Truyện Kể Dân Gian

Lượt đọc: 443 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 192
Bậc Thầy Đạo Chích

❊ ❊ ❊

Một ngày nọ, hai vợ chồng già đang ngồi trước căn nhà tồi tàn, tranh thủ nghỉ ngơi sau giờ làm việc. Bất thình lình, một cỗ xe lộng lẫy kéo bởi bốn con ngựa đen tiến tới, và một người đàn ông ăn vận sang trọng bước xuống. Lão nông đứng dậy, đi tới chỗ vị quý tộc kia, hỏi xem ông ta muốn gì và lão có thể giúp gì được không? Người lạ mặt chìa tay ra cho ông già và nói: "Ta chẳng muốn gì, chỉ muốn thưởng thức một món ăn thôn dã thôi; hãy nấu cho ta vài củ khoai tây theo cách các người vẫn làm, ta sẽ ngồi vào bàn và thưởng thức nó một cách khoái trá." Lão nông mỉm cười đáp: "Ngài chắc là bá tước, hoàng tử, hoặc thậm chí là công tước; các quý ông cao quý thường có những sở thích lạ lùng như vậy, nhưng ngài sẽ được toại nguyện." Người vợ đi vào bếp, bắt đầu rửa và chà sạch khoai tây, rồi nặn thành từng viên như cách dân quê vẫn hay ăn. Trong lúc bà bận rộn với công việc đó, lão nông bảo với người lạ: "Hãy ra vườn với tôi một lát, tôi còn vài việc phải làm." Lão đã đào sẵn vài cái hố trong vườn và giờ muốn trồng cây vào đó. "Ông không có con cái gì à?" người lạ hỏi, "đứa nào có thể giúp ông việc này chứ?" "Không," lão nông trả lời, "tôi từng có một đứa con trai, đúng là thế, nhưng nó đã đi biệt xứ từ lâu rồi. Nó là thằng chẳng ra gì; láu lỉnh, khôn lỏi, nhưng chẳng chịu học hành gì cả mà lại đầy rẫy những trò tinh quái, cuối cùng nó bỏ nhà đi, và từ đó tới nay tôi không còn tin tức gì về nó nữa."

Ông già lấy một cây con, đặt vào hố, cắm một cái cọc bên cạnh, rồi sau khi xúc đất lấp đầy và dậm chặt, lão buộc thân cây vào cọc bằng một sợi dây rơm ở phía trên, phía dưới và ở giữa. "Nhưng nói cho tôi biết," người lạ nói, "tại sao ông không buộc cả cái cây cong queo sần sùi đang nằm ở góc kia, uốn xuống tận sát đất, vào cọc để nó mọc thẳng như mấy cây này?" Ông già mỉm cười nói: "Thưa ngài, ngài nói theo những gì ngài biết thôi, dễ thấy là ngài không rành chuyện làm vườn rồi. Cái cây đó đã già và dị dạng, giờ chẳng ai uốn nó thẳng được nữa. Cây cối phải được uốn nắn khi còn non." "Con trai ông cũng vậy thôi," người lạ nói, "nếu ông uốn nắn nó khi còn nhỏ, nó đã chẳng bỏ đi; giờ chắc nó cũng đã trở nên cứng nhắc và dị dạng như cái cây kia rồi." "Thật sự thì đã lâu lắm rồi từ khi nó bỏ đi," ông già đáp, "chắc hẳn nó đã thay đổi rồi."

"Nếu nó quay về, ông có nhận ra được không?" người lạ hỏi. "Khó mà nhận ra qua khuôn mặt," lão nông trả lời, "nhưng trên người nó có một dấu vết, một vết bớt trên vai trông giống như một hạt đậu."

Khi lão nói xong, người lạ cởi áo, để lộ vai và cho lão nông xem vết bớt hạt đậu đó. "Lạy Chúa!" ông già kêu lên, "Thì ra con chính là con trai ta!" và tình phụ tử dâng trào trong lòng lão. "Nhưng," lão nói thêm, "sao con có thể là con trai ta, con đã trở thành một vị chúa tể cao sang và sống trong giàu sang phú quý? Làm sao con xoay xở được như vậy?" "À, cha," người con trả lời, "cái cây non không được buộc vào cọc nên đã mọc cong, giờ nó đã quá già, không bao giờ thẳng lại được nữa. Làm sao con có được tất cả những thứ đó ư? Con đã trở thành một tên trộm, nhưng đừng lo, con là một bậc thầy đạo chích. Đối với con, chẳng có khóa hay then cài nào ngăn cản được, bất cứ thứ gì con muốn đều thuộc về con. Đừng nghĩ con đi trộm cắp như bọn trộm vặt, con chỉ lấy một chút của cải dư thừa của những kẻ giàu có thôi. Người nghèo thì an toàn, con thà cho họ còn hơn lấy bất cứ thứ gì của họ. Còn với những thứ con có thể đạt được mà không cần nhọc công, gian xảo hay thủ đoạn, thì con không bao giờ đụng tới."

"Ôi, con trai của ta," người cha nói, "ta vẫn không thấy hài lòng chút nào, trộm cắp vẫn là trộm cắp, ta nói cho con biết rồi sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu." Lão đưa con về gặp mẹ, và khi bà nghe đó là con trai mình, bà đã khóc vì sung sướng, nhưng khi nghe nó thú nhận đã trở thành một bậc thầy đạo chích, hai dòng lệ chảy dài trên má bà. Cuối cùng bà nói: "Dù nó có trở thành tên trộm thì nó vẫn là con trai ta, và mắt ta đã được nhìn thấy nó một lần nữa." Họ ngồi vào bàn, và một lần nữa, nó ăn cùng cha mẹ những món ăn đạm bạc mà đã từ rất lâu nó không còn đụng tới. Người cha nói: "Nếu vị bá tước ở lâu đài trên kia biết con là ai và làm nghề gì, ông ta sẽ không ôm con vào lòng và ẵm bồng như khi bế con bên giếng rửa tội đâu, mà sẽ treo cổ con đấy." "Cha cứ yên tâm, ông ta sẽ không làm hại con đâu, vì con rất thạo nghề của mình. Chính hôm nay con sẽ tự mình đến gặp ông ta."

Khi chiều buông, bậc thầy đạo chích leo lên xe và đánh xe tới lâu đài. Vị bá tước tiếp đón hắn lịch sự vì nghĩ hắn là một người quyền quý. Tuy nhiên, khi người lạ xưng danh, vị bá tước tái mặt và im lặng hồi lâu. Cuối cùng ông ta nói: "Ngươi là con đỡ đầu của ta, vì lẽ đó lòng thương xót sẽ thay cho công lý, và ta sẽ khoan hồng cho ngươi. Vì ngươi tự hào là một bậc thầy đạo chích, ta sẽ thử tài ngươi, nhưng nếu ngươi không vượt qua được thử thách, ngươi sẽ phải cưới con gái của gã thợ làm dây thừng, và tiếng quạ kêu sẽ là bản nhạc mừng cho dịp đó." "Thưa bá tước," bậc thầy đạo chích đáp, "Ngài cứ nghĩ ra ba việc, khó đến thế nào cũng được, và nếu con không hoàn thành được, ngài muốn làm gì con thì tùy." Vị bá tước suy nghĩ vài phút rồi nói: "Được rồi, thứ nhất, ngươi phải trộm con ngựa ta dùng để cưỡi trong chuồng ra; tiếp theo, ngươi phải lấy trộm tấm ga trải giường dưới thân ta và vợ ta khi chúng ta đang ngủ mà không để chúng ta hay biết, và cả chiếc nhẫn cưới của vợ ta nữa; thứ ba và cuối cùng, ngươi phải đánh cắp được vị mục sư và thư ký ra khỏi nhà thờ. Hãy nhớ kỹ những gì ta nói, vì mạng sống của ngươi phụ thuộc vào đó."

Bậc thầy đạo chích đi đến thị trấn gần nhất; ở đó hắn mua quần áo của một bà lão nông dân rồi mặc vào. Sau đó, hắn nhuộm da mặt cho nâu sạm và vẽ thêm các nếp nhăn, để không ai có thể nhận ra hắn. Rồi hắn đổ đầy rượu vang Hungary cũ, pha với thuốc ngủ cực mạnh, vào một cái thùng nhỏ. Hắn đặt cái thùng vào giỏ, vác lên lưng rồi đi với những bước chậm chạp, run rẩy tới lâu đài của vị bá tước. Trời đã tối khi hắn tới nơi. Hắn ngồi trên một tảng đá ở sân trong và bắt đầu ho như một bà già bị hen suyễn, rồi xoa xoa hai tay như đang lạnh cóng. Trước cửa chuồng ngựa, mấy người lính đang nằm quanh đống lửa; một người trong số họ thấy bà già, liền gọi: "Lại đây, mẹ già, sưởi ấm bên chúng ta đi. Dù sao thì mẹ cũng không có chỗ ngủ qua đêm, phải kiếm chỗ nào có thể thôi." Bà lão lảo đảo đi tới, van nài họ nhấc chiếc giỏ xuống khỏi lưng mình rồi ngồi xuống bên đống lửa cùng họ. "Trong thùng nhỏ của mẹ có gì thế, bà lão?" một người hỏi. "Một chút rượu ngon," bà đáp. "Tôi sống bằng nghề buôn bán mà, chỉ cần có tiền và lời nói ngọt ngào là tôi sẵn sàng cho các anh một ly ngay." "Vậy thì cho chúng tôi uống ở đây đi," tên lính nói, và khi nếm được một ly, hắn nói: "Rượu ngon thế này thì phải làm thêm ly nữa," rồi tự rót thêm cho mình, những người khác cũng làm theo. "Này các đồng chí," một tên gọi những người đang ở trong chuồng ngựa, "ở đây có một bà cụ bán rượu ngon như chính bà ấy vậy; làm một ngụm đi, nó sẽ làm ấm bụng các cậu hơn đống lửa của chúng ta đấy." Bà lão mang thùng rượu vào chuồng ngựa. Một tên lính đã ngồi lên con ngựa yên cương, một tên khác cầm dây cương trong tay, tên thứ ba nắm lấy đuôi ngựa. Bà lão rót rượu cho đến khi hết sạch. Chẳng bao lâu sau, dây cương rơi khỏi tay kẻ cầm, hắn ngã xuống và bắt đầu ngáy, kẻ giữ đuôi ngựa cũng buông tay, nằm xuống và ngáy còn to hơn. Kẻ đang ngồi trên yên ngựa vẫn ngồi đó, nhưng gục đầu xuống tận cổ ngựa, ngủ và thở phì phò bằng miệng như cái bễ lò rèn. Mấy tên lính bên ngoài cũng đã ngủ say từ lâu, nằm bất động trên mặt đất như đã chết. Khi bậc thầy đạo chích thấy mình đã thành công, hắn đưa cho kẻ thứ nhất một sợi dây thừng thay vì dây cương, còn kẻ giữ đuôi ngựa thì đưa một nắm rơm, nhưng còn kẻ đang ngồi trên lưng ngựa thì sao? Hắn không muốn ném hắn xuống, vì hắn có thể tỉnh dậy và kêu cứu. Hắn nảy ra một ý hay, hắn tháo đai yên ngựa, buộc một vài sợi dây thừng đang treo trên móc tường vào yên ngựa, rồi kéo người lính đang ngủ say lên không trung theo yên ngựa, sau đó hắn quấn dây quanh các cây cột và buộc chặt lại. Hắn nhanh chóng tháo xích con ngựa, nhưng nếu hắn cưỡi nó chạy trên nền đá của sân, họ sẽ nghe thấy tiếng ồn trong lâu đài. Vì vậy, hắn bọc móng ngựa bằng giẻ cũ, dắt nó ra một cách cẩn thận, nhảy lên lưng rồi phi nước đại đi mất.

Khi bình minh ló dạng, bậc thầy đạo chích phi nước đại tới lâu đài trên con ngựa bị đánh cắp. Vị bá tước vừa mới dậy và đang nhìn ra ngoài cửa sổ. "Chào buổi sáng, ngài bá tước," hắn gọi vọng lên, "đây là con ngựa con đã lấy trót lọt từ chuồng ra! Ngài cứ nhìn xem, binh lính của ngài đang nằm ngủ ngon lành thế nào kìa; và nếu ngài cứ vào chuồng ngựa mà xem, ngài sẽ thấy những người canh gác của ngài đã tự tạo sự thoải mái cho bản thân như thế nào." Vị bá tước không nhịn được cười, rồi ông nói: "Lần này ngươi đã thành công, nhưng lần thứ hai sẽ không suôn sẻ như vậy đâu, và ta cảnh báo ngươi rằng nếu ngươi còn xuất hiện trước mặt ta như một tên trộm, ta sẽ xử ngươi đúng như một tên trộm." Đêm đó, khi nữ bá tước đi ngủ, bà nắm chặt bàn tay đang đeo chiếc nhẫn cưới, và bá tước nói: "Mọi cửa nẻo đều đã khóa chặt, ta sẽ thức và đợi tên trộm, nếu hắn lẻn vào qua cửa sổ, ta sẽ bắn hắn." Tuy nhiên, bậc thầy đạo chích đi vào bóng tối tới chỗ giá treo cổ, cắt dây một tử tù đang bị treo ở đó, vác xác lên lưng rồi mang tới lâu đài. Sau đó hắn đặt một cái thang vào phòng ngủ, vác xác chết lên vai rồi bắt đầu leo lên. Khi hắn leo cao đến mức cái đầu của người chết hiện ra ở cửa sổ, vị bá tước đang thức trong giường liền bắn một phát súng lục vào hắn, ngay lập tức bậc thầy đạo chích thả xác tử tù xuống rồi ẩn nấp vào một góc. Đêm đó trăng sáng đủ để bậc thầy đạo chích nhìn rõ vị bá tước bước ra khỏi cửa sổ trèo xuống thang, vác cái xác chết ra vườn và bắt đầu đào một cái hố để chôn nó. "Giờ thì," tên trộm nghĩ, "thời cơ thuận lợi đã đến," hắn nhanh nhẹn lẻn ra khỏi góc tối và leo thang thẳng vào phòng ngủ của nữ bá tước. "Vợ yêu à," hắn bắt đầu bằng giọng của bá tước, "tên trộm đã chết rồi, nhưng dù sao thì hắn cũng là con đỡ đầu của ta, và nó là một đứa lêu lổng hơn là kẻ hung ác. Ta sẽ không làm nó phải nhục nhã công khai; hơn nữa, ta cũng thấy tội nghiệp cho cha mẹ nó. Ta sẽ tự mình chôn cất nó trước bình minh ở trong vườn để mọi chuyện không bị lộ ra, vì vậy hãy đưa ta tấm ga trải giường, ta sẽ bọc cái xác lại và chôn nó như cách người ta chôn chó bằng việc cào đất." Nữ bá tước đưa tấm ga trải giường cho hắn. "Còn nữa," tên trộm tiếp lời, "ta đang dâng trào lòng nhân từ, hãy đưa ta cả chiếc nhẫn đi - kẻ bất hạnh đó đã liều mạng vì nó, nên hãy để nó mang theo vào mộ." Bà không muốn làm trái ý bá tước, và mặc dù miễn cưỡng, bà vẫn tháo chiếc nhẫn khỏi tay và đưa cho hắn. Tên trộm chuồn mất với cả hai thứ này và về nhà an toàn trước khi vị bá tước ngoài vườn kịp hoàn thành việc chôn cất.

Vị bá tước đã dài mặt ra thế nào khi bậc thầy đạo chích tới vào sáng hôm sau và mang trả ông tấm ga trải giường cùng chiếc nhẫn. "Ngươi là phù thủy ư?" ông ta nói, "Ai đã đưa ngươi ra khỏi ngôi mộ mà chính tay ta đã chôn cất ngươi và làm ngươi sống lại?" "Ngài không chôn con," tên trộm nói, "mà là chôn kẻ tử tù trên giá treo cổ," và hắn kể lại chính xác mọi chuyện đã xảy ra thế nào, và vị bá tước buộc phải thừa nhận rằng hắn là một tên trộm thông minh và xảo quyệt. "Nhưng ngươi vẫn chưa đi đến hồi kết đâu," ông ta nói thêm, "ngươi vẫn còn phải thực hiện nhiệm vụ thứ ba, và nếu ngươi không thành công ở việc đó, thì mọi thứ đều vô ích." Bậc thầy đạo chích mỉm cười và không trả lời. Khi màn đêm buông xuống, hắn vác một chiếc bao tải dài trên lưng, một bọc nhỏ dưới cánh tay và cầm đèn lồng đi tới nhà thờ làng. Trong bao tải hắn đựng vài con cua, và trong bọc nhỏ là những cây nến sáp ngắn. Hắn ngồi xuống nghĩa trang, lấy một con cua ra và gắn một cây nến sáp lên lưng nó. Sau đó hắn thắp sáng ngọn nến nhỏ, đặt con cua xuống đất và để nó bò đi. Hắn lấy con thứ hai trong bao ra và làm tương tự, cứ thế cho đến con cuối cùng trong bao. Sau đó hắn mặc một chiếc áo choàng đen dài trông giống áo thầy tu, và dán một bộ râu xám lên cằm. Khi đã hoàn toàn không thể nhận ra, hắn cầm cái bao từng đựng cua, bước vào nhà thờ và leo lên bục giảng kinh. Đồng hồ trên tháp vừa điểm mười hai giờ; khi tiếng chuông cuối cùng vừa dứt, hắn kêu lên bằng một giọng lớn và sắc lẹm: "Hãy lắng nghe đây, hỡi những kẻ tội lỗi, ngày tận thế đã đến! Ngày cuối cùng đã gần kề! Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Kẻ nào muốn cùng ta lên thiên đàng thì hãy bò vào trong bao tải này. Ta là Peter, người mở và đóng cổng thiên đàng. Hãy nhìn xem, những người chết ngoài nghĩa trang kia đang lang thang nhặt nhạnh xương cốt của họ kìa. Hãy đến, đến đây, và bò vào bao tải; thế giới sắp bị hủy diệt rồi!" Tiếng kêu vang vọng khắp ngôi làng. Vị mục sư và thư ký sống gần nhà thờ nhất là những người nghe thấy đầu tiên, và khi họ nhìn thấy những ánh đèn đang di chuyển quanh nghĩa trang, họ nhận ra có chuyện bất thường đang diễn ra nên bước vào nhà thờ. Họ lắng nghe bài giảng một lát, rồi người thư ký huých tay mục sư và nói: "Sẽ chẳng hại gì nếu chúng ta tận dụng cơ hội này cùng nhau, và trước khi ngày cuối cùng bình minh, tìm một con đường dễ dàng để lên thiên đàng." "Nói thật nhé," vị mục sư trả lời, "đó cũng là điều ta đang nghĩ, nên nếu anh muốn, chúng ta sẽ lên đường." "Vâng," người thư ký trả lời, "nhưng ngài là mục sư, ngài đi trước đi, tôi sẽ theo sau." Thế là mục sư đi trước, leo lên bục giảng nơi bậc thầy đạo chích đang mở sẵn bao tải. Vị mục sư chui vào trước, rồi đến người thư ký. Bậc thầy đạo chích lập tức buộc chặt bao tải, túm lấy chính giữa rồi kéo lê xuống các bậc thềm bục giảng, và mỗi khi đầu của hai kẻ ngốc va vào các bậc thang, hắn lại kêu lên: "Chúng ta đang vượt núi đây." Rồi hắn kéo họ qua ngôi làng theo cùng một cách, và khi họ đang đi qua những vũng nước, hắn kêu: "Giờ chúng ta đang đi qua những đám mây ẩm ướt đây." Và khi cuối cùng hắn kéo họ lên các bậc thềm của lâu đài, hắn kêu: "Giờ chúng ta đang ở trên các bậc thang dẫn lên thiên đàng, và sẽ sớm tới sân ngoài thôi." Khi đã lên tới đỉnh, hắn đẩy cái bao vào chuồng chim bồ câu, và khi lũ chim bồ câu đập cánh bay loạn xạ, hắn nói: "Hãy nghe xem các thiên thần vui mừng thế nào và họ đang vỗ cánh ra sao kìa!" Rồi hắn khóa cửa lại và bỏ đi.

Sáng hôm sau, hắn đến gặp vị bá tước và kể rằng mình cũng đã hoàn thành nhiệm vụ thứ ba, đã đưa được mục sư và thư ký ra khỏi nhà thờ. "Ngươi để họ ở đâu rồi?" vị chúa tể hỏi. "Họ đang nằm trên lầu trong một cái bao ở chuồng chim bồ câu, và cứ ngỡ rằng mình đang ở trên thiên đàng." Vị bá tước tự mình đi lên lầu và xác thực rằng bậc thầy đạo chích đã nói thật. Sau khi giải thoát cho vị mục sư và thư ký khỏi chốn lao tù, ông nói: "Ngươi là một bậc thầy đạo chích, và ngươi đã thắng vụ cá cược này. Lần này ngươi thoát thân toàn vẹn, nhưng hãy nhớ rời khỏi đất của ta ngay, vì nếu ngươi còn đặt chân lên đây lần nữa, ngươi cứ liệu mà chuẩn bị cho việc được nâng lên giá treo cổ." Bậc thầy đạo chích từ biệt cha mẹ, một lần nữa dấn thân vào thế giới rộng lớn, và từ đó không ai còn nghe tin tức gì về hắn nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Jacob Grimm And Wilhelm Grimm

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.