Một tháng sau.
Nhìn ra ngoài cửa sổ nhà bếp, Emma nhận thấy tất cả những mầm lộc mới của cây cối. Quá nhiều việc xảy ra đến mức cô không nhận ra giờ đã sang xuân. Bên ngoài là một ngày mới quang đãng, tươi tắn, nhưng cô lại thấy mình mong ước rằng bầu trời cứ tối tăm, và rằng cô sẽ thấy một đôi mắt trong ô cửa sổ của một bé gái đứng sau lưng cô. Mỗi lần cô xoay người lại, cô lại mong sẽ nhìn thấy một đứa trẻ với mái tóc vàng óng mặc trên người chiếc áo len quá khổ. Cô sẽ chào đón nó với vòng tay rộng mở.
Cô sẽ bán ngôi nhà này và chuyển đi; cô biết như vậy. Nhưng cô ở lại đây vì Natasha. Đây là nơi duy nhất con bé biết, và việc rời khỏi đây sẽ khiến cô con riêng của chồng cô không còn nơi nào để về, nếu con bé muốn về. Cô không chịu đựng nổi ý nghĩ cuộc sống của Natasha sẽ kết thúc như cô bạn Izzy của con bé. Tom đã xác nhận rằng cô bé tìm thấy trong rừng là Izzy. Dường như chắc chắn rằng cô bé ấy đã tự sát bằng một liều ketamine rất lớn, lấy trộm từ nhà Julie. Rõ ràng các cô gái thường xuyên sử dụng ketamine để xoa dịu bản thân một chút trước khi lũ đàn ông tìm đến. Cho dù cơ sở của Julie bị đóng cửa thì những nơi khác chắc chắn vẫn hoạt động để lấp đầy khoảng trống của thị trường, và ý nghĩ rằng Natasha sẽ kết thúc ở nơi đó khiến Emma thấy lòng quặn thắt.
Trong mấy ngày đầu tiên sau khi Ollie an toàn trở về, cảm xúc của Emma liên tục thay đổi từ niềm vui khôn tả rằng con cô được an toàn sang nỗi lo - dành cho Tasha và cho David. Cô đã ngồi bên giường bệnh của chồng mình suốt ba ngày, cầm tay anh, nghĩ đến những lúc hạnh phúc mà họ đã có bên nhau suốt mấy năm qua, tự hỏi tương lai sẽ mang lại điều gì cho cả hai. Nhưng anh không nói chuyện được với cô nữa. Thương tích của anh quá nặng, và đến ngày thứ ba thì anh mất. Cô hy vọng anh biết được rằng Ollie đã an toàn; cô cứ thầm thì nhắc đi nhắc lại vào tai anh, cầu mong rằng anh có thể nghe được lời cô. Cô cũng đã nói dối về Tasha, nhắn với anh rằng con bé vẫn ổn và đang ở nhà.
Nhưng Emma là người rất thực tiễn, và cô biết rằng - nếu David còn sống - cô sẽ không bao giờ ở chung giường với anh dù chỉ một đêm. Thực tế rằng anh thậm chí dám để vợ và con gái mình trải qua chỉ vài giờ trong cái địa ngục khủng khiếp để bản thân mình thoát khỏi rắc rối cứ giày vò cô, như một cú đánh mạnh vào đầu. Cô sẽ không bao giờ cảm thấy an toàn bên anh và sẽ không bao gìờ để Ollie lại cho anh chăm sóc. Cô rất buồn vì anh qua đời, nhưng cuộc sống của cô với anh đã kết thúc ngay lúc cô biết rõ những việc anh đã làm.
Emma thấy thật sự khó để Ollie rời khỏi mắt mình. Cô ngồi bên thằng bé trong khi nó ngủ và phải cố gắng lắm mới không mang cũi của thằng bé vào phòng ngủ của mình. Chỉ vì cảm giác sợ hãi lan khắp cơ thể cô mỗi lần cô nghe thấy tiếng bước chân trên lối đi rải sỏi, mà cô không thể để cho cậu con trai bé bỏng của mình cũng cảm thấy như vậy.
Tom là nguồn sức mạnh, mặc dù cô biết anh cũng đang phải vật lộn với sự thực rằng Jack còn sống và đang ở đâu đó ngoài kia. Giống như chính cô vậy.
“Tôi cảm thấy mình nên tạm gác công việc lại và đi tìm anh ấy, Em,” đã có hôm anh nói vậy, khi ngồi bên bàn bếp tại nhà cô. “Nhưng đó lại không phải là điều anh ấy muốn - tôi biết như vậy.”
Dường như anh rất buồn kể từ những ngày khủng khiếp ấy. Cô biết anh có một cô bạn gái; anh đã nói qua với cô khi cô tới thăm nhà anh. Nhưng khi cô hỏi Tom liệu anh có định đưa cô ấy đi đâu đó một thời gian không thì anh nói, “Không phải lúc này,” và cô không thể biết thêm gì từ anh.
Mỗi đêm Emma đi ngủ cô đều nghĩ đến Jack và những gì có thể xảy ra. Cô sống lại cái lúc anh chạm vào cô, cái cảm giác về cơ thể anh khi áp sát vào cô ở dưới hầm. Cô đã rất sợ, nhưng có luồng ấm nóng từ anh truyền sang cô. Thậm chí trước khi cô kịp nhận ra anh là ai, cô đã cảm nhận được dòng điện truyền qua người mình. Rồi cô nhìn vào mắt anh, và cô lại mê đi.
Đêm nào của cô cũng dành cho việc chăm nom Ollie và mơ về Jack. Nhưng còn có việc mà cô và Ollie làm, và sẽ tiếp tục làm cho tới khi nào xong thì thôi.
Mỗi sáng khi họ xuống nhà, Emma đều nói thầm với bức chân dung, vẫn treo trong sảnh.
“Em sẽ không bỏ cuộc, chị Caroline,” cô nói.
Sau đó, hầu hết các ngày trong tuần, Emma và Ollie lấy xe và lái đến Manchester hoặc Stockport - thay đổi thời gian và địa điểm liên tục theo khả năng của họ.
Thế rồi Emma tìm thấy nơi đông đúc nhất và úp ngược một cái thùng nhựa trên mặt đất bên cạnh chiếc xe đẩy của Ollie và trèo lên đó. Mọi người luôn đăm đăm nhìn, và đó là lúc cô bắt đầu gọi to.
“Tasha! Chị Natasha Joseph! Về nhà đi, Tasha.”
Ollie cũng gọi theo.
“Chị Tassa,” nó hét to.
Cô chọn những nơi đông người đi mua sắm, nghĩ rằng đám trẻ ăn cắp vặt - đám người mà Tasha có thể biết - sẽ xuất hiện và móc túi, ăn cắp điện thoại di động. Cô đón từng đứa trẻ xuất hiện trên phố trong khi lẽ ra chúng phải ở trường và chìa cho chúng xem ảnh của Natasha. Cô mang theo bánh kẹp và bánh ngọt để tặng cho những người vô gia cư - đổi lại việc họ làm là cầm lấy bức ảnh của Natasha và đưa cho càng nhiều người càng tốt. Cô in ra hàng nghìn áp phích, và phát cho bất kỳ ai có vẻ đang sống cuộc sống giống như Natasha - hay bất kỳ hình thức gì mà giờ đây con bé tự nhận - nhờ họ tìm cô bé trong ảnh và chuyển áp phích cho nó.
Những tờ áp phích ấy thường xuyên bị vứt bỏ khi Emma đi tới - đôi khi trong một thùng rác, nhưng thường xuyên rơi vãi trên vỉa hè. Thế cũng được, bởi vì tờ áp phích không chỉ là bức ảnh của Natasha. Ở đó còn có hình ảnh bé Ollie cười tươi kèm một lời nhắn, và càng nhiều áp phích rơi vãi khắp các ngõ ngách, dán trên tường, nằm trên những con phố bụi bặm, thì khả năng nó sẽ đến được đích càng cao và con bé sẽ đọc được lời nhắn.
Natasha Joseph - hãy về nhà với gia đình của con.
Em trai con nhớ con.