Đại Hí Cốt

Lượt đọc: 1881 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1455 Đầu Đuôi Sự Việc

❊ ❊ ❊

“Interstellar”!

Lắng nghe nghiêm túc lời giải thích của Andy về đầu đuôi câu chuyện, kết hợp với sự trùng khớp về mặt thời gian, Lam Lễ lập tức suy luận ra toàn cảnh dự án “Christopher Nolan” này.

“Interstellar” chính thức ra mắt vào năm 2014, là một tác phẩm khoa học viễn tưởng được Christopher dốc sức tạo ra trong hai năm sau khi kết thúc công việc quay bộ ba phim “Batman”. Nếu như “Gravity” kể về sự suy ngẫm triết học về nguồn gốc sự sống giữa vũ trụ không gian, thì “Interstellar” lại kể về sự hùng vĩ của thời gian và sự bao la của cảm xúc con người giữa vũ trụ bao la.

Phim kể về một tương lai không xa, môi trường Trái Đất đang ngày càng trở nên tồi tệ, nhân loại gần như không thể sinh tồn, nhưng đồng thời, nhân loại vẫn không từ bỏ kế hoạch tìm kiếm những hành tinh thích hợp để sinh sống ngoài không gian.

Nam chính Cooper là một phi hành gia đã giải ngũ, kết hôn sinh con, sống một cuộc đời bình yên êm ả tại nông trại; sau đó, dưới sự thuyết phục cực lực của Giáo sư, anh đã chọn tham gia lại đội ngũ phi hành gia, tiến vào không gian thăm dò ba hành tinh tiềm năng thích hợp cho nhân loại sinh sống.

Trong quá trình xuyên qua dải ngân hà, họ cảm nhận được một giờ bằng bảy năm tang thương dâu bể, sức mạnh sai lệch của thời gian bộc phát hoàn toàn. Khi họ quay trở về, thế giới đã hoàn toàn khác biệt: người cha vẫn còn trẻ, nhưng những đứa con đã già đi, mối quan hệ giai cấp do xã hội loài người định nghĩa đã bị đảo ngược, họ phải đối diện với nhau như thế nào đây?

Nói một cách đơn giản, câu chuyện ẩn dưới lớp vỏ phiêu lưu khoa học viễn tưởng này, suy cho cùng vẫn kể về một chủ đề vĩ đại về thời gian và cảm xúc, nhân tính và vũ trụ—

Sự ràng buộc tình cảm giữa nam chính Cooper với con trai và con gái mình đã bộc phát năng lượng giữa vũ trụ bao la, từ đó phản chiếu sự hùng vĩ và nhỏ bé giữa sự sống với thời gian, không gian. Đặc biệt là sau khi tách rời khỏi những trói buộc do trật tự cố định về tuổi tác và ngoại hình mang lại, trở về với sự giao lưu tình cảm thuần túy nhất nơi sâu thẳm linh hồn, điều này cũng tiết lộ một nỗi cô độc không thể xua tan.

Nhân loại, cô độc mà đến, cô độc mà đi, có phải mỗi người dành cả đời mình, cuối cùng vẫn chỉ là cô độc hay không?

Bộ phim không đưa ra câu trả lời, mà để khán giả tự mình nghiền ngẫm. Không nghi ngờ gì nữa, đây là một nỗ lực táo bạo của Christopher Nolan, dùng sự ràng buộc tình cảm vốn là tuyến phụ trong “Inception” để làm tuyến chính kể chuyện trong “Interstellar”, từ chiều kích và độ cao của khoa học viễn tưởng và vũ trụ, rơi xuống điểm dừng chân là thứ cảm xúc căn bản nhất và bản chất nhất của con người.

Đây có phải là tác phẩm xuất sắc nhất của Christopher không?

Rõ ràng là không.

Sau khi phim ra mắt, đã dấy lên vô số tranh cãi, nhiều người bắt đầu chất vấn tính hợp lý trong lý thuyết cơ bản của phim, cho rằng nửa sau câu chuyện xuất hiện nhiều vết nứt và lỗ hổng, rồi bắt đầu dùng kiến thức lý thuyết để tấn công toàn bộ khung sườn và lập ý của phim, thậm chí còn chỉ trích ý tưởng của phim là hoang đường.

Nhưng trên thực tế, tất cả lý thuyết của toàn bộ phim—bao gồm lý thuyết cốt truyện và lý thuyết kỹ xảo máy tính, đều đến từ sự suy diễn và tính toán của Kip Thorne. Nói cách khác, mỗi hướng đi của câu chuyện và mỗi sự thay đổi của khung hình, người đạt giải Nobel Vật lý năm 2017 này đều đích thân tính toán, hơn nữa còn thảo luận sâu sắc với đồng nghiệp của mình, cuối cùng mới tạo ra thành phẩm mà khán giả nhìn thấy trên màn ảnh rộng.

Tất nhiên, thảo luận khoa học vốn dĩ đã tồn tại sự bất đồng và tranh cãi, Kip Thorne cũng chưa chắc đã đúng một trăm phần trăm, nhưng không thể phủ nhận rằng, bộ phim đại diện cho một nhánh lý thuyết của các thành quả nghiên cứu hiện tại, có lý có lẽ, đây là điều không thể nghi ngờ. Tất cả các lý thuyết đều chịu được sự kiểm chứng và thử thách, còn những lời chất vấn và chê bai tự cho là đúng đó, đứng trước người khổng lồ, chỉ tổ làm tăng thêm trò cười mà thôi.

Gác lại những tranh cãi này, danh tiếng của bộ phim cũng không thể vượt qua các tác phẩm như “The Dark Knight”, “Inception”, thậm chí còn kém hơn cả “Dunkirk” sau này. Đánh giá tổng hợp của truyền thông là 74 điểm, chỉ số tươi của Rotten Tomatoes là 71%, điểm trung bình 7 điểm, chỉ số bỏng ngô 85%, điểm rạp là B.

Nhưng đáng nói là, “Interstellar” vẫn nhận được sự săn đón nồng nhiệt trong bảng đánh giá của những fan điện ảnh kỳ cựu trên IMDb, số điểm cao ngất ngưỡng 8.6 đã giúp nó thành công lọt vào top 30 trong danh sách 250 phim kinh điển của lịch sử điện ảnh, trở thành tác phẩm đạo diễn thứ ba của Christopher Nolan lọt vào top 30.

Chỉ nhìn vào điểm số thôi cũng có thể thấy, đây không phải là tác phẩm có sức hút phòng vé mạnh mẽ vô địch.

Cuối cùng, con số doanh thu phòng vé toàn cầu cũng đã chứng minh điều này.

Doanh thu phòng vé Bắc Mỹ là 188 triệu, so với vài tác phẩm trước đó của Christopher, “Interstellar” thậm chí không thể bước qua ngưỡng cửa 200 triệu, đây là một thành tích đáng thất vọng. Doanh thu toàn cầu là 677 triệu, hiệu suất xuất sắc ở thị trường hải ngoại vẫn làm nổi bật sức hút quý giá hiện tại của Christopher.

Tuy nhiên, so với chi phí sản xuất 165 triệu, cộng thêm chi phí quảng bá toàn cầu hơn 30 triệu, sổ sách thu chi của bộ phim chỉ có thể coi là kiếm được một chút tiền, chưa đầy 40 triệu USD, mặc dù tránh được bi kịch thua lỗ, nhưng còn xa mới có thể làm hài lòng mọi người.

Nhưng khách quan mà nói, đây lại là một tác phẩm mà cá nhân Lam Lễ rất yêu thích, có thể xếp ở vị trí thứ tư hoặc thứ năm trong các tác phẩm do đích thân Christopher đạo diễn, còn thích hơn cả “Memento” và “The Prestige”, bởi vì Lam Lễ cho rằng, đây là một lần khám phá và thử thách trên con đường đạo diễn của Christopher.

Trước đó, Christopher là một cao thủ chơi đùa với hình thức, chưa kể đến những tác phẩm có cấu trúc khung sườn bay bổng như “Following”, “Memento” và “Inception”, thì việc cắt dựng phân mảnh trong bộ ba “Batman” cũng vô cùng ấn tượng. Thông qua cảm giác sắc bén của ống kính và cắt dựng, ở một mức độ nào đó đã làm giảm bớt sự yếu kém của kịch bản và sự đơn điệu của nhân vật, phóng đại sự chấn động do hiệu quả thị giác và hồi hộp trong tự sự mang lại.

Tác phẩm ngoại lệ duy nhất “The Dark Knight” có thể được tôn vinh là kinh điển lịch sử điện ảnh, cho dù là mười năm sau, vẫn là một đỉnh cao không thể vượt qua của phim chuyển thể truyện tranh siêu anh hùng, chính là ở chỗ ba nhân vật Batman, Joker và Two-Face đã đưa ra lựa chọn và quyết định thuộc về chính mình giữa chính nghĩa và tà ác. “Từ ánh sáng trốn vào bóng tối, lại là vì để bảo vệ ánh sáng tốt hơn”, sức hấp dẫn của sự phản tư triết học này mang lại cho nhân vật là không gì sánh bằng.

“Interstellar” và “The Dark Knight” có điểm chung, mà Christopher còn tiến xa hơn một bước, để ống kính và cắt dựng, kỹ xảo và khung hình tất cả đều phục vụ cho cảm xúc, nỗ lực tạo ra cảm giác tương phản giữa sự hùng vĩ của thời gian và sự nhỏ bé của con người, cuối cùng vẫn rơi vào chính con người.

Đây là một lần mày mò và thử thách quan trọng đối với Christopher, trên con đường trưởng thành của đạo diễn, anh ấy đang thoát khỏi sự trói buộc của cấu trúc và kỹ thuật, thay vào đó để cấu trúc và kỹ thuật phục vụ cho cốt truyện. Sau “Interstellar”, Christopher lại quay “Dunkirk”, rõ ràng đã một lần nữa đạt được tiến bộ, từng bước từng bước vững chắc hướng về phía bậc thầy.

Đồng thời, đây cũng là tác phẩm phụ thuộc vào diễn viên nhiều nhất trong tất cả các tác phẩm của Christopher.

Kiếp trước, “Interstellar” có thể nói là quy tụ dàn sao lừng lẫy, Anne Hathaway, Jessica Chastain, Michael Caine, Casey Affleck, Matt Damon v.v... bất kể vai diễn lớn nhỏ, họ đều vui vẻ chấp nhận lời mời của Christopher, tham gia diễn xuất trong tác phẩm này.

Nam chính do Matthew McConaughey đảm nhiệm.

Từng là bình hoa di động nổi tiếng Hollywood, Matthew luôn đóng những gã lãng tử trong phim hài lãng mạn, hình tượng khuôn mẫu không bao giờ thay đổi, mà phong cách diễn xuất dẻo miệng, mặt dày mày dạn cũng không ngừng lặp lại chính mình. Anh chính là loại diễn viên mà Viện Hàn lâm ghét nhất và bài xích nhất, giống như những diễn viên thần tượng như Robert Pattinson, Kristen Stewart vậy.

Nhưng, sau khi chìm nổi nhiều năm tại Hollywood, gần như suốt hai năm trời không có bất kỳ lời mời đóng phim nào, Matthew cuối cùng đã đau đớn mà tự suy ngẫm, hoàn thành cuộc thay da đổi thịt. Năm 2012, anh đón nhận sự lột xác toàn diện về diễn xuất, trong “Mud”, “The Paperboy” và “Magic Mike” đều có thể nhìn thấy sự thể hiện xuất sắc của anh, và đạt đến đỉnh cao trong “Dallas Buyers Club” năm 2013.

Nếu quỹ đạo lịch sử giữ nguyên không đổi, thì Matthew sẽ giành tượng vàng Ảnh đế tại lễ trao giải Oscar tháng Hai năm 2014 nhờ vào “Dallas Buyers Club”, đây cũng là lần duy nhất anh nhận được đề cử Oscar.

Sau đó, bộ phim truyền hình “True Detective” năm 2014 lại khiến người ta chứng kiến màn trình diễn tinh tế của anh một lần nữa.

Không hề phóng đại khi nói rằng, năm 2012 đến 2014 là thời kỳ hoàng kim diễn xuất của Matthew, trong khoảng thời gian này, diễn xuất của anh có một sức mạnh to lớn bộc phát từ trong ra ngoài, quả thực khiến người ta tâm phục khẩu phục.

Và sau đó, anh dần rơi vào lối mòn, không thể đột phá bản thân cũng không thể vượt qua bản thân. Hơn nữa dưới ảnh hưởng của lời nguyền tượng vàng, việc chọn kịch bản cũng trở nên có chút mông lung, cho đến trước khi Lam Lễ trọng sinh, anh cũng không thể đóng thêm được tác phẩm nào đáng nhắc đến nữa.

“Interstellar” chính là tác phẩm ra mắt năm 2014.

Theo lý mà nói, đây nên là thời kỳ đỉnh cao của Matthew, diễn xuất đương nhiên đáng được khẳng định và đáng được kỳ vọng, nhưng tình hình thực tế lại cần phải nhìn nhận hai mặt.

Từ góc độ tích cực, diễn xuất của Matthew vẫn tinh tế và sống động, nhất là trong vài cảnh quay ở đường hầm không gian, sự bất lực và đắng cay khi đứng trước những thứ có thể nhìn thấy mà không thể chạm tới, ánh mắt của Matthew đã thể hiện vô cùng nhuần nhuyễn, khiến người ta nhìn thấy phong thái của Ảnh đế, đáng để vỗ tay tán thưởng. Nhưng từ góc độ tiêu cực, diễn xuất của Matthew lại không hề phù hợp với tông màu của cả bộ phim.

Nói một cách nghiêm khắc, Matthew không phải là diễn xuất phái phương pháp (Method Acting), mà là diễn xuất phái biểu hiện (Representational Acting), diễn xuất của anh có dấu vết để lần theo, cách nhả chữ và các cử động nhỏ là phong cách diễn xuất của anh, ví dụ như động tác nhai kẹo cao su, động tác vô thức mân mê món đồ nhỏ trên tay, cái chớp mắt lúc ẩn lúc hiện, đặc biệt là cách nhả chữ khi nói chuyện, những chi tiết này đều là điểm nhấn của nhân vật—

Thông qua diễn xuất phái biểu hiện để thiết lập các điểm nhấn chi tiết một cách tỉ mỉ.

Cách diễn như vậy không nghi ngờ gì là thành công, hoàn toàn không có vấn đề gì. Vấn đề nằm ở phong cách tổng thể của bộ phim “Interstellar”, đó là sự hùng vĩ và bao la, nhưng các động tác chi tiết của Matthew quá nhiều, ngược lại trở nên thừa thãi và rườm rà, phá vỡ cảm giác trọn vẹn của cả khung hình. Nhưng nếu tách rời những động tác “thừa thãi” đó ra, thì sự truyền tải cảm xúc trong diễn xuất lại không đủ, không thể đạt được ý đồ ban đầu của Christopher.

Matthew quả thực xuất sắc, nhưng dưới cái nhìn của Lam Lễ, đây lại là một lần chọn vai thất bại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.