Bão táp. Gió Tây-Nam nổi lên dữ dội. Chính xác theo công tơ của Beaufort, tốc độ gió vượt quá cấp 10. Chim mòng không đùa giỡn nữa, không vật lộn, trôi giạt từ Tây Ban Nha sang Laponie, người ta thấy chúng lướt qua rất nhanh, trên con tàu chao đảo. Mặt biển màu xanh lá cây thông dồn ồ ạt trắng xóa. Mạn phía sau, bờ biển nước Pháp khi ẩn khi hiện. Cảm giác vắng bóng thật khó chịu khi ta yêu mến xứ sở của ta. Mạn trước, ta lao mãi vào khoảng xám: lúc thì màu xám của sóng sủi bọt, lúc thì nền trời nhạt màu...
Ngay khi vừa tăng cường những vật ngăn giữ, ngay khi cơn chấn động vừa dội lên, tất cả những hành khách biết phải trái đều muốn quay về.
- Thuyền trưởng, chúng tôi yêu cấu cho tàu quay trở lại!
- Thuyền trưởng, ông dìm chết chúng tôi mất!
- Thuyền trưởng, ông coi chừng đấy, tôi là người có thế lực!
Nhưng, tiếc thay cho những kẻ nhát gan sợ sệt, người chủ duy nhất trên con tàu có thân hình vạm vỡ và nước da đỏ au điển hình của giống người Armoric, cái nhánh phương Tây và cái thân rắn chắc như đá hoa cương của dòng giống Aryens đó, mà một trong những đặc tính tinh thần cơ bản là không bao giờ thay đổi ý kiến. Chính vì vậy người Bretagne được các chủ tàu luôn quý trọng. Dù thời tiết thế nào, họ cũng kiên quyết không chịu quay trở lại. May mà trái đất tròn, một khi ra đi người ta sẽ không thấy lại họ nữa... Từng người, từng người một, những kẻ phản đối thôi không gõ gõ cửa kính phòng lái nữa, họ mỗi lúc một nhợt nhạt tái mặt và, sau lần thử thách cuối cùng về phẩm giá, họ vội vã đưa tay lên miệng và ba chân bốn cẳng chạy tới bờ thành tàu gần nhất. Đúng lúc đó, chuông báo giờ ăn nổi lên. Gabriel gắng gượng tới phòng ăn, đôi lúc chú phải bò bằng cả chân tay, lúc khác lại bị hất tung lăn lông lốc.
Phòng ăn vắng tanh, ghế xích chặt xuống sàn. Chai lọ ở quầy giải khát ca vào nhau kêu lách cách. Chiếc gạt tàn lớn quảng cáo cho một hãng thuốc lá cứ trượt từ bên mặt bàn này sang bên kia, đến nàng Suze cũng chịu không thể mô phỏng được, hết sang mạn trái rồi lại sang mạn phải. Các nhân viên phục vụ bám chặt vào mấy tấm cửa, chào đón những con người dũng cảm với một vẻ nhiệt tình kín đáo của người gác cổng cho một câu lạc bộ Anh: Xin mời ông, thưa ông, ông dùng một chút rượu khai vị cứ ạ? Thế mà hôm nay tôi cứ nghĩ là sẽ không có khách...
Những nụ cười tòng phạm ấy; niềm tự hào ấy (thuộc về dòng quý tộc của ngành hàng hải, những người không bị say sóng), tôi thường động lòng nghĩ lại; chúng đánh dấu giới hạn cuối cùng của một thời thơ ấu. Sau đó, ngay sau đó, bắt đầu cuộc phiêu lưu của tuổi thanh niên.
Chẳng là có một gia đình gồm bốn thành viên lảo đảo xuất hiện nơi lối đi từ mũi đến lái tàu, ông bố, bà mẹ và hai cô con gái nhỏ, họ nắm chặt tay như bị buộc chặt vào nhau... Gabriel chọn một bàn mạn mép phải. Bốn thành viên lảo đảo bước rón rén sang ngồi ở mạn bên kia, điều đó chứng tỏ họ là những người được giáo dục đến nơi đến chốn, kín đáo và tôn trọng người khác.
- Chúng ta mời cái ông không bị nôn kia sang ngồi ăn trưa cùng bàn với ta được không ạ? - Cô gái ít tuổi nhất nói.
- Ann! - ông bố kêu lên. - Xin ông tha lỗi cho cháu, chắc cháu bị mệt, sáng nay cháu ngủ dậy rất sớm.
Vào những lúc khác, chắc chắn Gabriel sẽ đỏ mặt, lắp bắp nói dăm ba lời ngoại giao, cúi gằm mặt vào đĩa đang ăn dở. Nhưng tiếng gió gào, mấy hớp rượu vang Médoc và có thể cũng do việc mới được gia nhập hàng ngũ quý tộc (trong ngành hàng hải) đã làm chú cảm thấy mạnh dạo hẳn lên. Chú đứng dậy, nghiêng đầu:
- Hỡi ôi, thưa ông, cô đây đã nói trước hộ tôi, vì bản thân tôi cũng muốn mời gia đình cùng ăn mừng chuyến vượt biển. Tôi xin tự giới thiệu: Orsenna Gabriel; nhân viên ngoại giao tập sự.
Sau mấy lời chào hỏi xã giao, bị khó chịu ngắt quãng khi phòng ăn của chúng tôi rơi hẫng xuống dưới đáy một con sóng làm dạ dày đột ngột cứ rực lên, ông bố quyết định mời Gabriel ngồi vào bàn cùng gia đình.
Từ trước tới nay, Gabriel chỉ biết mỗi gia đình mình. Và gia đình chúng tôi ít giao tiếp, chỉ là một sự vươn dài của bản thân, về phía thượng lưu và về phía hạ lưu, một thứ phụ thuộc mặn nồng và vướng víu.
Còn ở đây, bên kia chiếc bàn bị rung bần bật làm xáo trộn lung tung, một ông lạ mặt, lạ hoắc, một ông lạ mặt có ánh mắt tươi cười ẩn sau cặp kính tròn đang chìa tấm danh thiếp:
Markus V. Knight
Giám đốc âm nhạc
Thường trú tại London: 17 Arblay Street.
Ở đây, giữa cơn bão này, một cánh cửa mở ra đón một đoàn rồng rắn lộng lẫy, theo thuật ngữ của khách sạn người ta gọi là đoàn tùy tùng.
– Anh có chú ý kỹ không, anh Gabriel? Anh cho phép tôi gọi anh là Gabriel, giám đốc âm nhạc chứ không phải ông bầu đâu. Cầu trời giải thoát cho chúng ta khỏi những tay bầu, nỗi nhơ nhuốc của nền nghệ thuật chúng ta. Không, giám đốc âm nhạc, nghĩa là người luôn đi đó đây, phát hiện các tài năng, vừa được báo cho biết một nốt nhạc đúng ở một nơi nào đó, tôi liền tức tốc tới ngay...
- Cũng nên giải thích với anh Gabriel của chúng ta rõ rằng tài năng càng ít được biết tới, hợp đồng của chúng ta càng thuận lợi, - bà mẹ nói, giọng rất dịu dàng.
Hai cô gái nhỏ phì cười. Ông giám đốc âm nhạc nhổm dậy, giang rộng tay: tôi xin im, anh Gabriel, bây giờ anh biết rõ về số phận của tôi: tính hám tiền thuộc về tôi, còn tính háu ăn thuộc về ba mẹ con, vì giả cứ thử nuôi kém xem, ba vị phụ nữ mỹ miều ngồi quanh anh đây sẽ hét toáng lên ngay. À mà này, anh Gabriel, anh chơi vĩ cầm hay dương cầm?
Quá muộn, quá muộn để đáp lại.
Gabriel bị ngã.
Do xúc động, do chỉ mải giữ không bị đỏ mặt, một công việc mà ai cũng biết là rất phải tập trung, anh đã quên không bíu chặt tay ghế. Tàu bị lệch hướng nên anh ngã lăn quay ra sàn.
- Chúng ta sẽ chết trước khi sang tới bên đó, - bà mẹ kêu to.
- Chán quá và chết giẫm! - Ann, cô bé đã mời tôi, kêu lên.
- Anh không bị gãy xương chỗ nào chứ? - Cô bé kia, cô cả, hỏi. Môi dưới của cô run run, như người sắp khóc.
Còn Gabriel, anh thấy đầu gối đau dữ dội. Vả chăng, tận bây giờ vẫn còn thấy rõ sẹo của vết thương lịch sử đó[1].
Gabriel chuệnh choạng lại leo ngồi lên ghế.
Suốt diễn biến đó, ông giám đốc âm nhạc ngồi im không nhúc nhích. Ông bắt tiếp câu chuyện tựa như đã không có chuyện gì xảy ra:
- Như vậy là anh, anh Gabriel, anh không chơi cả vĩ cầm lẫn dương cầm à?
- Hỡi ôi, thưa ông...
Ông giám đốc âm nhạc cúi xuống bên Gabriel và thì thầm vào tai anh những lời pha trộn kỳ lạ vừa mang tính tâm sự lại vừa mang tính các câu hỏi rất soi mói:
- Anh cũng thấy đấy, tôi không tôn trọng họ lắm đâu. Đúng vậy, từ năm nay tôi chưa thấy ai có thể chấp nhận được. Nhưng rồi anh sẽ rõ, họ cứ nghĩ mọi chuyện đều dễ dàng, tựa hồ các bậc kỳ tài mọc ra dưới mỗi vó chân ngựa bước. Nhưng còn anh, Gabriel, anh cho phép tôi, anh định kín đáo kiếm nhiều tiền bằng cách nào? Tin tôi, phải có đủ hai điều kiện cùng một lúc, nhiều tiền là cần thiết, nhưng chưa hẳn đã đủ đâu. Quan trọng là phải kín đáo. Phụ nữ không ưa những cố gắng lộ liễu. Đúng, nhiều tiền kiếm ra được một cách kín đáo. Đây là bí quyết trong quan hệ tốt với các bà các cô. Tôi đã phải trả giá đắt mới biết được điều đó. Một ngày nào đó tôi sẽ kể anh nghe chuyện này...
Phía bên kia bàn, ba người nữ đang miệt mài lầm rầm. Chốc chốc một người dừng lại, ngẩng đầu, trân trân liếc nhân vật của chúng ta trước khi tiếp tục lầm rầm và cười như nắc nẻ. Rõ ràng là họ không nghe những lời gièm pha ấy của cánh đàn ông, họ có chuyện thú vị khác. Vững dạ, Gabriel đưa ra một số thông tin hết sức cần thiết về công việc của mình.
- Tôi nghiên cứu triết học thực chứng.
- Anh bạn trẻ này, tôi xin nói thẳng ra rằng triết học làm tôi lo ngại, thực chứng làm tôi vững dạ...
Cho dù ngờ nghệch về những chuyện đời, Gabriel vẫn nghĩ rằng mình sẽ bị phản ứng như vậy. Mọi ông bố, đặc biệt và chủ yếu là những ông bố có dính đến nghệ thuật, muốn chọn cho con gái họ những người bạn trai có nghề nghiệp vững chắc. Biết làm sao được?
- Đừng hiểu sai đấy, - ông giám đốc âm nhạc nói tiếp, - tôi rất có thiện cảm với anh và chủ yếu là cái thiên hướng.
Gabriel gật đầu. Anh tán thành. Không có thiên hướng, cuộc đời bồng bềnh. Anh vừa tìm được thiên hướng của mình: mãi mãi đi theo gia đình này, đi khắp nơi.
Người ta bưng ra món đùi cừu nấu sốt bạc hà.
- Kể từ chí năm nay, đây là chuyến vượt biển tồi tệ nhất, - người phục vụ nhận xét, giọng tự hào, - và phụ lặn bị gãy tay...
Ba người nữ, do mải tập trung vào thao tác ăn trưa do hoàn cảnh tạo nên khá nguy hiểm nên lúc này thôi không dò xét nữa. Họ chăm chăm nhìn vào đĩa thức ăn của mình, vào miếng ăn họ lóng ngóng xúc rồi đưa lên miệng và trò chuyện về lễ Giáng sinh, về những món quà họ sẽ được tặng, phải không, bố Markus? Bố có nghe mẹ con con nói không, bố? Có chứ, tất nhiên là có chứ, mong sao con tàu này hạ cố đi đến nơi về đến chốn. Gabriel lợi dụng sự ngơi ngớt này để tìm hiểu mối tình của mình. Mãi lúc này, anh vẫn chưa liếc nhìn họ. Anh thầm nhắc nhủ, điều huyền diệu đang ở đây, bên kia bàn. Và anh đã để dành điều huyền diệu đó, y nguyên tại nơi của nó, bên kia bàn, vì sợ thất lễ. Anh chăm chú nhìn các điểm của trần thế ở bên cạnh điều huyền diệu, ở phía trên, phía dưới. Nhưng không lần nào thẳng chính diện. Không lần nào đương đầu với điều huyền diệu. Còn bây giờ, đã đến lúc rồi. Nào, Gabriel nhủ thầm. Anh cố hết sức bình sinh. Nào! Và thế là anh đưa mắt lần đầu tiên nhìn họ và rồi một lần nữa, và rồi lại một lần nữa... và như vậy, từng phần từng phần một, chiếc má, chiếc trán, một bên thái dương có nước da trong trẻo, một chiếc môi hờn dỗi, lớp lông tơ màu vàng nơi sau gáy, một dáng vẻ sợ sệt khi siết co các ngón tay, chế giễu khi cau mày, những mảng mảnh đã đi vào cuộc đời của Gabriel như vậy đó và dần dần chắp lại trong lòng anh. Ấn tượng ban đầu không lừa dối. Đúng là có điều huyền diệu ở bên kia bàn. Một điều huyền diệu đáng lo ngại. Họ còn tồi tệ hơn như đã được báo trước, xinh đẹp hơn, giễu cợt hơn, đắm say hơn, ôm đồm muốn đưa mọi việc lại gần hơn, cái gì cũng hòa, hòa mãi. Những kẻ sẽ trốn tránh mãi cũng nhiều hơn.
Ngày nay, anh chàng già Gabriel kể lại với bạn câu chuyện này phải quên đi buổi làm quen thân thiết với từng người, anh chàng phải khóa chặt từng cái từng cái một những chiếc giếng riêng biệt của kỷ niệm để tìm lại được cái rõ ràng của buổi chiều ngày 20 tháng Chạp năm 1900 ấy: họ bổ sung tiếp cho nhau. Với tuổi tác cũng vậy, ta có thể nói họ chỉ là một con người ở ba giai đoạn cuộc đời, lúc sáu – bảy tuổi nàng là Ann, mười tuổi nàng có cái tên mà Gabriel vẫn chưa được biết, ba mươi tuổi (cùng lắm là ba mươi mốt) nàng trở thành bà V. Knight. Hoặc màu tóc, khuôn mặt hai bím tóc hoe, khuôn mặt tròn (cô gái út), những mớ tóc cuộn trên tai màu nâu đỏ, hơi nặng nề, gài hai bên khuôn mặt bầu dục như trong bức họa của thành phố Sienne (cô gái đầu lòng), một lùm xoăn đen (tàu lúc lắc thế này, cho phép được bỏ mũ nhé? - Mẹ, như vậy trông mẹ sẽ xấu đấy. - Ann, mẹ van con). Và Gabriel đỏ mặt, lại đỏ mặt một lần nữa, khi người mẹ rất trẻ tháo từng chiếc, từng chiếc cặp to tướng giữ đứng nguyên cái công trình bằng nhung và lông vũ.
Những chi tiết khác của ba nhân vật nữ khó sắp xếp hơn: chúng hình như có cuộc sống riêng của chúng. Tất nhiên, không vất bỏ phần thuộc về gia đình Knight.
Tuy nhiên, chúng đòi lại một chút quyền tự do. Tôi muốn nói đến lúm đồng tiền của Ann, một lúm nhỏ xíu, để xem ở bên nào nào? Đúng rồi, tôi thấy lại rồi, ở cằm bên phải, mỗi lần Ann nghiêm mặt một chút ( những lúm đồng tiền hiếm, sau này những chuyên gia về lúm đồng tiền nói với tôi: những lúm đồng tiền “bình thường” thì thấy xuất hiện khi cười hoặc cố định hẳn). Thế mà các cô chị cả, ta đốt cháy các giai đoạn, tôi rất có thể gọi cô là Clara, lẫn bà mẹ, đều không có chút lúm đồng tiền nào. Hoặc giả, vì tôi vừa gợi nhớ tới Clara, cái cổ của cô ta: dài hiếm thấy (cô mới được mười tuổi, tối đa mười hai), trắng, ẻo lả đến nỗi Gabriel xác định nó là một vật lạ trên đời, một bộ phận cơ thể cô ta đã sáng tạo ra để tiện sử dụng, một khoảng cách, giữa đầu và mình, lúc là dải phòng cháy, no man's land[2] khi Clara ngồi thẳng, lúc là một vòm cầu khi cô cúi xuống đuổi đớp một miếng vừa xúc đặc biệt bất kham do con tàu bị tròng trành.
Và Gabriel muốn ồ! Từng bước từng bước một (ta nên nhớ rằng anh không biết tí gì, đúng là không biết tí gì về đàn bà con gái, ngoại trừ mấy vụ ở khu Latin), ồ! Thận trọng để khỏi bị đỏ mặt, Gabriel muốn hình dung nét giống nhau khác, những nét thân thiết hơn khi một vật, một vật nặng mà anh chợt nghĩ rằng rất có thể là chiếc gạt tàn thuốc lá to tướng đập vào chiếc giày cao cổ ngắn bên phải của anh. Nhưng không phải, chiếc gạt tàn trôi giạt về phía đầu phòng đằng kia. Rồi sao, sao nữa?
Rồi sau đó sự tồn tại buộc phải ngừng. Đèn tắt, mọi tạo vật của Tạo Hóa rời khỏi vị trí chúng đã được phân định từ bao lâu nay, từ khi có nền văn minh, những tiếng ồn ào man dại từ đâu nổi lên; cốc và chai đập vào thành tàu vỡ loảng xoảng, đồ đạc không bắt chắc vào tàu xô dịch lung tung cày cọ sàn; còn con người, thủy thủ, chủ hoặc khách, họ đã mất tất cả vẻ uy nghiêm. Bằng chứng? Hai thủy thủ chịu trách nhiệm dập tắt đám cháy mới nổi lên đang bò lồm cồm tới chiếc bếp nướng tôm hùm vừa bị lật nhào. Chiếc rương Le Havre – Newhaven từ nãy đến giờ cứ rập rình trên sóng lừng. Ngồi rạp ở mạn cạy tàu và hơi nôn nóng muốn đứng dậy, Gabriel và cái gia đình kỳ diệu của anh cố sức bám chắc vào ghế bành của mình. Bữa trưa đã biến mất, đùi cừu, bạc hà, xúp khoai tây, đĩa, khăn ăn, muối, hồ tiêu đã nhập cụm vào đống đổ vỡ, ở đằng kia, trong góc trúng phòng ăn. Chỉ còn lại mỗi chiếc khăn trải bàn ố một vệt dài màu hạt dẻ, màu của nước sốt. Và, suốt trong những giây phút nguy kịch dài vô tận, Gabriel đã coi sự kéo dài này là một di tích cảm động, hữu ái đời thường. Ta muốn sống, anh âm thầm gào lên, ta muốn sống, bây giờ không phải là lúc chết một khi điều huyền diệu ló hiện trước mặt ta, ở bên kia bàn ăn. Cuối cùng chiếc rương quay về, chậm rãi, bất đắc dĩ, quay về với những tình cảm thẳng đứng tốt đẹp nhất. Tóm lại, lại đứng dậy được.
- Thế nào? - Ông giám đốc âm nhạc hỏi
- Con đói. - Ann đáp.
Tình yêu mạnh hơn cái chết. Gabriel, thoát nạn, qua được cơn bão ngày 20 tháng Chạp năm 1900 mà ký biên niên khí tượng học có ghi lại, có thể làm chứng cho điều đó.
Để lấp liếm những bối rối vặt vãnh, Gabriel lăng xăng hối hả, anh tham gia vào những việc khẩn cấp cứu nguy, dưới cặp mắt tin tưởng của ông giám đốc âm nhạc, ông ta tự nhủ rằng quả thật, ở anh, chàng Gabriel dễ thương này, phần cấu thành thực chứng gây yên lòng đã thắng thứ nguyên triết học đáng lo ngại. Nửa giờ sau, một khoanh đùi cừu mới, nóng vừa phải, tưới nước sốt bạc hà có thể so bì với khoanh lúc nãy, hình như còn sánh đặc hơn, xúp khoai tây hầm nóng hơn, nghiền nát hơn lúc trước, nằm trên mấy đĩa đợi bà. Elizabeth thiện ý, vì bà mẹ huyền diệu tên là Elizabeth, lúc này đang dùng góc khăn ăn gột vết bẩn trên áo len đỏ Anh đang mặc. Và Gabriel biết điều tự nhủ là không thể ăn trước bà V. Knight được.
Mấy phút sau, cuối cùng vết bẩn biết rằng mình đang quấy rầy nên lùi biến mất. Bà Elisabeth chúc mọi người ăn ngon miệng và thế là cuộc trò chuyện lại được chắp nối. Người bạn và mấy người bạn nữ huyền diệu của Gabriel chỉ quay về London mấy ngày (Hỡi ôi, ngàn lần hỡi ôi, hy vọng rằng tất cả những chấn động của biển cả này sẽ làm hư hỏng vài cơ quan nào đó trong cơ thể ông giám đốc âm nhạc. Ồ! Không bị nặng lắm, chỉ cốt giam chân ông để lại sức, cứ cho là một tháng để tôi có đủ thời gian bám rễ vào gia đình huyền diệu này). Sau đấy, họ sẽ đi khai phá miền Bắc Hungari (Anh biết Budapest chứ, anh Gabriel? ), miền Tây Tchécoslovaquie, miền Nam Ba Lan, họ được báo cho biết đám người kéo vĩ cầm tương lai, ở rải rác mấy vùng nông thông và cả “một chú bé tung hứng thần diệu trên phím đàn” (đấy là cách nói riêng của đích ông giám đốc âm nhạc) ở vùng giữa Choim và Brest-Litzeck.
- Anh bạn Gabriel có học thức thân mến, anh giải thích thế nào về dữ kiện địa lý, miền Trung Âu là chiếc nôi lớn của âm nhạc. Đôi lúc, vợ con tôi và tôi cứ muốn thay đổi lúc nào trời cũng lạnh, lúc nào cũng xe kéo trượt tuyết, xúp khoai tây... Chúng tôi đã thử đến Địa Trung Hải, lần hồi đi dọc vùng biển, tai dỏng cao. Bản tổng kết thương mại và âm nhạc, con số không. Chẳng có gì hiến tặng thính giả thanh tao những khúc báo kính đơn điệu, những tiếng ve rên rỉ, khó chịu của đàn măngđôlin...
- Dẫu sao nước Italia. - nhà triết học thực chứng đánh liều nói...
Sai lầm, sai lầm chết người.
- Chắc anh muốn nói tới nhạc kịch. - ông giám đốc âm nhạc nói, giọng đột nhiên trở nên băng giá.
- Không, dạ không đâu. - Gabriel đáp. Loft, Vivaldi.
Muộn quá rồi, hố to rồi. Cả bốn người nhìn chăm chăm Gabriel, vẻ sửng sốt, khiếp đảm, tựa hồ như chính tay anh đã giết chết Beethoven. Gia đình Knight ghét cay ghét đắng nhạc kịch. Gabriel chẳng bao giờ, chẳng bao giờ đề cập đề tài này nữa.
Gabriel chẳng bao giờ biết rõ lý do gây nên chứng sợ này. Chắc đấy là một chuyện dan díu của ông giám đốc âm nhạc với một giọng nữ, lỗi lầm của ông đã được lượng thứ, chôn chặt qua năm tháng im lặng mà cái thằng nhóc ngốc nghếch Gabriel này lại làm sống lại? Hoặc bà Elizabeth không cưỡng nổi sự cám dỗ của tên giọng nam cao? Cũng có thể do những chuyện khiếm nhã mang tính nghề nghiệp, một hợp đồng không được tôn trọng chẳng hạn. Các ca sĩ thích hủy hợp đồng vào giây chót, khi nhà hát đã chật kín người, màn sắp kéo và người thay chẳng tìm thấy ở nơi nào. Như vậy ai chịu trách nhiệm, ai phải thông báo cái tin hết sức không vui giữa tiếng huýt sao ầm ĩ của khán giả, ai phải hoàn lại tiền vé? Ông bầu, cho dù ông ta có đổi danh nghĩa là giám đốc âm nhạc. Nhưng tôi hình dung ra, chứ tôi chẳng biết tí gì cả. Gia đình Knight biến mất hút cùng đem theo bí mật của mình. Năm mươi năm sau, tôi chẳng mở lại cuộc điều tra[3].
Biển đã lặng. Những vách đá mênh mông màu trắng của nước Anh từ lúc này đã che gió và nhạc kịch đã phá hủy tất. Gabriel thử ướm đổi đề tài câu chuyện nêu những câu hỏi mỗi lúc một độc đáo: các bác đã nhận biết tài năng như thế nào? Vĩ cầm có khó hơn dương cầm không? Nhưng chẳng ai trả lời anh. Các thành viên trong gia đình Knight giả vờ như không nghe thấy gì, giả vờ đưa mắt qua lỗ cửa kính tròn nhìn ngắm chim mòng hoặc một số cảnh bờ biển, ồ! Tháp cổ thời Trung cổ, tôi đã quên béng mất nó rồi, ồ! Lại những ngôi nhà giống hệt nhau... chẳng ai chú ý bận tâm đến anh. Điều huyền diệu đã cao chạy xa bay, chắc lẩn vào bão táp, về nơi bên kia chân trời, tại nơi không có nhạc kịch.
- Có lẽ ta chỉ còn đủ thời gian thu xếp hành lý. - ông giám đốc âm nhạc nói khi đứng dậy (và ông chìa tay cho Gabriel). - Tạm biệt anh bạn trẻ, rất vui được làm quen với anh và chúc anh gặp may với môn triết học của anh.
Nói xong, ông ta rời phòng ăn. Sau đó đến lượt bà mẹ và cô gái lơn chưa rõ tên, bà ta mỉm cười với anh rất tử tế nhưng đã không hề cho một địa chỉ nào, điều huyền diệu nhất đã mất linh nghiệm. Không có Ann, cô bé ban phước lành và đáng nguyền rủa, ban phước trọn vẹn cũng đáng nguyền rủa muôn đời, vì không có cô, không có cái câu ngắn ngủi nói khi đi ngang qua của cô, nói chơi chơi, mời anh tới thăm chúng tôi. 21 Sloane Street, bố tôi chẳng bao giờ có mặt ở văn phòng của mình, thì cuộc đời Gabriel đâu có là một bãi chiến trường, một sự vắng bóng và thiên đường.
Và thế là họ biến mất. Thời gian Gabriel tìm thấy hai chiếc va li của anh, họ đã biến mất. Gấu chiếc váy xanh nước biển, hai chiếc tất màu trắng đột ngột xuất hiện bên kia ô cửa kính tròn. Một cô gái rất trẻ bước trên cầu tàu vào bến. Sau đó chẳng còn gì nữa. Gabriel đã chạy khắp nơi, gặng hỏi, gọi tên ông Knight, vặn hỏi hải quan, các ông có thấy gia đình Knight đâu không? Không thấy gì. Đứa cháu nội bà Marguerite đã để buột mất điều huyền diệu của mình như bà nội.
Một nhân viên cảnh sát mủi lòng xúc động gần như phải dìu Gabriel ra tàu hỏa và mãi sau này, lần tàu dừng ở Croydon, anh mới hoàn hồn. Anh liền lấy từ trong vali ra quả bóng bằng mút ưa thích của mình và bắt đầu bài luyện bóng. Trên bất kỳ buồng ngăn nào của bất kỳ nước nào khác, chắc người ta đã ôm chặt anh chàng thiếu niên gàn gàn này và kêu tướng lên anh chàng là một kẻ điên. Nhưng nước Anh là nước có lòng khoan dung. Những người cùng buồng ngăn với Gabriel quan sát cảnh đó, lòng không chút bực bội. Một thanh niên để râu và hút tẩu, loại người muốn già đi qua những vật dụng của mình, ngừng rít tẩu một lát và bảo: này. Những hành khách khác quay về phía người vừa nói, ánh mắt họ để lộ vẻ thấy chướng, hình như về chuyện muốn len vào đời tư người khác của chàng thanh niên nọ.
Gabriel lọt vào London (Ga Victoria) trong tình cảnh như vậy, anh vừa đi vừa đập bóng và sẵn sàng đương đầu với trở ngại thứ hai.
❀ ❀ ❀
[1] Gabriel lãng mạn. Em đã nhìn kỹ, ngay cả vào mùa hè, khi anh ngủ và chẳng thấy vết sẹo nào. (Chú thích của Ann).
[2] Vòng đai trắng (Tiếng Anh trong nguyên bản, N.D.)
[3] Hy vọng là như vậy. (Chú thích của Clara.)