Lái xe từ văn phòng về nhà thường khiến Tom mất khoảng hai mươi phút, nhưng tối nay đó là một chuyến việt dã liên tục, dừng - khởi động. Tất cả đều do tính giờ, và tối hôm nay anh đã tính sai. Một ban nhạc nam nào đó đến biểu diễn ở Manchester Arena và đường phố đông nghẹt các cô gái trẻ, ngất ngây phấn khích, gần như nhảy chân sáo tới địa điểm biểu diễn cùng với các bậc phụ huynh đầy khoan dung chán nản lê bước theo sau. Anh nhìn những gương mặt hân hoan, tươi cười của họ, và hình ảnh một gương mặt trẻ trung khác, biến dạng do sự tàn phá của cái chết, cứ hiển hiện mồn một trong tâm trí anh. Cho dù đã có chuyện gì xảy ra với đứa trẻ mà họ tìm thấy sáng hôm đó, anh cũng phải tóm cho được tên khốn kiếp đã làm điều đó với cô bé.
Becky đã tình nguyện đảm đương công việc đáng sợ là tới gặp gia đình của hai cô gái khớp với hồ sơ tuổi tác. David Joseph rất dễ tìm, và Becky đã gặp anh ta tại văn phòng công ty anh ta. Tuy nhiên, Amy Davidson được chăm nom từ lúc cô bé lên hai, và không ai biết cha cô bé là ai. Mẹ cô đang ở nhà tù Styal, và bà ấy nhún vai khi nghe nói rằng cảnh sát đang kiểm tra xem liệu một đứa trẻ được phát hiện đã chết trong hoàn cảnh rất đáng ngờ có phải là con bà ấy không. Bà ấy đã không hề gặp con kể từ khi cô bé được đưa đi chăm sóc và cũng chẳng tỏ ra mảy may quan tâm đến con gái mình. Tuy nhiên, bà ấy là nguồn DNA duy nhất họ có thể sử dụng để xác minh nhân thân.
David Joseph lại là vấn đề khác. Anh ta nài nỉ được nhìn cái xác - để đích thân kiểm tra xem liệu đó có phải con gái mình không - nhưng dĩ nhiên Becky từ chối. Họ đã hứa sẽ thúc đẩy việc so sánh DNA, nhưng cô ấy cũng rất chịu khó giải thích cho anh ta rằng có rất nhiều khả năng đây là một đứa trẻ khác. Dù sao họ cần làm cho người đàn ông này an tâm càng sớm càng tốt.
Nhưng nếu đứa trẻ hóa ra không phải là Natasha Joseph thì điều đó sẽ lái cuộc điều tra đi theo một hướng khác hoàn toàn, bởi vì khi cô bé biến mất lúc mới lên sáu, cô bé rõ ràng không hề bỏ trốn và anh không muốn ngẫm nghĩ về những gì có thể đã xảy ra với cô bé trong mấy năm qua.
Trong lúc Becky ra ngoài, Tom đã gọi một cuộc điện thoại. “Jumbo, rất xin lỗi đã làm phiền anh. Tôi chắc anh đang rất bận rộn - nhưng Becky nói anh đã giải quyết vụ Natasha Joseph sáu năm trước. Tôi đã đọc hồ sơ, nhưng tôi nghĩ rất đáng gợi mở bộ nhớ bách khoa thư của anh.”
“Tôi chẳng biết gì về dữ liệu bách khoa thư cả, nhưng tôi nhớ vụ đó rất rõ. Một người đàn ông mất cả vợ và con trong một đêm. Chúng tôi được triệu tập để kiểm tra chiếc xe khi họ biết có một đứa trẻ mất tích. Nhưng tôi không chắc mình giúp được, Tom, bởi vì chẳng tìm thấy gì cả - không vết máu, chắc chắn vậy - ngoài người mẹ, dĩ nhiên rồi. Và cô ấy bị những vết thương khủng khiếp; cổ cô ấy bị gãy rời.”
“Tôi vẫn băn khoăn làm thế nào một cô bé lại thoát ra khỏi xe hơi, bởi vì giả định khóa an toàn cho đứa trẻ vẫn cài. Anh đã đi đến kết luận thế nào?”
“Thành thật thì chúng tôi chẳng hề có được câu trả lời thật sự nào cả. Cánh cửa bên cạnh ghế ngồi của đứa trẻ vẫn còn khóa an toàn cài nguyên, nhưng phía bên kia thì không, cho nên cô bé có thể thoát ra lối đó. Chúng tôi thực sự thắc mắc liệu có ai đó đã cứu cô bé và có thể trông nom nó - nhưng chúng tôi không tìm thấy bằng chứng nào củng cố cho giả thuyết đó, cho nên chúng tôi kết luận rằng chắc chắn cô bé đã thoát ra khỏi xe và cố gắng tìm kiếm sự giúp đỡ và rồi đi lạc mất.”
Jumbo không thể đưa ra được thông tin gì nhiều hơn thế, ít nhiều chính là những gì Tom đang trông đợi. Nếu có gì đó khác thì đã nằm trong hồ sơ rồi.
Vậy thì đứa trẻ đã biến đi đằng quái nào?
Anh vẫn không có câu trả lời khi anh cho xe chạy vào sân nhà và hơi thất vọng nhận thấy rằng xe của Leo không ở đó. Chắc cô ấy lại về muộn. Tom vớ lấy đồ đạc ở ghế sau, bước nhanh tới cửa trước và tra chìa vào ổ khóa, lắng nghe tiếng hệ thống báo động kêu bíp. Anh bước tới hộp điều khiển và tắt nó đi.
Kể từ một vụ đột nhập vào căn nhà riêng của anh ở Cheshire dịp hè trước, Tom trở nên cực kỳ thận trọng. Dường như lúc đó bọn trộm lùng tìm thứ gì đó trong đống giấy tờ của Jack, anh trai anh, và giờ đây vẫn số giấy tờ ấy đang ở đây - trong ngôi nhà này.
Tom biết anh sẽ chẳng bao giờ thư thái hoàn toàn cho tới khi nào anh nhẫn nhịn và lục hết đống giấy tờ để xem liệu anh có thể tìm ra lý do tại sao lại có ai đó muốn đánh cắp chúng - dĩ nhiên trừ phi anh quá trễ, và bọn họ đã tìm thấy những gì họ tìm kiếm hồi mùa hè.
Anh đi tới chạn bếp và lấy một chiếc ly, rót cho mình một suất whisky Glenmorangie đầy đặn và mang sang phòng khách. Anh ngồi trên sô pha, nhanh chóng rời bỏ những tấm đệm mềm mại thoải mái của nó để trườn xuống ngồi trên thảm, lưng anh dựa vào chính chiếc ghế mà anh vừa rời bỏ. Anh vươn tay tới chiếc bàn trà để lấy chiếc điều khiển từ xa và nhấn một nút bấm để chọn một bài hát bất kỳ.
Tom rất cảm ơn Jack về thị hiếu chiết trung trong âm nhạc của anh ấy. Từ thời niên thiếu của Tom tới ngày Jack mất, hai anh em đã có nhiều cuộc thảo luận nảy lửa về chuyện thể loại nhạc nào là nhất.
Tom còn nhớ rất rõ cái đêm đầu tiên Jack bảo anh lên phòng ngủ để được “giáo dục”. Anh ngồi bắt chân trên giường ra sức tranh luận rằng thị hiếu âm nhạc của Jack thật kinh khủng, cho tới khi cuối cùng Jack lôi ra vài lon bia từ dưới gầm giường và dúi một lon vào tay Tom.
“Uống đi, và nghe đây,” anh ấy nói với một chú nhóc Tom mười ba tuổi hơi ngỡ ngàng nhưng đầy sung sướng.
Đó là một thói quen gắn chặt với họ trong suốt quãng đời còn lại của Jack. Mỗi năm vài lần họ gặp nhau, uống bia và nghe nhạc. Tom hiếm khi uống bia vào dịp nào khác. Đó là một nghi thức với Jack, và thế nào đó cái khẩu vị cũng gắn với sự kiện ấy.
Tom nhấp một ngụm rượu. Anh hiếm khi cho phép mình có thời gian nghĩ về Jack, và anh sợ rằng việc nghiên cứu kỹ đống giấy tờ của anh trai mình sẽ mở toang một dạng hộp Pandora*. Số tài liệu ở chỗ luật sư của Jack nhiều năm vì Tom vẫn chẳng quan tâm gì đến, và anh rất thận trọng với ký ức - không phải tất cả các ký ức đều tích cực. Ký ức là thứ khó đương đầu nhất.
Trong thần thoại Hy Lạp, Pandora là một chiếc hộp mà thần Zeus tặng cho nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên đến thế giới loài người. Nàng Pandora được Zeus dặn kỹ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng vì tò mò, Pandora đã mở chiếc hộp ra và tất cả nhưng điều bất hạnh trong chiếc hộp kỳ bí đó tràn ngập khắp thế gian: Thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… Chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút “hy vọng” cho loài người để có thể tiếp tục sống.
Sự thật Jack là người luôn làm theo ý mình, bất chấp luật lệ. Anh ấy ghét cay ghét đắng bất kỳ loại kỷ luật hay kiểm soát nào, và bộ não sắc sảo đến kinh ngạc của anh ấy liên tục tìm kiếm thử thách mới - cuối cùng cho tới khi anh ấy tìm thấy một điều mà sẽ tiếp tục phát triển phức tạp và kích thích trí não phong phú của anh ấy. Máy vi tính. Khi anh ấy có tuổi hơn, nó lại trở thành một nỗi ám ảnh. Từ ngày tự mua cho mình một chiếc ZX Spectrum, Jack hiếm khi rời khỏi phòng.
Tom rất sợ anh ấy. Chàng trai với mái tóc đen buộc thành thứ gì đó tương đương một cái đuôi ngựa, đôi mắt xanh nhạt dường như đốt cháy mọi bề mặt chúng chạm phải, thực tế là anh trai của anh. Jack chỉ lớn hơn Tom ba tuổi, nhưng dường như anh ấy già dặn hơn hẳn về tư thế. Anh ấy lúc nào cũng gọi Tom “thằng em bé bỏng” - gần như thể anh ấy không thể nhớ được tên em mình. Nhưng có những buổi tối đặc biệt khi Tom được phép lọt vào thế giới bí mật là phòng ngủ của Jack, nơi quần áo nằm chất đống trên sàn và ACDC* phóng ra từ những chiếc loa tự chế là thứ chẳng bao giờ quên được.
ACDC (alternating currentdirect current): Dòng điện xoay chiềumột chiều.
Tom uống đầy một ngụm rượu nữa, cố ép tâm trí mình dứt khỏi Jack và hướng tới những điều quan trọng lúc này - như một cô thiếu nữ đã phải chịu đựng những gì chỉ có Chúa mới biết và bị bỏ mặc tới chết trong một cánh rừng ẩm ướt lạnh lẽo.
Anh móc điện thoại trong túi quần dài và bấm một nút.
“Lucy à? Bố đây. Bố nghĩ bố cần gọi nhanh cho con để xem con đang ra sao.”