ thanh trừng, đơn vị này tiến hành ở khu vực đổ rác, xung quanh có đặt các cột với biển chữ “Vùng cấm” thường dùng cho những nơi tiến hành xử tử.
Khi các sĩ quan Cục tình báo đến trường kiểm tra tài chính kinh tế hay học tập, đại úy Clara đón tiếp rất nồng nhiệt. Trong các trường hợp này, mụ tự chỉ huy việc nấu nướng cơm rượu để chiều chuộng “khách” bằng tài nấu nướng nội trợ của mình. Hồi còn ở Donbass mụ đã học được cách pha chế nước hoa quả đủ loại rất ngon và làm bọn sĩ quan này phải khâm phục tài của mụ.
Sau bữa cơm thịnh soạn, để tránh việc ve vãn làm giảm phẩm giá sĩ quan nữ giới của mình, chọn đúng lúc, đại úy Clara mời khách đang trong tâm trạng nhẹ dạ xem hồ sơ cá nhân của học viên trường này, mụ nói rằng khách có thể thu được tin tức bổ sung trực tiếp qua nữ học viên mà hắn chú ý, và mụ ra lệnh gọi học viên này lên căn phòng dùng riêng cho các sĩ quan thành tra của Cục tình báo.
Phương pháp này của mụ nhằm tránh thái độ suồng sã của các sĩ quan cao cấp hơn đã gây công phẫn và phản kháng cho phó chỉ huy của mụ. Nhưng thái độ này của Nyurka được giải thích không chỉ bằng những lý do đạo đức, mà còn chính do sự ghen tuông hèn kém nhất.
Hiểu điều đó, đại úy Clara Aufbaum nghiêm khắc cho một lời khuyên tương ứng và ra lệnh:
- Trung úy, nghiêm! Vòng đằng sau, bước!
Và trung úy Nyurka đành phải phục tùng các quy tắc nghiêm ngặt của kỷ luật quân đội kể cả ở Cục tình báo lẫn trong các đơn vị quân quốc xã.
•º•
Wilhelm Canaris, con trai giám đốc công ty luyện kim Rua, một sĩ quan trơn của chiếc tuần dương hạm “Bremen” trên căn cứ bơi của Cục tình báo Đức, hắn đã kiếm được nghề chuyên môn nghề đã dẫn hắn tới chức vụ cao: chỉ huy trưởng Cục tình báo Đức.
Canaris được coi là một người trần tục, đôi khi thiên về các lý luận triết học trừu tượng mà hắn dùng để tránh thể hiện những phán đoán trực tiếp và rõ ràng.
Tình bạn của hắn với chỉ huy trưởng Gestapo Heydrich nguyên cũng là sĩ quan tuần dương hạm “Bremen” nhưng sau khi bị đuổi khỏi hạm đội vì các khuynh hướng sai lầm đã được hình thành không phải trên những ký ức niên thiếu.
Cả hai tên đều có đầy đủ cơ sở để sợ nhau, khinh nhau và ghét nhau.
Theo đúng tính dũng cảm kiểu của mình có lẫn cả tính giảo quyệt, chúng coi tình bạn ngoài mặt tốt hơn sự thù địch công khai, coi những vụ đối chọi mặt đối mặt trên đoạn đường ngắn hơn là trận xung đột trên những chặng đường dài, nhưng không phụ thuộc vào quãng đường, nói chung, những vụ đối chọi này cũng nguy hiểm không kém.
Canaris tiến hành có kết quả nhất các chiến dịch tình báo là thường dựa vào phạm vi hoạt động của bọn trùm công nghiệp Đức. Dùng các mối liên hệ quốc tế của mình, bọn này thực hiện một cách rất tự giác và có kết quả những nhiệm vụ tình báo của Cục tình báo phù hợp với lợi ích kinh tế của các consortium Đức. Hơn nữa, ngoài tất cả những điều đó, các consortium còn có riêng ban tình báo chuyên môn nằm trong ngân quỹ các công ty.
Bản tin vô giá đối với quốc trưởng mà Canaris đã thu được cũng là qua các nhân vật cầm đầu nền công nghiệp Đức, và đồng thời là những bạn đồng hành của các nhân viên trùm công nghiệp khổng lồ của Mỹ, Anh, Pháp.
Việc trao đổi tin tức công việc chung chung của những con người thạo việc này chỉ cần ít va chạm nhất và không có học cũng có thể gọi được là công tác gián điệp, mang lại thiệt hại cho an ninh các nước có bọn này là công dân. Nhưng dù thế này hay thế khác, cổ phần có cơ sở vững chắc vẫn được đảm bảo trong tất cả các trường hợp, ngay cả khi giữa các nước này nổ ra chiến tranh đi nữa.
Cũng tất nhiên thôi, Canaris không coi những giám đốc các công ty lớn nhất của Đức sau mỗi chuyến đi nước ngoài trở về như những gián điệp tầm thường và không phải trả công cho chúng bằng quỹ bí mật đặc biệt của Cục tình báo vì sự giúp đỡ về mặt tình báo của chúng. Ngược lại bọn này lại còn sẵn sàng tự đề nghị tặng thưởng cho các bộ trưởng, nguyên soái, thống soái của quốc xã bằng cách đó để bọn chỉ huy cầm quyền đẩy mạnh việc đặt hàng quân sự cho các consortium Đức.
Ngoài ra bọn giám đốc này còn muốn nhận các khoản tiền trợ cấp tương đương để bắt đầu sản xuất hàng nhanh chóng hơn, theo các phát minh kiếm được ở bọn đồng nghiệp nước ngoài mà các xí nghiệp của bọn này cũng đang thực hiện các đơn đặt hàng quân sự của chính phủ chúng.
Thí dụ như mối quan hệ thương mại hoàn toàn có tính chất anh em đã được thiết lập giữa công ty Đức “Karl Zeiss” với “Bausch & Lomb” của Mỹ, và chiều theo người bạn hàng đáng kính công ty Mỹ đã từ chối cường quốc đồng mình là Anh trong việc nước này đề nghị thực hiện đơn đặt hàng về quang học quân sự.
Thế như đã rõ, các nhà máy “Opel” được xây dựng ở Đức đang sản xuất hàng quân sự là sở hữu của công ty Mỹ “General Motor”.
Còn về phần Hugo Stinnes, chủ khu Rua, thì tên này đã thấy trước và thành lập ở nước ngoài tập đoàn “Hugo Stinnes Industries” (ở New York). Ở Anh, tại trung tâm Glasgow, đã mọc lên ngôi nhà cao với biển đề “Hugo Stinnes Limited”. Cần phải nhấn mạnh rằng, trong thời kỳ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hoành hành dữ nhất ở Đức, bọn trùm công nghiệp Đức đã trở nên, có thể nói, cao hơn các thành kiến và bắt đầu có những quan hệ chặt chẽ không chỉ trong mặt tài chính, mà cả trong họ hàng thân thuộc đối với các gia đình chủ xưởng nước ngoài. Khiến cho không một gia đình nào thuộc diện này có thể thoát qua được việc kiểm tra độ lượng nhất trong khu rửa tội chủng tộc của quốc xã.
Vì vậy cái tạo thành bí mật quốc gia nghiêm ngặt nhất, kín đáo nhất chỉ là đối tượng tán gẫu thân mật giữa các viên trùm công nghiệp, tài chính gắn bó với nhau bởi những lợi ích thương mại chung.
Để thúc Hitler đẩy mạnh các kế hoạch xâm lược của mình, bọn trùm công nghiệp Rua đã chú ý khuếch đại các tin tức về khả năng quân sự của Mỹ, Anh, Pháp. Đầu tư cho sản xuất quân sự, áp dụng mọi phương pháp khủng bố kiểu phát xít trong nước mình. Bọn này hy vọng sẽ hoàn toàn làm tê liệt phản ứng của quần chúng.
Ngoài ra chúng cũng mong muốn rằng quốc trưởng không có khái niệm thực sự về năng lực quân sự của Liên Xô, vì điều này có thể phần nào làm giảm yếu tính hiếu chiến của Hitler đối với chủ nghĩa Bolshevik. Hơn nữa các bạn đồng nghiệp nước ngoài của bọn trùm công nghiệp Đức đôi khi cũng độ lượng nhượng bộ đáng kể vì hy vọng chắc chắn rằng nước Đức Hitler, sau khi hành quân sang phương Đông, sẽ tạo ra cơ sở thuận lợi nhất để phát triển các tập đoàn đã đổ vốn đầu tư cùng những khát vọng chính trị của chúng.
Và Wilhelm Canaris, vì sự cung cấp tin tức tình báo mà bọn trùm công nghiệp Đức đã giúp hắn, lại trả nợ bằng cách thông báo cho Hitler rõ phương hướng và tinh thần theo quy ước.
Còn về phần Heydrich, thì số phận hắn là làm tình báo trong nước, công việc này hắn đã làm có kết quả, có chuẩn bị đầy đủ kinh nghiệm cá nhân.
Trong lĩnh vực tình báo và phản gián ở nước ngoài, Heydrich chạy đua với Canaris kém kết quả hơn, vì hắn không có những cán bộ quý giá để làm việc này như đối thủ của hắn.
Để có tin tức từ các chính giới nước ngoài, Canaris có sự giúp đỡ của các gia đình quý tộc có thanh thế ở Đức mà tên tuổi của họ đã được ghi vào tập tuyển văn của Goethe, một cẩm nang dòng họ của các gia đình vương tước nổi tiếng.
Thực vậy, ở đây hắn đành phải dùng tới các khoản lạm chi khổng lồ từ quỹ bí mật của Cục tình báo bằng ngoại tệ phương tây vững giá.
Nhưng những khoản chi phí này bao giờ cũng được đền bù.
Những con người có chức tước vang dội ngay cả khi không giữ các địa vị chính thức trong bộ máy nhà nước vẫn có khả năng tìm hiểu được mọi bí mật chính trị quan trọng nhất trong những cuộc gặp gỡ với các nhân vật cũng giống như chúng ở các nước khác với thái độ tự do qua loa đại khái. Những bí mật này trong cái gọi là xã hội thượng lưu được coi có ít tầm quan trọng hơn nhiều so với các bí mật gia đình xúc phạm đến danh dự các dòng họ nổi tiếng.
Tài năng đặc biệt trong lĩnh vực này, thí dụ như đã được bá tước Gogonloe thể hiện.
Thế lẽ nào sự giúp đỡ của nguyên soái Pháp Petain lại không rất quý giá? Ngay hồi còn là đại sứ Pháp ở Madrid, Petain đã thông báo cho Franco một cách có hệ thống tình hình lực lượng vũ trang Pháp, tin tưởng chắc chắn rằng điều đó sẽ ngay lập tức đến tai Hitler và sự nỗ lực của kẻ báo tin sẽ không bị bỏ quên.
Còn người Mỹ nổi tiếng là Charles Lindbergh lại là kẻ sùng bái quốc trưởng đã được đón tiếp nồng nhiệt ở London! Anh hùng dân tộc Mỹ này đã thông báo một cách có căn cứ với thái độ cố gắng của nô lệ cho các bạn Đức về khả năng hàng không của Mỹ cũng như của Anh.
Còn sự giúp đỡ của Vatican…
Phải, Canaris đã có thể cho phép mình hình dung ra con người nổi tiếng về giáo dục, người bảo hệ nghệ thuật, người nhã nhặn yêu quý chó dachshunds[1], một người kỳ quặc ham thích thổi sáo, trồng trong nhà kính những cây hiếm có vùng nhiệt đới, và khi mặc chiếc áo choàng xẻ thân trước và thân sau, đã tiếp tại biệt thự ngoại ô của mình bọn điệp viên với vẻ long trọng và kính nể mà những viên tai to mặt lớn và những ông chủ công nghiệp Đức xứng đáng được hưởng.
Mặc dù môi trường hoạt động giữa Heydrich và Canaris đã chính thức được phân rõ: Canaris làm công tác gián điệp đối ngoại, Heydrich gián điệp trong nước, nhưng cả hai tên đều mong muốn lọt vào các mặt săn đuổi có lợi đối với nhau.
Heydrich có mục đích theo dõi Cục tình báo, Canaris có mục đích thu thập càng nhiều bẩn thỉu, rác rưởi, càng nhiều tin tức cần thiết cho y về những kẻ nằm trong giới lãnh đạo càng tốt, để nắm lấy bọn này trong trường hợp cần phải trói buộc lại.
Mỗi tên trong cuộc cạnh tranh này đều muốn đánh bại đối thủ, phản trắc để chiếm lấy tài sản của kẻ thua về tay mình.
❀ ❀ ❀
[1] Chó dachshunds: một loại chó săn hay nuôi làm cảnh trong nhà: thân dài, chân dài. - ND. (tr.451)