Họ kia rồi. Một chiếc bàn lớn kê gần các cửa sổ, một bó hoa màu xanh lơ đặt giữa các cốc. Họ kia rồi, bà Élizabeth mặc đồ đỏ, hai chị em mặc đồ trắng ngà, ông Markus đội chiếc mũ rơm đáy bằng của người đi câu, lệch hẳn sang trái, họ kia rồi, bốn người nhà Knight, có mấy cậu thiếu niên gầy còm lăng xăng săn đón (chắc chắn đấy là mấy thần đồng chán ngấy). Cuối cùng họ kia rồi. Và họ không nhận thấy Gabriel đã tới, hai tay xách hai va li, họ không nghe thấy tim anh đập rộn. Họ tiếp tục trò chuyện tựa hồ như đã không có gì xảy ra, họ giảng giải cho những thần đồng rõ các thực đơn ở khách sạn Washington và Albany, họ gọi rượu trắng, để mở đầu… Đúng lúc Gabriel định bỏ cuộc, định bỏ đi (anh chẳng còn can đảm nữa), đúng lúc giấc mơ chỉ là giấc mơ, kỷ niệm về lần vượt eo biển Manche diệu kỳ giữa trời giông tố, mãi mãi chỉ là giấc mơ và không hơn không kém, đúng lúc cuộc đời trở thành cuộc đời, một cuộc đời vô vị, có thể có sung sướng, một đám cưới ở Clermont – Ferrand với một cô Marie – Bénédicte, một bước tiến của nhà Kỹ sư, đúng lúc đó bà Élizabeth kêu to “Gabriel kìa!”., rồi sau đó ba người kia cũng kêu to “Gabriel, anh Gabriel kìa!” Họ đứng bật dậy, họ vây quanh anh, họ ôm chầm lấy anh, Gabriel được giới thiệu với mấy chú thần đồng chán ngấy, đây là anh Gabriel, con rể tôi, ông Markus Knight nói thêm, ông nắm tay phải của anh và cả căn phòng, những bàn khác, những người hầu bàn, bồi bàn đều đổ dồn nhìn Gabriel ngồi xuống ghế. Họ nhìn giấc mơ đó đang trở thành hiện thực. Đột nhiên không khí ấm áp phảng phất nổi bấp bênh lưỡng lự là liệu có nên vỗ tay hoan hô không? Không vỗ tay, nỗi xúc động thật khó chịu, nhưng sau đó không thấy ai vỗ tay, những người ăn tối mỉm cười, bữa tối lại tiếp tục, tiếng dĩa, dao lách cách trên đĩa, cốc lại chạm nhau. Cái ngày 17 tháng Bảy năm 1913 đó Gabriel Orsenna đã ngự trong mối tình của mình. Trên tàu, tôi bao nhiêu tuổi ấy nhỉ? Ann hỏi. Anh khỏe không? Clara hỏi. Đừng làm anh ấy quá mệt mỏi, anh ấy vừa tới, bà Élizabeth nói xen vào. Hỏi, trả lời, ồn ào, chẳng ai nghe ai, ai cũng nói, người ta nói vì không ôm được nhau vào lòng, chẳng là bàn quá rộng, người ta tuôn ra những từ, những từ làm nhiệm vụ các cầu hàng không: anh không hề thay đổi. Clara khẽ bảo, mắt nhìn chằm chằm vào Gabriel. Chà! Con thấy thế thôi, bà Élizabeth nói và nháy mắt với Gabriel, còn mẹ, mẹ thấy anh ấy, biết nói thế nào nhỉ, đã dày dặn. Để xem, cứ để xem sao, Ann lầm rầm, mỗi lời nói là một dự định hoặc một kỷ niệm, mở một cánh cửa trông ra phía trước, trông ra phía sau, hướng về tương lai, trông lại quá khứ, và nhiệt tình bốc lên, một nhiệt tình mà Gabriel chưa bao giờ cảm thấy cũng chẳng bao giờ quên được rằng thị trường kỳ lạ khổng lồ là tình yêu, một thương trường quá lớn: người ta lọt vào một thế giới và một thế giới lọt vào bạn. Bao trao đổi làm bầu không khí nóng lên gây cảm giác như đang là mùa hè.
Về điểm này, sự dịu dàng gây đau đớn, cần phải đánh lạc mục tiêu. Người ta làm ra vẻ quan tâm đến những thần đồng tẻ ngắt. Lúc này bạn đang chuẩn bị gì, ồ! Bản dạ khúc số sáu cả Chopin, chỗ khó là nhịp thứ mười sáu, đúng không, bạn sự dụng ngón nào?
Còn Gabriel chẳng biết chút gì về xướng âm, chẳng hiểu nội dung câu chuyện đang trao đổi, do đó thấy yên tâm về việc phát hiện ra đặc tính kỹ thuật của âm nhạc. Anh tự nhủ rằng tình yêu cũng vậy, phải tinh thông, phải học hỏi những điều cần thiết, anh sẵn sàng làm tất cả mọi việc vì nhà vua tương lai của cao su chẳng sợ những gì là vẻ duyên dáng, vẻ duyên dáng và những điều bức chế của nó, sự bất công thuần túy, người thợ vào giờ thứ mười một chỉ việc đến nhận miếng ăn của mình mang đi.
Những vị thần đồng chẳng dễ bị mắc lừa về sự chú ý quá đáng này. Chúng biết đấy chỉ là giờ giải lao. Nếu có ít tiếng động hơn, chắc người ta nghe rõ tiếng gầm gừ giận dữ của chúng, nhất là khi ông bầu kiêm người đã phát hiện tài năng của chúng cấm chúng cắt miếng thịt chúng đang ăn.
- Để bọn ta giúp các cháu, ngày mau các cháu có cuộc biểu diễn, không nên bấu chặt các ngón tay vào chuôi dao để cắt thịt như vậy…
Do đó cả gia đình Knight, kể cả chàng rể, ngồi cắt thịt bò thành những hình khối nhỏ, đúng lúc đó ông Knight đột xuất tuyên bố ngày cưới.
- Theo đúng lệnh là ngày 30 tháng Tám, hôm sau chúng ta đã phải rời đi London.
- Tôi sẽ lo liệu tất, - bà Élizabeth bảo. Bà nhìn Gabriel, miệng cười hơi có vẻ hạ cố của Đấng Sáng Tạo với kẻ mình đã tạo ra: thế nào, anh thấy vui chứ, anh thấy đấy, cũng bõ công chờ đợi.
- Mẹ nói gì thế? Ann hỏi.
- Chẳng có gì cả, một điều bí mật giữa anh Gabriel và mẹ. Mẹ chẳng muốn để các cô ăn sống nuốt tươi anh ta, các con gái yêu quý của mẹ ạ…
Hai chị em đỏ bừng mặt. Do sắp phải biểu diễn, các thần đồng không được phép uống rượu.
- Thôi được rồi, bây giờ anh ngủ ở đâu? – Ông bầu hỏi.
Clara tái mặt. Ann bắt chước bố, giọng rất con trẻ:
- Đúng đấy, anh ngủ ở đâu nhỉ?
Và thế là ông chủ khách sạn liền được triệu ngay tới bên bàn ăn.
- Rất tiếc, thưa ông, đêm nay các phòng ở khách sạn đã có người trọ cả. Ngày mai, tôi xin hứa với ông đấy…
Người ta quyết định chàng rể tương lai ngủ chung với các thần đồng, đàn ông với nhau, đúng không anh Gabriel, anh không thấy phiền chứ? Tất nhiên Gabriel muốn được sống một mình, vì anh có biết bao dự định trong tối nay. Thoạt đầu anh muốn được thủng thẳng suy ngẫm trong bầu không khí oi bức của mùa hè và làm quen với sự hiện diện quá mới mẻ, nằm sâu kín trong lòng anh, một thực tế quan trọng và vui sướng mà anh tự hỏi không biết có phải vấn đề xuất phát tự tâm hồn anh không. Trả lời một câu hỏi tương tự cần phải tế nhị. Nhưng liệu Gabriel có thể bắt đầu những mối quan hệ của mình với ông bố vợ tương lai bằng một chứ không đầy thóa mạ? Anh đã trả lời rằng chắc chắn mình rất lấy làm vui được chia sẻ căn buồng với các vị đáng kính mà anh sẽ không quấy rầy giấc ngủ, vì sau một buổi tối đáng ghi nhớ như tối nay, anh chẳng muốn đọc sách trước khi ngủ.
- Tốt lắm, anh Gabriel! – Ông bầu bảo. Không biết mình có nên ôm hôn Ann không? Không biết mình có nên ôm hôn Clara không? Nhân vật của chúng ta tự hỏi thầm. Anh cho rằng cách biểu lộ tình cảm như vậy có lẽ hơi quá sớm. Do đó, anh đứng dậy, hai tay xách hai chiếc va li và tiến đến bên thang máy, anh cảm thấy như bị tra tấn vì các ánh mắt xuyên xoáy sau lưng anh: và nếu mình làm họ thất vọng, và nếu ngày mai mọi chuyện sẽ chấm dứt?
Khi cánh cửa căn phòng chung mang số 217 được khóa chặt, khi ánh đèn chưa được bật sáng, khi từ trong bóng tối dội lên những tiếng chửi rủa, chửi rủa bằng tiếng nước ngoài, phong phú về nguyên âm, khi những bóng hình đầy vẻ đe dọa tiến lại gần, tay lăm lăm kẻ chiếc chân nến dài, kẻ chiếc giá treo áo bành tô, kẻ cái nống giày, Gabriel thầm nhủ phút lâm chung cuộc đời làm rể đã điểm. Anh chạy quanh chiếc bàn một chân và cố thương lượng (này, này, các vị, các bạn thân mến).
- Này, này, các vị, đừng quên rằng ngày mai các vị có buổi trình diễn, các vị cẩn thận kẻo bị gẫy xương đốt tay đấy.
Gabriel có nói thật dịu dàng, thật rành rọt, sử dụng tiếng Anh, đá thêm mẫu tiếng Đức, lời nói chẳng có tác dụng gì, đòn bắt đầu đổ như mưa.
Anh liền nhảy phốc lên một chiếc ghế bành, lao qua giường, chạy vào buồng tắm khép chặt cửa lại. Gabriel nằm trên đống áo tắm mềm mại, bị vũ khí của Washingotn và Albany (cờ sao và mũ niệm công tước) quật tơi bời, đã trại qua như vậy đêm đầu tiên của người đàn ông – bước – ra – khỏi – giấc – mơ – để - lao – vào – tình – yêu. Đầu gối thành bồn tắm, chân co lại để khỏi đạp phải bồn rửa mặt. Bên kia cánh cửa trắng, tiếng đàn vĩ cầm kêu lách cách. Với tiếng ồn ào họ gây ra bao đêm thử hỏi họ làm sao có thể hy vọng giữ nổi một người đàn bà, chàng rể thầm nhủ. Có lẽ họ bị buộc phải luôn luôn ngủ một mình, chỉ yêu vụng trộm vào giữa ban ngày ban mật. Gabriel, thấy lòng mình dâng trào mối thiện cảm với những người hì hục ở bên kia tấm cửa trắng nọ, một mối thiện cảm mỗi lúc một mang tính chất ủy mị và khoan dung, chuyển dần, tuy giữa cảnh ồn ào ầm ĩ, thành một giấc ngủ rất sâu.
Khi Gabriel tỉnh dậy, căn phòng 217 chìm trong tĩnh lặng, cuối cùng được giải thoát khỏi các nốt nhạc. Anh nhìn qua lỗ khóa. Phòng xem ra chẳng còn ai. Chắc các bậc kỳ tài có thánh mới chịu đựng nổi đã đi biểu diễn.
Cuộc đụng độ đầu tiên trong cuộc chiến kéo dài triền miên là như vậy. Gabriel suốt đời (ngay đến tận bây giờ, khi tuổi đã cao) đã phải đương đầu với đám đối phương nhiều vô kể và luôn nảy sinh thêm, đem lòng yêu Clara, say đắm Ann, đem lòng yêu và say đắm cô nàng này hoặc cô nàng kia. Tuy vậy, hai nàng đang ở đây, thưa các quý bà và các quý ông, ngay tại phòng bên cạnh. Nếu các quý vị nghe có thấy tiếng người nói thì đấy là tiếng của các cô nàng. Các nàng sống trong cùng căn nhà với tôi, 13 đại lộ Wester Wemys, Cannes-la-Bocca. Cuối cùng Gabriel đã thắng trong cuộc chiến[1].
- Thôi mà, thôi mà, Gabriel đôi lúc có quyền được tự hào một chút…Sau tất cả những chuyện chúng ta đã gây ra cho anh ta. (Câu Clara đáp lại lời của em gái).
Hai nàng đang ở đây, trong giây lát.
Gabriel tới phố Bergère rất muộn, ngay sau buổi trình diễn. Một đám đông đứng vây quanh ông bầu kiêm người phát hiện các tài năng: nhưng ông đã kiếm ở đâu ra các bậc kỳ tài này? Ông đã tìm kiếm bằng cách nào? Tài thật! Ông bầu kiêm người phát hiện các tài năng, tay cầm một cốc sâm banh, giả vờ khiêm tốn: ồ! Đơn giản thôi, chỉ cần lắng nghe bên các cửa. Người ta vỗ vai ông, một cáo già tìm các mạch nước, người ta cứ nghĩ âm nhạc đã bỏ châu Âu và hấp! anh lôi từ trong mũ ra một tên người gốc Slave…Những lời đề nghị bắt đầu. Mười lăm ngày nữa tôi có một lễ hội từ thiện lớn, ở Biarritz, tôi muốn nhận một người do ông bảo trợ. Cụ thể em nào? Lúc này, tôi để ông tự lựa thoải mái, giá đều như nhau. Và ông Markus ghé vào sát tai người đang bám mua để nói một con số.
- Ông điên rồi! Một cháu mới vào nghề mà giá đòi cao thế! – Lấy hay không là tùy. Ông đừng quên rằng biết cách chơi nhanh. VÀ chậm rãi. Ông biết rất nhiều, ông biết cách chơi nhanh. VÀ chậm rãi không? Ồ! Anh Gabriel,tôi đã đợi anh.
Đám đông xoay người lại, tôi nghe thấy nổi lên những câu hỏi ai vậy? Lại một sự phát hiện nữa?
Ông bầu kiêm người phát hiện ra các tài năng cầm tay tôi và kéo đứng tránh ra xa.
- Tôi muốn nói chuyện với anh về đám cưới. Anh đừng nghĩ rằng tôi bị lễ cưới ám ảnh. Nhưng cuộc đời chỉ có thể chịu đựng nổi ở trong lòng một đám cưới, anh tin tôi, anh Gabriel, đấy là chỗ vịn duy nhất.
Ông Knight đưa tôi cốc rượu của ông.
- Thế nào, anh tán thành chứ, anh chịu gia nhập vào gia đình nhé?
Ann trả lời các nhà báo rúi rít giữa những phụ âm.
- Cái cậu cao cao buồn buồn chơi Lisat kia kìa…
- Tettaasky?
- Đúng đấy, chị làm ơn đánh vần tên cậu ta giúp tôi được không?
Người ta lại hỏi tiếp như vậy về Lorinez Mikasth, Jan Szezucka, Emil Fucik… Đến tận bây giờ, khi nhắm mắt lại, Gabriel còn nghe rõ tất cả những tiếng động đi kèm theo quyết định của anh: nhưng câu chuyện trao đổi của giới thượng lưu, tiếng chạm cốc khi người ta chúc mừng nhau, giọng Ann lẫn giữa những phụ âm, một vài câu hỏi về tôi (người đang nói chuyện với ông Markus không biết là ai vậy?), tiếng sột soạt đều đều của cửa có đệm ngăn và sau đó cái từ chỗ vịn, hãy tin tôi, anh Gabriel, chỗ vịn duy nhất…
- Được ạ, cháu tin bác, - Gabriel đáp.
Do đó ông bầu kiêm người phát hiện ra các tài năng liền ôm hôn tôi, rồi nâng rất cao cốc rượu sâm banh của ông. Do đó, vẫn còn lưu lại trong ký ức của Gabriel, những tiếng vỗ tay nổi lên, nhưng, nếu suy nghĩ kỹ, tiếng vỗ tay chẳng phải dành cho anh. Nhân vật chính của buổi lễ là các vị thần đồng chán ngấy. Chứ hoàn toàn không phải Gabriel Orsenna, tuy với tư cách là chàng rể tương lai chính thức mới toanh.
Ngay sau đấy bắt đầu giai đoạn hai chị em cứ biết đâu mất hút. Sáng ra, khi Gabriel xuống dùng điểm tâm trong những tách vừa tròn vừa nặng như những tách ở toa ăn trên tàu hỏa. Hai chị em đã đi đâu rồi. Chiều tối đã đi ngủ, hai chị em ngủ vào giờ ăn tối, anh nên bỏ quá cho các em, anh Gabriel, bà Élizabeth nhắc lại, ngày của các em cực học lắm… (Cực nhọc làm việc gì? Chàng rể tương lai rất muốn biết rõ điều này, nhưng anh đã ghìm lời được không hỏi, nhất là, ồ! Nhất là đừng có tạo cho mình hình ảnh một anh chàng xoi mói, vì các gia đình nghệ sĩ, hơn ai hết, rất thích tự do, đúng không?)
Hai chị em chỉ ùa về như một cơn gió, Ann và Clara, tay khoác tay, ráo cẳng bước ngay qua tiền sảnh của khách sạn, ơ này anh Gabriel kìa, xin lỗi anh Gabriel nhé, chúng em vội lắm, đột nhiên chú trực thang máy cười rồ như bị điên, chú chàng mà được nghe Ann nói chào ông thì sướng run lên, chàng trai trẻ phải lòng Ann khép cửa lại, chiếc nồi bằng gỗ gụ và kính từ từ được nâng lên cao, hẹn gặp anh ngày mai nhé anh Gabriel, để anh được thấy bọn em tươi xinh hơn, hai chị em cười, cười hoài, cười đến tan nát cõi lòng, sau đó chiếc nồi dừng lại ở lưng tầng lầu. Anh chàng trực thang máy tuân theo mọi ý nghĩ ngông cuồng của hai chị em, chặng dừng này đã thành lệ, anh Gabriel này, anh không giận đấy chứ? Mong anh bỏ quá cho bọn em…tất cả những sự chuẩn bị này,.. Anh nghe tiếng các cô nói mà không thấy được rõ toàn thân, các cô đã ở quá cao, qua lớp rào, anh chỉ thấy mỗi vạt dây áo dài của họ, một chấm trắng, chấm kia màu xanh.
Bàn ăn mỗi ngày một thưa người: các thần đồng lần lượt được tuyển từng vị một. Thoạt đầu là Jan, sau đó là Emil và Georgy. Chỉ còn lại mỗi Lorinez phải an ủi, anh chàng luôn đòi về Budapest vì chẳng ai muốn tuyển anh ta. Bà Élizabeth cầm tay anh. Các ngón tay Lorinez rất dài, móng tay to tướng trông phát buồn nôn nếu phải nhìn lâu (Gabriel nêu lại sự việc của thời đó, lòng rất khách quan).
- Cái nghề đó thế nào, anh Gabriel? – Ông bầu kiêm nhà phát hiện nhân tài hỏi – Vẫn là cao su à?
- Vẫn thế ạ.
- Tốt lắm. Bác chẳng gả con mình cho một kẻ chẳng có thiên hướng. Bác còn vương vấn đôi chút hoài nghi khi cho rằng cao su là một thiên hướng thực sự, nhưng anh sẽ chứng minh để bác bỏ, đúng không nào, anh Gabriel?
- Thưa ông vâng ạ.
- Thôi mà, anh cứ gọi tôi là Markus cho tiện.
- Thưa bác Markus vâng ạ.
- Mới lại, anh Gabriel này, bác tin cái cao su của cháu như cháu tin chuyện cưới xin của bác đúng không nào?
- Thưa bác Markus tất nhiên ạ.
Sau đó bác Markus đứng dậy, hôn mái tóc Élizabeth, chúc chúng tôi ngủ ngon và bắt đầu cuộc thăm dò về đêm của bác.
- Anh phải đi thôi, - ông bảo vợ. – Người Pháp đã lấy mất hết các thần đồng của anh. Anh sẽ đưa được những ai về London?
Bà Élizabeth cười, vẻ hơi buồn, chúc ông vớ được mẻ câu bẫm và nhất là khi về anh đừng đánh thức em đấy.
Còn Gabriel ngồi lại một mình với bà mẹ mới tinh của mình (còn phải xác định rõ). Quanh hai người phòng ăn chật cứng. Chủ yếu là khách du lịch đang ngồi kể cho nhau nghe cuộc đi dạo của họ trong thành phố Paris và vài nhà kinh doanh ngồi một mình bên bàn, xoi đi xoi lại mấy tờ báo như ta cậy móng tay, để loại hẳn một ngày đã qua.
Élizabeth nhìn tôi, cùi tay chống lên khăn trải bàn, tay ôm mặt. Bà đã cởi bỏ mũ, một tác phẩm nghệ thuật làm cả Clermont – Ferrand phải tò mò để ý, tác phẩm nghệ thuật được đặt trên bàn cạnh mấy chiếc cốc. Mấy chiếc long vũ và tàu lá khẽ lay động theo từng cơn gió lùa. Ngồi bên chúng tôi là vị thần đồng không ai buồn đoái hoài, anh ta mỉm cười, ánh mắt nhìn lơ đễnh.
- Thế nào, anh Gabriel?
- Bác muốn cháu quyết định thế nào một khi cháu không được gặp các em?
- Này, anh Gabriel. Thế những cuộc trao đổi giữa chúng ta ở Clermont – Ferrand chẳng được tích sự gì à? Vấn đề không phải là quyết định. Mà phải ghi nhận. Anh nghe tôi nói đấy chứ? Ghi nhận trong lòng anh sườn dốc nào lớn nhất. Thế là anh đã lấy vợ.
- Nhưng bác, bác đã biết rõ cháu.
- Ý anh muốn nói: nếu tôi, Élizabeth, ở vào địa vị anh, tôi sẽ chọn cô con gái nào của tôi để lấy làm vợ chứ gì? Không đâu, anh Gabriel, tôi rất quý anh, tôi quý anh lắm, nhưng tôi không thể làm việc đó giúp anh đâu, cưới xin là chuyện riêng tư.
Một lát sau, những người ăn tối rời khỏi phòng, từng người, từng người một, ông chủ khách sạn chào từng người theo tên của họ, chào ông Scyrig, chào cô Herting, chào ông Enard và từ từ cúi người trao chìa khóa cho họ, tựa hồ như cấm họ không được quay trở vào. Căn phòng trống vắng và trong chốc lát, trở nên quá trống: người ta đã trải khăn chuẩn bị cho sáng mai, một dãy khăn ăn và khăn trải bàn, trên các ghế không có ai. Sau đó, người ta tắt đèn, trừ đèn ở bàn chúng tôi. Bà Élizabeth bảo chuẩn bị cho bà liều thuốc hãm, đấy là một sự hài hòa về các loại cây thực vật giúp ta thanh thản bước vào giấc ngủ. Bà đọc tên các vị thuốc cho người phụ trách quầy rượu, phẫn nộ trước những vị bị thiếu. Sao anh không có hoa xôn à? Cả húng hương nữa cũng không có nốt? Sau đó bà nhắm mắt uống thuốc.
- Ta bắt đầu từ đầu nào, anh Gabriel. Theo anh một phụ nữ là gì?
Đôi lúc, khi ông bầu kiêm nhà phát hiện thiên tài đã quay về, chúng tôi vẫn ngồi trao đổi về chuyện đám cưới. Ông đến ngồi với chúng tôi. Ông gọi một ly rượu trắng. Người ta bật thêm một ngọn đèn nữa. Tại nơi tiếp đón khách, sau chiếc quầy bằng gỗ tếch, người trực đêm nghe người gác cổng dặn thêm những quy định cuối cùng trong đêm.
Quả thật nước Cộng hòa không được thuận lợi lắm cho âm nhạc. Những nhạc công người Pháp này mới thảm hại làm sao! Như cháu thấy đấy, Gabriel, lý luận đâu phải là chơi nhạc. Chúng ta đành phải quay về châu Âu.
Ông gọi châu Âu là những địa điểm phì nhiêu cho âm nhạc, nước Đức, Ba Lan, hai bên bờ những dòng sông lớn, sông Danuble, sông Vistule…Ông cầm tay tôi, chúng tôi cùng nhau bước lên lầu hai. Để tôi nói anh nghe những suy nghĩ tự đáy lòng mình anh Gabriel, người anh cần chính là Élizabeth đấy. Cuối cùng, tất cả những người có thiện cảm tôi đã gặp, chẳng là, như anh biết đấy, tôi rất có cảm tình với anh, đều cần đến Élizabeth. Có lẽ chính vì thế mà tôi rất tin vào chuyện hôn nhân. Có lẽ như vậy là điều may đấy, anh Gabriel ạ, chỉ có may mắn thôi. Chúc anh ngủ ngon, anh Gabriel.
- Chúc ông ngủ ngon, thưa ông, à quên, bác Markus.
“Chuyện hôn nhân của con, lại chuyện hôn nhân của con, cứ như thể một cuộc hôn nhân là lý do đủ để bỏ rơi một ông bố Louis trong những ngày xa xưa, cứ như thể một gia đình cho ở gửi, với ông bố bà mẹ cho ở gửi vừa thông minh vừa giàu có và vui tính hơn bố mẹ đẻ, với không khí ở gửi tưởng chừng như ngời sáng, nhẹ nhõm, đầy kích thích hơn, cứ như thể cuộc đời ở gửi là một lý do tạ tội. Gabriel, có thể lãng quên đôi bờ sông Seine và hương thơm Oriza và số xe chở khách chỉ cần khoảng một giờ đồng hồ là sẽ đưa con về tới Levallois để bố con có thời gian ôm nhau vào lòng. Gabriel, để có thời gian xem xét, không gây cho con chút khó chịu nào, xem cuộc hôn nhân này có đảm bảo tốt cho sức khỏa của con không, để gia đình có thời gian cho con biết một đôi điều về cuộc sống ở nhà, không được hào nhoáng bằng cuộc sống ở gửi, nhưng dẫu sau cũng là một cuộc sống, mở đầu là việc địa chỉ của nhà ta đã thay đổi, đảo Jatte, Gabriel ạ, chân lội nước, gia đình đã nghĩ tới nước lũ mùa xuân, nhưng bố Louis những ngày xa xưa của con bây giờ có thể ngồi bên cửa sổ câu cá, chắc đây không thể là trường hợp của con, Gabriel, trong một gia đình nhận con ở gửi, người ta đi đây đi đó nhiều, phải luôn giữ mình, dù ở hoàn cảnh nào, luôn giữ mình thật tốt, bố có lầm lẫn không, Gabriel? Cuộc đời ở gửi có mệt mỏi lắm không? Cuộc hôn nhân của con không phải là duy nhất, Gabriel, và con chẳng nên bịt tay không chịu lắng nghe những tiếng bàn tán về những sự chuẩn bị khác, những buổi lễ khác có lẽ vui cũng chẳng kém gì những buổi lễ ở gửi của con, Gabriel, chẳng hạn việc đánh bóng các đồ bằng bạc của chúng ta mà lần chùi rửa đầu tiên bắt đầu vào năm 1868 để chuẩn bị đem ra bày trên tắm khăn trải bàn trắng lớn, tiếng lách cách của cả một đội ngũ những đồ thủy tinh được cất giữ trong xó tối từ thời hành trình Maximilien, nói vắn gọn lại, nếu những ồn ào ở gửi không quá lớn, nếu cơn gió còn thuận và nếu con còn nhớ đường về Levellois thì con không thể nhận ra rằng sắp tới đây sẽ có một cuộc lễ khác, nó liên quan tới con đấy, Gabriel, bố Louis của con hồi những ngày xa xưa cũng xâm nhập vào thế giới ở gửi, bố cũng bắt đầu từ số không như con, cô ấy tên là Iris, một tên Anh nghe khá hay, chắc con cũng nhận thấy vậy, nói tóm gọn, bố con lấy vợ và nếu con cảm thấy có nhu cầu nhúng lại gốc rễ của con vào sự hổ - thẹn – nhưng – chân – thật – trước khi lao vào khu rừng rậm ở gửi của con, niềm – vinh – quang – và – có – lẽ - giả - dối… nói tóm gọn, bố Louis của con mong đợi, ôm hôn và mong đợi con.”
Đây là nội dung cô đọng, sơ lược của những bức thư mà người gác cổng chiều khách ở Washington và Albany nhận được và giây lát sau chuyển ngay cho chàng rể tương lai.
Và đây là một cơ hội để bổ sung một nét đen tối hơn, rất đen tối vào bức chân dung chàng rể tương lai hoạt bát, rất tươi cười, rất dịu dàng và rất thỏa mãn trong thế giới ở gửi. Và như vị thánh Piere trong khu vườn nhà Olivier, anh chàng đã phản lại cha mình đến tận sáng ngày hôm trọng đại: lại một bức thư tình gửi cho ông, người giữ chiếc thìa khóa vàng cất cao giọng thông báo với Gabriel, để mọi người nghe, kể cả và nhất là gia đình Knight đều nghe rõ. Ồ! Lại người đàn bà đó, Gabriel đáp lại cũng bằng giọng ấy, tôi chẳng thể làm gì được, anh làm ơn, gửi trả lại giúp, anh làm ơn gửi trả lại, giúp cả các thư sau nữa…
❀ ❀ ❀
[1] Một sự kiêu hãnh ngu xuẩn của đàn ông (chú thích của Ann)