Vãn Đường Phù Sinh

Lượt đọc: 7040 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển 1: Chương 11
40

❊ ❊ ❊

Chú thích 1: Huyện Thiện Dương, trị sở của Sóc Châu. Năm Khai Nguyên thứ năm thời Đường Huyền Tông, triều đình phân chia, tách ra lập huyện Mã Ấp, huyện thành đặt tại bên trong thành Đại Đồng Quân cách Thiện Dương ba mươi dặm về phía đông. Khi đó, nơi trị sở của Đại Đồng Quân Tiết độ sứ chính là tại thành Đại Đồng Quân, sau đó mới dời trấn đến huyện Vân Trung.

Chú thích 2: Thiện Dương Lĩnh, khoảng gần vùng hương Đại Hồng Thành, huyện Hòa Lâm Cách Nhĩ, Nội Mông ngày nay. Năm Đại Nghiệp thứ ba thời Tùy, triều đình xây dựng Vạn Lý Trường Thành, Thiện Dương Lĩnh chính là một trong những cửa ải của Trường Thành. Thời Đường tiếp tục tu sửa, mở rộng, đặt Thiện Dương Quan, Thiện Dương Quán, là một trong những nút giao quan trọng của dịch đạo phía tây Thái Nguyên và Sóc Châu. Phía bắc Thiện Dương Lĩnh, bên ngoài Trường Thành còn có Ác Dương Lĩnh.

Về Thiện Dương Lĩnh, Võ Nguyên Hành từng làm thơ, nay chép lại để chia sẻ cùng độc giả. Thi đề "Thiền Vu bãi chiến khước quy đề Thiện Dương Quán":

"Thiền Vu nam khứ Thiện Dương quan, thân trục quy vân đáo xứ nhàn; Tằng thị ngũ niên Liên Phủ khách, mỗi văn hồ lỗ khốc Âm Sơn."

Chú thích 3: Trung Lăng Thủy, đại khái là thượng hạ lưu sông Hồng Hà ngày nay, khởi nguồn từ địa giới Sóc Châu.

Chú thích 4: Năm bộ phía bắc, tức là năm bộ tạp hồ sinh sống ở vùng Đại Bắc, lần lượt là Thổ Cốc Hôn, Hồi Hột, Thát Đát, Hề, Thất Vi. Sa Đà cũng chủ yếu sinh sống ở khu vực Đại Bắc, chia làm ba bộ, tức Sa Đà, Tát Cát, An Khánh. Số lượng người Sa Đà kỳ thực không nhiều, đầu năm Nguyên Hòa, Chu Tà Tẫn Trung dẫn tộc nhân cùng một bộ phận người Hồ thuộc Chiêu Vũ Cửu Tính quy phụ gồm ba vạn người chạy về phía đông, bị Thổ Phồn đuổi giết suốt dọc đường, Tẫn Trung tử trận, trưởng tử Chu Tà Chấp Nghi thu xếp tàn quân, đến Linh Châu đầu hàng triều đình nhà Đường, cầu xin che chở. Sau đó dời đến ở Đại Bắc, bị triều đình nhà Đường cố ý chia làm ba bộ, đến nay chưa đầy bảy mươi năm, trong các bộ ở Đại Bắc kỳ thực chỉ là hàng đàn em. Thời Càn Phù, Đô đốc bộ Sa Đà là Lý Hữu Kim, hoạt động chủ yếu ở hai châu Vân, Sóc; Đô đốc bộ Tát Cát là Mễ Hải Vạn, sinh sống chủ yếu ở Sóc Châu; Đô đốc bộ An Khánh là Sử Kính Tồn, sinh sống chủ yếu ở vùng Đại Châu.

Trong ba bộ Sa Đà kỳ thực xen lẫn rất nhiều người Hồ thuộc Chiêu Vũ Cửu Tính, mà vùng Đại Bắc vốn dĩ đã sinh sống không ít người Hồ Chiêu Vũ Cửu Tính di cư tới, những người này về sau cũng trở thành đối tượng bị ba bộ Sa Đà không ngừng dung hợp, thôn tính, là nền tảng quan trọng giúp ba bộ Sa Đà dần dần lớn mạnh.

Chương 20:

Chú thích 1: Mã Ấp Xuyên, nay là sông Khôi Hà.

Chú thích 2: Lam Châu, thuộc Hà Đông trấn, quản hạt bốn huyện Nghi Phương, Tĩnh Lạc, Hợp Hà, Lam Cốc, trị sở tại Nghi Phương (nay là huyện Lam).

Chú thích 3: Thảo Thành Xuyên, dải đất hình tam giác giữa thành Già Lỗ Quân, thành Khắc Lam Quân và huyện Ninh Vũ, vì sông ngòi dọc ngang, cỏ nước tốt tươi, vật sản phong phú, từ trước đến nay là con đường trọng yếu của các dân tộc du mục phương bắc khi tiến xuống phía nam. Thời Đường đặt Khắc Lam Quân tại đây để "đương tặc thông lộ" (chặn đường thông thương của giặc). Thời Bắc Tống, nơi này là đường biên giới với nước Liêu.

Chương 23:

Chú thích 1: Thạch Châu, trực thuộc Hà Đông trấn, quản hạt năm huyện Ly Thạch, Phương Sơn, Bình Di, Định Hồ, Lâm Tuyền, trị sở tại huyện Ly Thạch (nay là quận Ly Thạch, thành phố Lữ Lương).

Chú thích 2: Bài thơ thứ tư của cuốn sách này, kế tiếp sau La Ẩn, Dương Quảng, Võ Nguyên Hành đã đến, tên là "Hòa Vị Bắc Lưu Đại phu tá tiện thu Già Lỗ, ký triều trung thân hữu" (Họa vần bài Lưu Đại phu Vị Bắc mượn dịp mùa thu tới Già Lỗ, gửi thân hữu trong triều), toàn văn như sau:

Cự trấn vi bang bình, toàn tài tác quốc trinh. Thao linh Hán thượng tướng, văn mặc Lỗ chư sinh.

Báo hổ Quan Tây tốt, kim thang Vị Bắc thành. Sủng thâm sơ thụ khế, uy trọng chính dương binh.

Trận chiếm sơn hà bố, quân am thủy thảo hành. Hạ miêu xâm hổ lạc, tiêu độn thất phiên doanh.

Vân đội toản qua kích, phong hành quyển phái tinh. Hậu không phong hỏa diệt, khí thắng cổ bệ minh.

Hồ mã từ nam mục, Chu sư bãi bắc chinh. Hồi đầu vấn thiên hạ, hà xứ hữu sàm thương.

Chương 24:

Chú thích 1: Lâu Phiền Lĩnh, ở phía tây nam huyện Ninh Vũ khoảng mười dặm, Bắc Tống, Khiết Đan lấy nơi này làm ranh giới, trên núi có Lâu Phiền Quan.

Chú thích 2: Phục Nhung Thành, nay là cổ thành Ninh Hóa, thời Đường gọi là Phục Nhung Thành, thời Tống gọi là Ninh Hóa Bảo, sau đặt huyện Ninh Hóa.

Chú thích 3: Huyện Tĩnh Lạc, nay là huyện Tĩnh Lạc.

Chú thích 4: Lâu Phiền Giám Mục Thành, đầu thời Đường là nơi ở của Lâu Phiền Giám Mục Sứ, thời Khai Nguyên xây thành, nằm ở bờ tây sông Phần, nay nằm trong địa phận huyện Lâu Phiền, vốn là nguồn cung cấp quân mã quan trọng cho vùng biên cương phía bắc thời Đường.

Chương 35:

Chú thích 1: Hựu Châu, tức Hựu Châu mới được thiết lập thời Nguyên Hòa, để phân biệt với Hựu Châu cũ thời Khai Nguyên. Đối tượng quản lý chủ yếu là các bộ lạc Đảng Hạng ở vùng Hà Khúc, vị trí đại khái nằm trong địa phận kỳ Ngạc Thác Khắc, Nội Mông ngày nay, ban đầu quản hạt huyện Diên Ân, trị sở là Du Đa Lặc Thành (cũng gọi là thành Kinh Lược Quân, khi đó là nơi trú quân của Kinh Lược Quân).

Năm Nguyên Hòa thứ chín, điều động "năm trăm kỵ sĩ Hạ Châu, đóng quân tại thành cũ Kinh Lược Quân, ứng viện dịch sứ, kiêm bảo vệ các bộ lạc Đảng Hạng"; "lấy binh sĩ cùng gia thuộc chín ngàn người của Binh mã sứ Trịnh Cảo thuộc hành doanh Thần Sách Phù Thành, để làm đầy quân số Kinh Lược Quân".

Năm Nguyên Hòa thứ mười lăm, Hựu Châu dời trị sở về huyện Trường Trạch, Hạ Châu, từ đó huyện này cũng thuộc quyền quản hạt của Hựu Châu.

Chương 38:

Chú thích 1: Bân Ninh Tiết độ sứ, tức Bân Ninh Tiết độ Quan sát Xử trí đẳng sứ, kiêm Bân Châu Thứ sử, lãnh ba châu Bân, Ninh, Khánh, thiết lập vào năm Chí Đức thứ nhất (năm 756).

Chú thích 2: Thấp Châu, dưới quyền quản lý của Hà Trung Tiết độ sứ, quản hạt sáu huyện Thấp Xuyên, Thạch Lâu, Bồ, Đại Ninh, Ôn Tuyền, Vĩnh Hòa, trị sở tại Thấp Xuyên (nay là huyện Thấp).

Hàn Ác từng làm thơ, tức "Thấp Châu tân dịch tặng Thứ sử":

Hiền hầu tân hoán cổ trường đình, tiên định tâm cơ chỉ cố thành. Cao nghĩa tận chiêu Tần trục khách, khoáng hoài thiên tiếp Lỗ chư sinh. Bình bồng đáo thử tiêu ly hận, yến tước phi lai đái hỉ thanh. Khước tiếu tích hiền giao dịch cực, nhất khai đông các tiện thùy danh.

Chương 40:

Chú thích 1: Xem phần liên quan đến tác phẩm.

Chú thích 2: Tấn Dương đại khái chia làm ba thành Tây, Trung, Đông. Thành Tây lớn nhất, nằm ở phía tây sông Phần, phía đông sông Tấn, do Lưu Côn thời Tây Tấn xây dựng, còn gọi là Phủ Thành. Phủ Thái Nguyên, huyện Tấn Dương đều làm việc tại đây, bên trong có Tấn Dương Cung Thành do quyền thần Cao Hoan thời Đông Ngụy xây dựng (thời Tùy gọi là thành Đại Minh), Cung Thành do Tùy Văn Đế mở rộng (tên là Tân Thành, để phân biệt với cung thành cũ "Đại Minh Thành") và Thương Thành do Tùy Dạng Đế Dương Quảng xây dựng. Thành Đông đứng thứ hai, đại khái chỉ bằng vài phần của thành Tây, nằm ở phía đông sông Phần, xây dựng thời Bắc Tề, huyện Thái Nguyên làm việc tại đây. Giữa thành Tây và thành Đông có thành Trung, được xây dựng thời Võ Tắc Thiên, bắc ngang qua dòng sông Phần, kết nối hai thành Đông, Tây.

Sông Phần ở đây, chỉ dòng sông Phần cổ thời Đường. Nếu nhìn từ vị trí sông Phần hiện đại, cả ba thành đều nằm ở phía tây sông rồi. Chu vi ba thành Tấn Dương tổng cộng 42 dặm, chiều đông tây dài 12 dặm, chiều nam bắc dài hơn 8 dặm, là tòa thành hùng vĩ bậc nhất thiên hạ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.