Truyện Kể Dân Gian

Lượt đọc: 450 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hai Người Lữ Hành

❊ ❊ ❊

Núi với thung lũng chẳng thể đến gần nhau, nhưng con người thì dẫu tốt hay xấu vẫn thường hội ngộ. Cứ như thế, một người thợ giày và một người thợ may từng có dịp gặp gỡ nhau trong những chuyến phiêu lưu của họ.

Người thợ may là một anh chàng thấp người nhưng khôi ngô, lúc nào cũng vui vẻ và tràn đầy hứng khởi. Thấy gã thợ giày đang tiến lại gần từ phía đối diện, và nhận ra nghề nghiệp của hắn qua chiếc túi mang theo, anh bèn cất tiếng hát ghẹo:

“Khâu cho nhanh đường tà,

Kéo cho mau sợi chỉ,

Trét nhựa đường vào đi,

Nện đinh vào cho kĩ.”

Thế nhưng, gã thợ giày vốn là kẻ không chịu được đùa cợt; hắn xị mặt ra như vừa uống phải giấm, rồi ra dáng chực tóm cổ người thợ may. Nhưng anh chàng thấp người bật cười, đưa bình nước cho hắn và bảo: “Chẳng có ý ác gì đâu, uống một ngụm đi cho trôi giận.” Gã thợ giày ngửa cổ nốc một ngụm thật đã khát, và cơn giông trên nét mặt hắn cũng bắt đầu tan biến. Hắn trả lại bình nước cho thợ may và nói: “Ta vừa nói chuyện tử tế với ngươi đấy; người ta chỉ có thể nói năng ôn hòa sau khi đã uống no say, chứ lúc khát khô cổ thì không. Hay là chúng ta đồng hành cùng nhau nhé?” “Được thôi,” thợ may đáp, “miễn là ngươi thích đến một thành phố lớn, nơi không thiếu việc để làm.” “Đó cũng chính là nơi ta muốn đến,” thợ may giày đáp. “Ở một xó xỉnh nhỏ thì chẳng kiếm chác được gì, còn ở vùng nông thôn, người ta lại thích đi chân đất hơn.” Thế là họ tiếp tục lên đường cùng nhau, sải bước đều đặn chẳng khác nào con chồn lùi trong tuyết.

Cả hai đều thong thả về thời gian, nhưng lại chẳng có mấy thứ để lót dạ. Khi tới một thị trấn, họ đi vòng quanh để chào mời các thợ cả; và bởi vì anh thợ may trông vô cùng lanh lợi, vui tươi lại có đôi má đỏ hây hây, nên ai nấy đều vui lòng giao việc cho anh. Hơn nữa, những hôm may mắn, anh còn được các cô con gái của chủ thợ tặng cho một cái hôn dưới hiên nhà. Mỗi khi hội ngộ gã thợ giày, bọc hành lý của thợ may lúc nào cũng nặng hơn. Gã thợ giày tính tình cáu kỉnh liền bĩu môi thầm nghĩ: “Đồ khốn nạn nào mà gặp may lắm thế,” nhưng anh thợ may thì cứ cười vang, cất tiếng hát và chia sẻ mọi thứ mình kiếm được với bạn đồng hành. Chỉ cần vài xu lẻ lủng lẳng trong túi, anh liền gọi những món ngon, vui mừng đập bàn thầm chí khiến ly chén nhảy múa, đúng là tiền tài dễ đến dễ đi đối với anh.

Đi được một thời gian, họ bước vào một khu rừng lớn có con đường dẫn thẳng đến kinh đô. Tuy nhiên, có hai lối mòn xuyên qua rừng: một lối đi mất bảy ngày, lối kia chỉ mất hai ngày, nhưng chẳng ai trong hai người biết đâu là lối đi ngắn hơn. Họ ngồi xuống dưới gốc cây sồi và bàn tính xem nên dự tính ra sao, và chuẩn bị bánh mì đủ ăn cho mấy ngày. Gã thợ giày bảo: “Phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, ta sẽ mang theo bánh mì đủ ăn trong một tuần.” “Cúi đầu trước sự đời!” thợ may nói, “lại vác theo bánh mì suốt bảy ngày trên lưng như con lừa thồ mà chẳng thể ngẩng đầu ngắm nghía gì sao? Ta sẽ phó thác vào Chúa và chẳng phải bận tâm điều gì hết! Tiền trong túi ta mùa hè hay mùa đông cũng giá trị như nhau, nhưng vào mùa nóng thì bánh mì sẽ khô và mốc meo; ngay cả chiếc áo khoác của ta cũng chẳng dùng được bao lâu nữa là khác. Hơn nữa, sao chúng ta lại không tìm được con đường đúng chứ? Bánh mì ăn trong hai ngày là đủ rồi.” Thế là mỗi người tự mua phần bánh mì của mình, rồi họ dấn thân vào thử vận may trong rừng.

Trong rừng tĩnh lặng như trong một ngôi nhà thờ. Gió chẳng động, suối chẳng rầm rì, chim chóc chẳng cất tiếng hót, và xuyên qua những tán lá dày đặc chẳng có lấy một tia nắng lọt qua. Gã thợ giày chẳng thốt lấy một lời, ổ bánh mì nặng trĩu đè nặng lên lưng khiến mồ hôi đầm đìa trên khuôn mặt cau có, tối tăm của hắn. Ngược lại, anh thợ may vô cùng vui vẻ, anh nhảy nhót tung tăng, huýt sáo bằng một chiếc lá hoặc cất vang câu hát, và thầm nghĩ: “Chắc hẳn Chúa trên trời phải vui lòng lắm khi thấy ta hạnh phúc thế này.”

Chuyện này kéo dài được hai ngày, nhưng sang ngày thứ ba mà khu rừng vẫn không có điểm dừng, và anh thợ may đã ăn sạch số bánh mì mang theo, khiến lòng anh chùng xuống thêm một thước. Dù vậy, anh vẫn không nản lòng, mà một mực đặt trọn niềm tin vào Chúa và vận may của mình. Chiều ngày thứ ba, anh đói lả nằm vật dưới gốc cây, và sáng hôm sau thức dậy bụng vẫn cồn cào đói khát; ngày thứ tư cũng trôi qua như thế. Khi gã thợ giày ngồi xuống một thân cây đổ để thưởng thức bữa trọn của mình, anh thợ may chỉ đứng nhìn với hai bàn tay trắng. Khi anh xin một mẩu bánh mì nhỏ, gã kia liền cười nhạo báng và đáp: “Ngươi vốn luôn mồm luôn miệng vui vẻ đấy thôi, giờ thì cứ thử một lần nếm mùi đau khổ đi: những con chim hót quá sớm vào buổi sáng thế nào cũng bị diều hâu quắp đi vào buổi tối.” Tóm lại, hắn vô cùng nhẫn tâm. Nhưng đến sáng ngày thứ năm, anh thợ may tội nghiệp chẳng thể đứng vững nổi nữa, kiệt sức đến mức khó lòng thốt nổi một lời; má anh trắng bệch, mắt đỏ hoe. Gã thợ giày bấy giờ mới bảo anh: “Hôm nay ta sẽ cho ngươi một mẩu bánh mì, nhưng bù lại, ta sẽ khoét đi con mắt phải của ngươi.” Anh thợ may bất hạnh, dẫu vẫn tha thiết muốn giữ lấy tính mạng, đành chịu chứ chẳng còn cách nào khác; anh khóc nấc lên một hồi rồi giương mắt ra, còn gã thợ giày với trái tim bằng đá đã dùng một con dao sắc khoét phăng con mắt phải của anh. Anh thợ may sực nhớ lại lời mẹ từng dạy thuở bé khi anh lén lút ăn vụng trong chạn bếp: “Ăn được thì chịu được, cái gì phải gánh thì đành mang.” Sau khi ăn xong mẩu bánh mì đổi bằng giá quá đắt ấy, anh đứng dậy, quên đi nỗi bất hạnh và tự an ủi rằng mình vẫn có thể nhìn đủ rõ chỉ với một con mắt. Nhưng sang ngày thứ sáu, cơn đói lại trỗi dậy, cào xé đến tận tâm can anh. Đến chiều, anh ngã quỵ xuống bên gốc cây, và sáng ngày thứ bảy thì kiệt sức đến nỗi không thể gượng dậy được nữa, cái chết đã cận kề. Lúc bấy giờ, gã thợ giày mới nói: “Ta sẽ rủ lòng thương mà cho ngươi thêm một mẩu bánh mì nữa, nhưng ngươi đừng hòng lấy không, ta sẽ khoét nốt con mắt còn lại của ngươi để đổi lấy nó.” Đến lúc này, anh thợ may mới thấm thía sự nông nổi trong cuộc đời mình, anh cầu xin Chúa tha thứ và cất lời: “Tùy ngươi muốn làm gì thì làm, ta sẽ nhẫn nhục chịu đựng những gì phải chịu, nhưng hãy nhớ rằng Chúa trên trời không phải lúc nào cũng làm ngơ khoanh tay nhìn đâu, sẽ có một giờ đến lúc những việc ác ngươi gây ra cho ta — điều mà ta chưa hề làm gì sai với ngươi — sẽ phải trả giá. Khi ta gặp vận may, ta đã chia sẻ những gì mình có với ngươi. Nghề của ta đòi hỏi từng mũi khâu phải chuẩn xác tuyệt đối như nhau. Nếu ta không còn mắt và chẳng thể khâu vá được nữa, ta chỉ còn đường đi ăn mày. Dù thế nào đi nữa, xin đừng bỏ lại ta ở đây một mình khi ta đã mù lòa, nếu không ta sẽ chết đói mất.” Thế nhưng gã thợ giày, kẻ đã ruồng rẫy Chúa ra khỏi trái tim mình, vẫn cầm dao khoét nốt con mắt trái của anh. Rồi hắn ném cho anh một mẩu bánh mì để ăn, chìa ra một cây gậy và lôi anh đi theo sau.sn

Khi mặt trời lặn, họ ra khỏi khu rừng, hiện ra trước mắt họ ở vùng đất trống là giá treo cổ. Gã thợ giày dẫn anh thợ may mù đến đó, rồi bỏ mặc anh một mình và tiếp tục rảo bước. Sự mệt mỏi, đau đớn và cơn đói đã khiến kẻ khốn khổ chìm vào giấc ngủ và ngủ thiếp đi suốt cả đêm. Khi trời rạng sáng, anh tỉnh giấc nhưng chẳng biết mình đang nằm ở đâu. Có hai kẻ tội đồ đang bị treo lơ lửng trên giá cổ, trên đầu mỗi kẻ có một con quạ đậu. Bỗng một trong hai kẻ bị treo cất tiếng nói: “Này huynh đệ, ngươi thức chưa?” “Ta thức rồi,” kẻ thứ hai đáp. “Thế thì ta bảo ngươi nghe điều này,” kẻ thứ nhất nói; “giọt sương đêm nay rơi xuống từ giá treo cổ này trên người chúng ta chính là thứ nước thần có thể trả lại đôi mắt cho bất cứ ai dùng nó để rửa mặt. Nếu người mù mà biết được điều này, chẳng biết sẽ có bao nhiêu kẻ lấy lại được thị lực, dẫu họ vẫn cho điều đó là không thể.”

Khi nghe thấy thế, anh thợ may liền lấy chiếc khăn tay trong túi, ấn mạnh xuống bãi cỏ, và khi khăn đã thấm đẫm sương đêm, anh bèn dùng nó rửa hai hốc mắt mình. Ngay lập tức, điều mà kẻ trên giá treo cổ vừa nói đã trở thành hiện thực, một cặp mắt mới khỏe mạnh đã lấp đầy hai hốc mắt. Chẳng mấy chốc anh thợ may đã nhìn thấy mặt trời mọc phía sau những dãy núi; ở vùng đồng bằng trước mặt anh là thành phố hoàng gia vĩ đại với những cổng thành nguy nga cùng hàng trăm ngọn tháp, những quả cầu vàng và thánh giá trên chóp tháp bắt đầu tỏa sáng rực rỡ. Anh có thể phân biệt từng chiếc lá trên cây, nhìn thấy những chú chim bay qua và cả đàn mòng bay lượn trong không trung. Anh rút một chiếc kim ra khỏi túi, và khi thấy mình xỏ chỉ khéo léo chẳng kém gì trước kia, tim anh rộn lên vì vui sướng. Anh quỳ sụp xuống, tạ ơn Chúa vì lòng thương xót Người đã ban cho mình, rồi đọc lời cầu nguyện buổi sáng. Anh cũng không quên cầu nguyện cho những kẻ tội đồ khốn khổ đang treo lơ lửng đung đưa qua lại trước gió như những con lắc đồng hồ. Sau đó, anh vác bọc hành lý lên vai, nhanh chóng quên đi nỗi đau thắt ruột gan từng chịu đựng, rồi vừa đi vừa hát vang và huýt sáo vui vẻ.

Thứ đầu tiên anh gặp là một chú ngựa con màu nâu đang tung tăng chạy nhảy ngoài đồng cỏ. Anh chộp lấy bờm nó, định nhảy lên lưng để cưỡi vào thành phố. Tuy nhiên, chú ngựa con lại van xin hãy thả nó đi. “Tôi hãy còn nhỏ lắm,” nó nói, “ngay cả một thợ may nhẹ nhàng như anh cũng sẽ làm gãy đôi lưng tôi mất, hãy để tôi đi cho đến khi lớn khỏe đã. Biết đâu sẽ có lúc tôi đền đáp được ơn này cho anh.” “Thôi, chạy đi,” anh thợ may bảo, “ta thấy ngươi vẫn chỉ là một đứa trẻ dại dột.” Anh quất nhẹ một roi vào lưng nó, chú ngựa liền vui mừng tung hai chân sau, nhảy qua hàng rào lẫn mương nước rồi phi nước đại ra cánh đồng rộng lớn.

Thế nhưng anh thợ may nhỏ bé từ hôm qua đến giờ vẫn chưa có gì vào bụng. “Mặt trời thì đúng là sướng con mắt thật đấy,” anh tự nhủ, “nhưng bánh mì chẳng thể làm đầy cái miệng được. Bất cứ thứ gì đi ngang qua đây mà dẫu chỉ ăn được một nửa thôi cũng sẽ phải làm mồi cho ta.” Ngay lúc đó, một con cò bước đi lững thững oai vệ trên bãi cỏ tiến về phía anh. “Khoan, khoan đã!” anh thợ may hét lên và túm lấy chân nó. “Ta chẳng biết ngươi có ngon lành gì không, nhưng cái đói chẳng cho ta nhiều lựa chọn nữa. Ta phải cắt cổ và quay ngươi lên mới được.” “Đừng làm thế,” con cò đáp; “tôi là một loài chim linh thiêng mang lại nhiều lợi ích cho con người, chẳng ai nỡ ra tay hại tôi cả. Hãy tha mạng cho tôi, tôi sẽ đền ơn anh bằng cách khác.” “Thôi được, đi đi, người anh em Chân Dài,” anh thợ may bảo. Con cò vùng dậy, buông thõng đôi chân dài và nhẹ nhàng vỗ cánh bay đi.

“Rồi chuyện này sẽ đi đến đâu đây?” Cuối cùng anh thợ may tự lẩm bẩm, “cơn đói của ta ngày càng cồn cào, còn dạ dày thì ngày một trống rỗng. Bất cứ thứ gì rơi vào tay ta lúc này cũng đều toi mạng.” Đúng lúc ấy, anh nhìn thấy một đàn vịt con đang bơi lội tiến về phía mình trên một cái ao. “Các ngươi đến đúng lúc thật đấy,” anh nói, chộp lấy một con và toan vặn cổ nó. Ngay lúc đó, một con vịt mẹ đang ẩn mình trong đám sậy liền kêu lên oai oái, bơi bổ tới với cái mỏ há hốc và khẩn khoản nài nỉ anh hãy tha mạng cho những đứa con thân yêu của nó. “Anh có thể tưởng tượng được không,” nó kêu lên, “mẹ anh sẽ đau lòng biết nhường nào nếu có kẻ muốn bắt cóc và ra tay chấm dứt cuộc đời anh?” “Thôi được rồi, cứ yên tâm,” anh thợ may hiền lành bảo, “ngươi sẽ được giữ lại các con mình,” rồi thả chú vịt con tội nghiệp trở lại mặt nước.

Khi quay người lại, anh thấy mình đang đứng trước một thân cây cổ thụ rỗng một phần, và nhận ra vài chú ong rừng đang bay ra bay vào trong đó. “Chắc ở đây ta sẽ nhận được phần thưởng cho việc tốt vừa rồi đây,” anh thợ may nghĩ thầm, “mật ong sẽ làm ta lại sức.” Nhưng ong chúa bay ra, đe dọa anh và bảo: “Nếu ngươi dám động đến thần dân của ta và phá hủy tổ của chúng ta, những chiếc ngòi của chúng tôi sẽ đâm thủng da thịt ngươi chẳng khác nào muôn vàn chiếc kim nung đỏ. Nhưng nếu ngươi để chúng tôi yên và cất bước lên đường, chúng tôi sẽ làm cho ngươi một việc để báo đáp.”

Anh thợ may thấy rằng ở đây cũng chẳng múc dưa được gì. “Ba món ăn trống trơn mà món thứ tư chẳng có gì thì đúng là một bữa tối tệ hại!” Thế là anh lê tấm thân đói lả vào thị trấn, và vì lúc đó vừa đúng mười hai giờ trưa, mọi món ăn ở quán trọ đã được nấu nướng tinh tươm sẵn sàng, thế là anh có thể ngồi xuống dùng bữa ngay lập tức. Sau khi đã no nê, anh tự nhủ: “Bây giờ thì ta phải đi làm việc thôi.” Anh đi quanh thị trấn, tìm một ông chủ và chẳng mấy chốc đã tìm được một chỗ làm ưng ý. Hơn nữa, vì đã nắm vững nghề thợ may, chẳng mấy chốc anh trở nên nổi tiếng và ai nấy cũng muốn được anh thợ may nhỏ bé may cho chiếc áo mới, khiến uy tín của anh ngày một tăng cao. “Về tay nghề thì ta chẳng thể tiến xa hơn được nữa, vậy mà mọi thứ cứ mỗi ngày một tốt đẹp hơn,” anh tự nhủ. Cuối cùng, nhà vua đã phong anh làm thợ may hoàng gia.

Thế nhưng sự đời thường hay xoay vần thật bất ngờ! Ngay chính ngày hôm đó, gã đồng nghiệp cũ của anh là thợ giày cũng được phong làm thợ giày hoàng gia. Khi gã vô tình trông thấy anh thợ may và nhận ra anh đã có lại một đôi mắt khỏe mạnh, lương tâm hắn bỗng chùng xuống vì áy náy. “Trước khi hắn kịp trả thù mình,” gã thợ giày tự nhủ, “mình phải đào sẵn một cái bẫy để hạ gục hắn.” Thế nhưng, kẻ nào đào hố chôn người khác thì chính kẻ đó lại rơi xuống hố. Buổi tối khi công việc đã xong xuôi và trời đã chập tối, hắn lén lút vào yết kiến nhà vua và tâu rằng: “Tâu bệ hạ, tên thợ may kia là một kẻ ngạo mạn và từng ba hoa khoác lác rằng hắn sẽ tìm lại được chiếc vương miện bằng vàng đã thất truyền từ thời cổ đại.” “Ta rất thích điều đó đấy,” nhà vua phán, và Ngài liền hạ lệnh triệu tập anh thợ may vào cung ngay sáng hôm sau, truyền lệnh cho anh phải tìm lại bằng được chiếc vương miện, nếu không phải vĩnh viễn rời khỏi thành phố này. “Ồ kìa!” anh thợ may thầm nghĩ, “một kẻ bất lương lúc nào cũng hứa hươu hứa vượng quá sức mình. Nếu vị vua khó tính này muốn ép ta làm điều mà chẳng ai trên đời làm nổi, ta sẽ chẳng đợi đến sáng mai đâu mà cuốn gói rời khỏi thành phố ngay hôm nay.” Thế là anh gói ghém hành lý, nhưng khi bước ra khỏi cổng thành, anh không khỏi cảm thấy tiếc nuối khi phải từ bỏ vận may và quay lưng lại với nơi đã mang lại cho anh bao điều tốt đẹp. Anh đi đến cái ao nơi anh từng làm quen với bầy vịt; đúng lúc đó, con vịt mẹ mà anh từng tha mạng cho đàn con của nó đang ngồi bên bờ, dùng mỏ tỉa tót lại bộ lông. Nó nhận ra anh ngay lập tức và cất tiếng hỏi tại sao trông anh lại ủ rũ thế kia? “Ngươi sẽ chẳng ngạc nhiên đâu khi nghe những chuyện đã xảy ra với ta,” anh thợ may đáp và kể lại đầu đuôi cơ sự cho nó nghe. “Nếu chỉ có thế thôi á,” con vịt bảo, “chúng tôi có thể giúp anh. Chiếc vương miện đã rơi xuống nước và đang nằm ở tận đáy sâu; chúng tôi sẽ sớm vớt nó lên cho anh thôi. Trong lúc ấy, anh cứ trải chiếc khăn tay của mình lên bờ đi.” Nó lặn xuống cùng mười hai đứa con, và chỉ năm phút sau đã ngoi lên, đậu trên cánh là chiếc vương miện sáng lóa, trong khi bầy vịt con bơi xung quanh, dùng mỏ đỡ lấy và cùng nhau phụ giúp mang lên. Chúng bơi vào bờ và đặt chiếc vương miện lên chiếc khăn tay. Chẳng ai có thể tưởng tượng nổi chiếc vương miện ấy lại lộng lẫy đến thế; khi ánh mặt trời chiếu vào, nó rực sáng như hàng trăm ngàn viên hồng ngọc. Anh thợ may túm bốn góc chiếc khăn lại, mang đến dâng lên nhà vua. Ngài vô cùng mừng rỡ và ban thưởng cho anh một chiếc dây chuyền bằng vàng đeo vào cổ.

Khi gã thợ giày thấy mưu kế đầu tiên thất bại, hắn liền tính kế thứ hai, bèn vào cung yết kiến nhà vua và tâu: “Tâu bệ hạ, tên thợ may kia lại bắt đầu xấc láo rồi; hắn ba hoa rằng hắn có thể làm một bản sao bằng sáp cho toàn bộ cung điện hoàng gia này, từ trong ra ngoài, bất kể chi tiết lớn nhỏ hay rời cố định ra sao.” Nhà vua liền cho triệu tập anh thợ may đến và truyền lệnh anh phải làm một mô hình bằng sáp toàn bộ cung điện hoàng gia cùng mọi thứ thuộc về nó, dù di động hay cố định, bên trong lẫn bên ngoài; và nếu anh không hoàn thành được, hoặc chỉ thiếu dù chỉ một chiếc đinh trên tường, anh sẽ bị tống giam dưới ngục tối suốt quãng đời còn lại.

Anh thợ may thầm nghĩ: “Mọi chuyện càng lúc càng tồi tệ hơn! Chẳng có nổi một ai chịu đựng nổi thử thách này!” Thế rồi anh lại quác gói hành lý lên vai và lên đường. Khi đi ngang qua cái cây rỗng ruột, anh ngồi phịch xuống với cái đầu cúi gằm. Bầy ong bay ra, và ong chúa hỏi thăm xem có phải anh bị sái cổ hay không mà sao lại vẹo cả đầu đi thế? “Than ôi, không đâu,” anh thợ may đáp, “có một chuyện khác nặng đầu hơn nhiều đang đè nặng lên tôi đây,” rồi anh kể lại những gì nhà vua vừa đòi hỏi ở mình. Bầy ong bắt đầu vo ve bàn tán với nhau, và ong chúa bảo: “Anh cứ về nhà đi, nhưng hãy quay lại đây vào giờ này ngày mai và mang theo một tấm vải trải giường thật lớn, mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa thôi.” Thế là anh quay gót trở về, còn bầy ong thì bay thẳng đến cung điện hoàng gia, lách qua những ô cửa sổ đang mở, bò lổm ngổm vào từng ngóc ngách và quan sát mọi thứ vô cùng tỉ mỉ. Sau đó, chúng hối hả bay về và đắp nên mô hình cung điện bằng sáp nhanh đến mức bất cứ ai nhìn vào cũng tưởng như nó đang tự lớn lên trước mắt mình. Đến chiều tối thì mọi thứ đã hoàn tất, và khi anh thợ may quay lại vào sáng hôm sau, toàn bộ công trình lộng lẫy đã hiện ra trước mắt, chẳng thiếu dù chỉ một chiếc đinh trên tường hay một viên ngói trên mái nhà; mô hình vừa tinh xảo, trắng tinh như tuyết lại tỏa hương thơm ngọt ngào như mật ong. Anh thợ may cẩn thận bọc nó vào tấm vải rồi mang dâng lên nhà vua. Ngài trầm trồ không ngớt, đặt nó vào sảnh lớn nhất của mình và ban thưởng cho anh một ngôi nhà đá rộng lớn.

Thế nhưng gã thợ giày vẫn chưa chịu từ bỏ, hắn lại đến yết kiến nhà vua lần thứ ba và tâu rằng: “Tâu bệ hạ, tên thợ may kia đã nghe ngóng được rằng trong sân của lâu đài không có mạch nước ngầm nào phun lên, nên hắn đã khoác lác rằng hắn sẽ làm cho một dòng nước phun trào ngay giữa sân, cao bằng một người và trong vắt như lê ki ma.” Ngay lập tức, nhà vua truyền lệnh điệu anh thợ may đến trước mặt và phán: “Nếu đến ngày mai mà một dòng nước không phun lên trong sân lâu đài như lời ngươi đã hứa, đao phủ sẽ xử chém ngươi ngay tại chỗ đó.” Anh thợ may tội nghiệp chẳng cần suy nghĩ đắn đo lâu, vội vã chạy thục mạng ra cổng thành; và vì lần này liên quan đến sống còn, những giọt nước mắt cứ thế tuôn rơi lã chã trên má anh. Trong lúc anh đang bước đi đầy sầu khổ như thế, chú ngựa con ngày nào được anh phóng thích — giờ đây đã biến thành một con ngựa tía vô cùng lộng lẫy — phi nước đại tiến đến bên anh. “Thời điểm ta trả ơn cho nghĩa cử của anh đã đến rồi,” nó nói với anh thợ may, “tôi thừa biết anh đang cần gì, anh sẽ sớm được cứu giúp thôi; hãy trèo lên lưng tôi đi, lưng tôi có thể chở nổi hai người như anh đấy.” Can đảm của anh thợ may chợt bừng tỉnh; anh chỉ nhún mình một cái là đã ngồi gọn trên lưng ngựa, và chú phi nước đại một mạch vào thị trấn, thẳng tiến vào sân trong của lâu đài. Nó lộn vòng như chớp gia ba lần quanh sân, và đến vòng thứ ba thì ngã quỵ xuống với một cú va đập mạnh. Ngay khoảnh khắc đó, một tiếng sấm sét đinh tai nhức óc vang lên, một mảng đất giữa sân vút bay lên không trung như một quả đạn đại bác vượt qua cả đỉnh lâu đài, và ngay sau đó một cột nước cao bằng một người cưỡi ngựa phun trào vọt lên, dòng nước trong vắt như pha lê và những tia nắng bắt đầu nhảy múa lấp lánh trên đó. Khi chứng kiến cảnh ấy, nhà vua kinh ngạc đứng phắt dậy, bước tới ôm chầm lấy anh thợ may trước sự chứng kiến của tất cả mọi người.

Tuy nhiên, vận may chẳng kéo dài được bao lâu. Nhà vua có rất nhiều công chúa, cô nào cô nấy xinh đẹp hơn người, nhưng ngài lại chẳng có lấy một hoàng tử nối dõi. Thế là gã thợ giày hiểm độc lại đến tìm nhà vua lần thứ tư và tâu: “Tâu bệ hạ, tên thợ may kia vẫn chưa chịu từ bỏ thói ngạo mạn. Giờ hắn lại khoác lác rằng nếu muốn, hắn có thể mang một hoàng tử đến dâng lên bệ hạ từ trên không trung.” Nhà vua liền truyền lệnh triệu tập anh thợ may tới và phán: “Nếu trong vòng chín ngày mà ngươi không mang đến cho ta một hoàng tử, ngươi sẽ được gả cho công chúa lớn của ta làm vợ.” Anh thợ may nhỏ bé thầm nghĩ: “Phần thưởng quả thật vô cùng lớn lao; người ta sẵn sàng làm mọi thứ vì nó, nhưng ngặt nỗi những quả anh đào ở tít trên cao, nếu ta trèo lên hái thì cành sẽ gãy và ta sẽ ngã nhào mất.”

Anh thợ may lủi thủi đi về nhà, ngồi khoanh chân trên bàn làm việc và đăm đăm suy nghĩ xem phải tính sao đây. “Chẳng thể nào làm nổi,” cuối cùng anh kêu lên, “ta sẽ bỏ đi; dù sao đi chăng nữa thì ở đây cũng chẳng thể sống yên thân được.” Anh gói ghém hành lý rồi hớt hải chạy ra cổng thành. Khi ra đến bãi cỏ, anh trông thấy người bạn cũ của mình là chú cò đang bước đi thong thả tới lui như một nhà hiền triết. Thỉnh thoảng con cò lại đứng khựng lại, săm soi một con ếch rồi cuối cùng nuốt chửng nó. Cò tiến lại gần anh và cất tiếng chào. “Tôi thấy anh đang mang hành lý trên vai rồi đấy,” nó mở lời, “sao lại rời khỏi thành phố thế này?” Anh thợ may bèn kể lại những gì nhà vua đòi hỏi mình, rằng anh không tài nào làm nổi và than thở cho vận mệnh hẩm hiu của mình. “Đừng vì thế mà lo lắng đến bạc tóc lên chứ,” con cò bảo, “tôi sẽ giúp anh vượt qua khó khăn này. Từ lâu nay tôi vẫn thường đưa những đứa trẻ bọc trong khăn tã vào thành phố đấy thôi, thế nên lần này tôi cũng có thể ghé qua giếng nước để bồng một vị tiểu hoàng tử ra chứ có khó gì. Cứ về nhà và cứ thong thả đi. Đúng chín ngày nữa hãy có mặt ở cung điện hoàng gia, tôi sẽ đến đó.” Anh thợ may nghe vậy liền an tâm trở về nhà, và đúng hẹn đã túc trực sẵn trong cung điện. Chẳng mấy chốc, con cò đã vỗ cánh bay tới và gõ cửa sổ. Anh thợ may mở cửa, người anh em Chân Dài cẩn thận bước vào, sải những bước oai vệ trên sàn đá cẩm thạch nhẵn bóng. Hơn nữa, nó còn ngậm trong mỏ một em bé đẹp tựa thiên thần đang đưa đôi bàn tay nhỏ xíu về phía hoàng hậu. Con cò đặt đứa trẻ vào lòng hoàng hậu, nàng ôm ấp, hôn hít và sung sướng đến phát cuồng. Trước khi cất cánh bay đi, con cò tháo chiếc túi du lịch trên lưng xuống và trao lại cho hoàng hậu. Bên trong túi là những gói giấy nhỏ đựng kẹo ngọt đủ màu sắc, được chia đều cho các nàng công chúa nhỏ. Riêng nàng công chúa lớn thì chẳng được kẹo nào, mà được chính anh thợ may vui tính làm chồng. “Ta cứ ngỡ như mình vừa trúng giải độc đắc vậy,” anh thợ may tự nhủ. “Mẹ ta nói cấm có sai bao giờ, bà vẫn luôn bảo rằng kẻ nào đặt trọn niềm tin vào Chúa và có chút vận may thì đời nào cũng chẳng bao giờ thất bại.”

Gã thợ giày bị bắt buộc phải làm đôi giày mà anh thợ may sẽ đi trong bữa tiệc cưới linh đình, sau đó hắn bị tống cổ vĩnh viễn khỏi thành phố. Con đường dẫn đến khu rừng đưa hắn đi ngang qua giá treo cổ. Kiệt sức vì căm phẫn, giận dữ và cái nóng oi bức của ban ngày, hắn ngã vật xuống đất. Khi hắn vừa nhắm mắt chuẩn bị chìm vào giấc ngủ, hai con quạ từ trên đầu những kẻ đang bị treo cổ ở đó bỗng sà xuống và mổ phăng đôi mắt của hắn. Trong cơn điên dại, hắn lao vào khu rừng sâu thẳm và chắc hẳn đã chết đói ở đó, bởi chẳng còn ai từng nhìn thấy hay nghe ngóng tin tức gì về hắn nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jacob Grimm And Wilhelm Grimm

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.