Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv
Iv

❊ ❊ ❊

Cửa xoay. Cái cách xoay này để chuyển từ nơi này sang nơi khác thích hợp với tính khí của Gabriel: nhớ mong khi phải rời, rụt rè khi bước vào. Hơn nữa, cái cách cuốn theo khách bước qua quá vội vàng phải đi xoay trọn một vòng, đưa về đúng điểm xuất phát, và cũng như thế, xu hướng của chúng đối với sự độc ác, cái tài làm kẹt, gây đau đớn của chúng, cũng ngang những nét sắc sảo thúc cuồng thiện cảm. Thay đổi chỗ đã là đi đây đi đó, cảm ơn các cửa xoay nhắc nhở ta nhớ điều đó.

Nhưng nhân vật của chúng ta, đúng là do gắn bó với những cuộc đi vòng theo đường tròn nhỏ này, chúa ghét bị thúc ép phải dùng tay đẩy, bị áp đặt vào một nhịp quay không phải do anh lựa chọn. Nói một cách khác, anh muốn chỉ một mình mình được hưởng cái thú bước qua cửa quay. Ta có thể hình dung, phải vào những giờ cao điểm khi khách sạn Washington và Albany vừa đồng thời có khách kéo đến và kéo đi, anh đã phải để bao thời gian chờ đợi lúc thuận tiện…

Thế nhưng, đêm nay, một đêm đặc biệt trống trải, không Clara, không nàng quân sư áo cổ trễ, anh cảm thấy ngay có người bước vào ngăn cửa xoay ngay sau ngăn của anh. Anh quay người lại, bị vấp đầu vào kính. Khi đã định thần, gần như nằm sõng soài trên vỉa hè, anh thấy Ann đang ôm mình. Ơ này, ơ này, Gabriel nấc lên, chúng ta cùng quay trở về vào cùng một giờ trái khoáy; đây là một điềm gì rồi. Và cô ta cầm tay anh siết chặt, những ngón tay yêu thương siết chặt những ngón tay ngập ngừng. Cô ra lệnh cho anh đứng dậy.

- Nào, anh Gabriel, anh chẳng thể nằm đây suốt đời chỉ vì một cái bướu nhỏ trên trán, nào…

Và người gác đêm, một sinh viên người Bồ Đào Nha theo học triết học của Saint Thomas (Clara đã nói chuyện quá nhiều với anh sinh viên này), thò cổ ra khỏi rặng cây xanh nơi anh ta đặt giường xếp và ra khỏi chồng sách dày cộp màu crem (Hãng xuất bản Vrin) rồi chúc hai người may mắn, vẻ giả dối đến lạ lùng.

Còn Ann vẫn dìu Gabriel, lần tìm thang máy không ở tầng trệt cũng như ở lầu một, Gabriel leo lên cầu thang ở phía sau cô, bốn nấc một, nhưng tại sao lại phải thang máy, tại sao chúng ta lại cần thang máy, chúng ta ở lầu hai, đúng lầu thang máy đang dừng, có một tấm biển nhỏ treo nơi cửa buồng thang:

Thang máy ngừng hoạt động đến

sáng mai, 7 giờ.

Ann gạt tấm biển sang một bên, và ra lệnh nào vào đi, rồi anh xem, hai chị em nhà Knight không chịu lùi bước, đừng lo, em đã quan sát cách điều khiển, em đã nghĩ tới điều đó từ lâu và cô ta đẩy cần gạt, cabin thang máy bắt đầu lên cao. Ann không nhìn Gabriel, còn cabin thang máy leo lên giữa tiếng kêu cọt kẹt, những tiếng cọt kẹt dữ dội, tiếng chiếc nôi thang kêu răng rắc, tiếng liễu đan giỏ vặn rít cót két, một tiếng động có thể đánh thức cả khách sạn, khách trọ sắp bước ra khỏi phòng họ và chúng tôi chẳng thể nấp vào đâu vì thành cabin bằng kính, và sắp có chuyện rùm beng ầm ĩ, cha mẹ các cô sẽ chẳng còn tin tôi… Giữa tiếng huyên náo cuối cùng (sau bao tiếng động như vậy thì thử hỏi Paris ngủ sao được?), thang máy dừng lại. Chúng ta đã tới rồi, Ann bảo, cabin thang máy leo quá lầu chót. Gabriel ngước mắt nhìn chiếc ròng rọc bôi đầy mỡ lù lù ở kia, ngay trên đầu họ chỉ còn lại là mái nhà và rồi là trời cao.

- Nào – Ann bảo.

Gabriel dỏng tai, ngó ra nhìn cầu thang. Những người bị đánh thức dậy sắp đổ xô lên tấn công.

- Nào – Ann bảo.

Cảnh vật yên tĩnh trở lại. Một sự yên tĩnh giữa trời đêm chỉ còn nghe thấy tiếng con tim mình đập hốt hoảng và Ann đã có lý. Những tiếng đập của con tim chẳng thể lay thức giấc cả một khách sạn.

Lúc này Gabriel nhìn mặt sàn cabin thang máy: sàn trải một loại thảm chải đặc biệt ráp.

- Bao giờ em cũng đứng – Ann bảo.

Gabriel xoay người lại, rất từ tốn, để tránh tiếng cót két. Cô ta đứng tựa người vào thành cuối thang, hai tay giơ lên. Đầu cô ta dựa vào bản hướng dẫn. Cô nhìn Gabriel, không hề cười.

- Bắt đầu bằng lưỡi đi – Ann bảo.

Thế là năm 1913 mất đi mọi sự dè dặt và bắt đầu nảy nở. Những mùa hè và những mùa hè, một mùa hè dành cho vùng thắt lưng của Gabriel đang quỳ giữa đống áo dài trắng, một mùa hè dành cho bụng Ann chuyển thành thuốc hỏa công vào những ngày hội, một mùa hè dành cho cổ cô, chắc bị mặt trời rọi, một loại mặt trời du cư chuyển về đêm, mùa mùa hè dành cho đôi tay Gabriel đã chẳng còn biết ai đang bốc lửa, Ann hay anh, một mùa hè dành cho mái đầu anh, thế mà anh những tưởng rằng những kẻ má bầu không được hưởng những mùa nóng bức, một mùa hè dành cho biển lạ, nồng mùi ẩm thấp, tảo giạt, rong, hến biển mở rộng miệng và còn nhiều mùa hè khác nữa và nôi thang tiếp tục leo lên tiếp, bỏ qua chiếc ròng rọc đầy mỡ to tướng, vượt ra ngoài nóc nhà để tới tận nơi đang nẩy sinh các mùa hè và tựa như con sóng bạc đầu giữa biển khơi. Nóng nhu vậy là chuyện bình thường, chúng ta đang ở cực điểm, Gabriel thầm nhắc lại khi vẫn loay hoay tìm cách giải thích các sự việc. Mọi chuyện đều bình thường. Mọi chuyện đều bình thường. Cô ta mặc một chiếc áo dài trắng viền đăng ten, cài cúc đến tận cổ, một chiếc áo dài xẻ dọc làm đôi, từ trên cao xuống tận đáy. Chân phải cô co duỗi hơi quá nhanh, như hàng lông mi chớp.

Sau đó, khi chiếc nôi đã quay trở về vị trí dưới chiếc ròng rọc đầy mỡ, khi các mùa hè dịu từng mùa một, khi các tiếng cót két lắng yên, thang máy hạ xuống lầu hai. Ann sửa lại tấm biển treo:

Thang máy ngừng hoạt động đến

sáng mai. 7 giờ.

Cô cứ để nguyên tấm áo dài xẻ dọc làm đôi.

- Vào giờ này, ai còn nhìn thấy chúng ta? Chúc anh ngủ ngon, anh Gabriel.

Tất nhiên đấy là Ann – Gabriel thầm nhủ lúc lục các túi nhưng vẫn chưa thấy khóa cửa, à! Đây rồi, cuối cùng anh mở được cửa phòng mình và quyết định không bật đèn, mình đi ngủ ngay, khi anh cởi áo xống trong tối, khi đụng phải chiếc ghế bành, ngày gì thế này, chẳng hiểu ngày gì thế này! khi kiểm tra lại xem các rèm cửa đã kéo kín và chiếc gối dài ở đầu giường đã được thay bằng chiếc gối đơn chưa, Gabriel tự nhủ: tất nhiên sao mình cứ do dự mãi thế? Ann là mối tình duy nhất của mình.

Vào giây phút cuối cùng, khi cả khối người anh đã kéo anh đã ngã ra giường và đã chúc, giọng cao và rành rọt của người kỹ sư, bây giờ chúc cậu ngủ ngon, cậu Gabriel, thì anh mới cảm nhận thấy rõ một sự hiện diện.

- Em biết rằng anh đang mệt. Clara bảo, - tương lai của chúng ta mới là cái quan trọng…

Cô cầm tay anh.

- … Anh cũng biết rõ như em là mọi người đều có tình dục cả, anh Gabriel, cho dù thiếu vắng giới vật, do đó đi đâu mà vội, chúc anh ngủ ngon, anh Gabriel.

Và cô ta xoay lưng lại.

Và hình như một lát sau tôi thấy cô ta ngủ thiếp đi.

Gabriel ngỏ lời cầu hôn tại phòng ăn. Niềm hạnh phúc của gia đình bộc lộ ra thật hớn hở.

- Chấp thuận, chấp thuận thôi, bàn tay này, anh Gabriel thân mến, - Ông Markus bảo, rồi ông cúi sát bên chàng rể: tôi nhắc lại với anh đây là điều duy nhất cần phải quyết định, không cưới xin e rằng phát rồ mất…

Clara không nhìn anh, cô chăm chăm nhìn khu vườn mùa đông, miệng cười theo kiểu quận công. Bên kia bàn ăn, như thường lệ, Ann và mẹ mình ngồi khẽ đọc bài kinh dài triền miên. Chốc chốc hai mẹ con quay nhìn Gabriel và mỉm cười và anh ta thấy hình như tôi chẳng dám tin chắc, nhưng anh ta thấy hình như sáng nay mình đọc rõ qua môi hai mẹ con cái câu nói bà Élisabeth rất thích và bà đã dậy cho cô con gái rõ toàn bộ sự thật: Cuộc đời còn dài, anh Gabriel, tôi rất vui, chúng tôi rất vui cho anh, nhưng cuộc đời còn dài, anh Gabriel… Các nhà kinh doanh ở bàn trên thầm muốn biết lý do của tâm trạng vui vẻ này. Tôi cho cưới con gái tôi, ông bầu kiêm người phát hiện tài năng đáp. Thế là họ gọi rượu sâm banh, loại hảo hạng. Các nhà kinh doanh bộc lộ tình cảm của họ như vậy. Họ, người thì ở Chicago, người khác ở Lyon, đến đây ký một hợp đồng quan trọng. Hàng dệt. Loại sang, như hai người ở Lyon đã nói rõ. Hợp đồng của chúng tôi cần một mẹ đỡ đầu. Cô dâu đâu? Bà Élisabeth chỉ Clara. Tuyệt lắm, phiền chị ghi cho chúng tôi địa chỉ, SA Chic International sẽ gửi áo dài tặng chị. Đúng, anh chị định ở đâu? Ann hỏi. Clara ghi địa chỉ, khách sạn Washinton và Albany, phòng 212. Chúng tôi nâng cốc uống mừng tình yêu, hôn lễ, Chic International, căn phòng số 212, các thành phố Chicago, Toulouse, Paris, Washinton, Albany. Không biết Albany có phải là một thành phố không? Gabriel tự hỏi. Một người Lyon luôn mồm nhắc bên tai cô dâu: rồi chị sẽ thấy, cái áo dài của chúng tôi, một thị hiếu hoàn hảo, hoàn hảo; sau đó ông ta đi khắp căn phòng ăn sáng, vơ hai bông hồng vàng cắm giữa mỗi bàn và tặng bó hoa cho cô em gái Ann, “để khỏi ghen tỵ”.

Những người phục vụ mỉm cười. Ai ở khách sạn Washinton và Albany cũng đều biết rõ gia đình Knight và chàng rể tương lai của họ.

Con trai vô cùng yêu quý của bố.

Nếu trong khi đi phiêu lưu trong tiền sảnh khách sạn lớn loại sang của con, con có gặp anh chàng Gabriel đãng trí, con thông báo với chàng về ngày tháng một buổi lễ mà bố chàng có liên quan và nhân dịp đó, con có thể nói tên bố (Louis): ngày mồng 1 tháng Chín, 12 giờ, tại nhà thờ Alésia, quận XIV, bờ tả ngạn. Và lần này, lần này, kẻ hay chim chuột cũ đã thực sự tận dụng tất, con nghe rõ đấy, tất cả những vận may, kể cả chất cố kết cần thiết của cuộc đời là lễ cưới. Nhưng do nỗi luyến tiếc là một cố vấn tồi, nhất là đối với người có tên là Louis, có lẽ tốt nhất con nên có mặt trong buổi lễ để cầm tay bố. Bố rất tiếc, bố sẽ dành chỗ danh dự cho con, nhưng bà nội Marguerite cứ một mực dẫn bố về khách sạn, cuộc hành hương của hôn lễ.

Ký tên: bố Louis.

TB. Từ ngày bố tận dụng tất cả những vận may, cuộc đời bố cứ ngả nghiêng, Gabriel ạ, như đúng là tháp ở Pise, do đó con về nhé, Gabriel, bố sẽ trao tặng con nửa vận may đó, bố sẽ lấy lại được thăng bằng.

Bất kỳ người con trai nào có thể trạng bình thường khi nhận được một lời kêu gọi như vậy đều sẽ lao ngay về địa chỉ mới ở đảo Jatte để dựng lại tháp ở Pise. Nhưng Gabriel thì không. Anh nhìn chằm chằm người trực tầng: chắc đây là điện mừng, thưa ông, người bạn ham thích sưu tầm tiền hậu đãi khuơ khuơ trong không khí chiếc khay bạc, mấy phút trước đây còn để bức điện đã bóc.

- Đúng, anh Roger, điện mừng và thông báo mọi chuyện đã sẵn sàng. Chúng tôi có thể tổ chức hôn lễ vào ngày mùng 1 tháng Chín, đúng giờ ngọ, ở đâu cũng được, nhưng bên bờ hữu.

Anh cười với Clara. Nằm cạnh anh trên chiếc giường trong căn phòng số 212, cô kéo chăn che kín người tận mũi và đảo cặp mắt của cô gái đỏ bừng mặt. Và anh thấy mình bật nảy dễ dàng một cách chưa từng thấy, anh nhảy ra khỏi giường, lục các túi quần tối qua với dưới đất trước cửa sổ và tìm được đồng tiền đang muốn tìm, tặng anh, chúc anh một ngày tốt lành, anh Roger, một lần nữa xin chúc mừng ông, thưa ông, và anh đến bên Clara: em rõ chứ, đây là ngày cưới của anh, anh không muốn ông ấy tới, anh muốn có một lần hạnh phúc trọn về anh, về riêng một mình anh, nhất là niềm hạnh phúc với một người đàn bà. Sau này, có thể ngày mai hoặc sao không phải là ngay hôm nay, anh sẽ giới thiệu em với Louis, nhưng trước khi cưới thì chưa đâu.

- Louis là ai? – Clara hỏi.

Nhưng Gabriel chẳng muốn để những nỗi ân hận làm lu mờ ánh vẻ của mấy ngày lộng lẫy này. Và hình ảnh một người bố cô đơn lần này lại tận dụng mọi vận may, xông lên và lại xông lên, chẳng có sự cứu viện nào, trước đợt tấn công của hạnh phúc, có thể sẵn sàng phá tan niềm hạnh phúc ích kỷ nhất…

Do đó rất có thể Louis đã nhận được vào chiều tối ngày 31 tháng Tám khi thực sự không còn tài nào hủy cuộc lễ ngày hôm sau, một bức điện dài chưa từng thấy, đánh từ Paris về đảo Jatte.

Gabriel, không chú ý đến những chữ chấm ngắt vụn các câu của anh, đã tuyên bố rằng anh cũng đã tận dụng tất cả vận may của mình và sẽ lấy vợ vào ngày mùng 1 tháng Chín hồi trưa, tại nhà thờ Saint – Augustin một sự trùng hợp kinh khủng bố không nhận thấy sao bố Louis chấm nhưng mong bố đừng tới chấm bản tổng kết của chúng ta về tuổi thọ tình cảm thật kinh khủng chấm có lẽ số phận bám riết hai con người thuộc dòng họ Orsenna khi hợp lại do đó ta nên toan định cuộc dan díu tách nhau ra chấm dù phải trả giá thế nào đi nữa chấm con ôm hôn bố.

Trời đã khuya, trong khi Clara và Ann vẫn chưa thấy quay về từ một địa điểm tại Paris hai nàng đang chôn vùi cuộc đời chị em của họ, còn Gabriel chưa chợp được mắt, lòng còn bị giằng xé giữa ước muốn gọi cảnh sát theo dõi gái điếm hoặc bỏ chạy về đảo Jatte (đúng, bây giờ mình đã biết rõ, chị gái của mình, đấy là bố mình), thì một người đàn ông trông rất kiên quyết, mặc áo hơi hẹp tà (không mặc gilê) đến hỏi ở phòng đón tiếp khách sạn Washinton và Albany. “Chú rể ở lầu mấy? Người nọ hỏi. – Ý ông định hỏi ông Gabriel, phòng 212 à? – Cảm ơn, thưa ông, cảm ơn”. Và người nọ lao ngay lên cầu thang bất chấp những tiếng gọi của chàng sinh viên người Bồ Đào Nha theo học triết học của Saint- Thomas: nhưng thưa ông, ông ấy đang ngủ, nhưng thưa ông… Louis mở tung cửa, tuôn ra một tràng tưởng đứt hơi:

- Coi như bố không tới – coi như bố chỉ là một bức điện, tự hào có đứa con trai quá chín chắn chấm hỡi ôi tán thành với chiến thuật tạm thời chia lìa đáng buồn chấm.

Và Louis ôm cậu con trai, đưa mắt đảo nhanh nhìn xem căn phòng 212 ở một khách sạn loại sang nó ra sao, bố đi đây, bố đi đây, Gabriel, coi như bố không tới và mắt ông nhòa lệ khi từ phòng tiền sảnh quay ra cánh cửa xoay và chàng gác đêm người Bồ Đào Nha theo học triết học của Saint- Thomas, đáng lẽ mắng ông, thì lại chúc ông ngủ ngon, thưa ông, và chúc ngày hôm sau của ông sẽ là ngày tốt lành. Từ sau cái ngày 31 tháng Tám đó, mỗi khi thấy ai nói đến bố trước mặt Gabriel hoặc giới thiệu bố mình với anh, anh liền so sánh và không thể không bĩu môi, vẻ hoài nghi.

- Một người bố là thế này à? Anh tin chắc rằng mình có bố đấy chứ? Anh có biết một người bố thực sự là người thế nào không?

Đôi lúc, trong suốt thời kỳ đó, sau một bữa ăn hoặc khi gặp tôi tại tiền sảnh, ông Markus liền nắm tay tôi:

- Cha biết rằng chúng ta đã nói chuyện này rồi, nhưng có lẽ anh nên giải thích cho cha rõ nghề nghiệp của anh cụ thể là gì: hình như là cao su, đúng không?

Tôi lại giải thích với ông, một lần nữa, vẻ kiên nhẫn.

Cha một cô gái, tuy hết sức nỗ lực, thực ra chưa tin tưởng vào thực tại của chàng rể. Trong trường hợp tốt nhất, anh chàng chỉ là một con ma tử tế. Ưu thế của các con ma là chúng không trú ngụ trên giường, tuy ma thường chùm chăn. Cái nghề gọi là chàng rể tương lai xem ra như một sự nhộn nhịp không chắc chắn, ở nơi đó, giữa sương mù.

- À! Tốt lắm, cha hiểu rồi! Nhưng làm ngoại giao, anh không bao giờ nghĩ tới à?

Với Markus Knight, các đại sứ là những ông vua, những tên vua vô học và đáng khinh, luôn có mặt chiếm chỗ tốt và ngủ gà ngủ gật trong các buổi hòa nhạc, luôn sẵn sàng tổ chức các buổi lễ chào mừng mấy cô đào chiếu bóng được thừa nhận, chẳng bao giờ sẵn lòng giúp các nhân tài vừa chớm nở, một ông bầu gặp khó khăn tạm thời…

- Anh yêu âm nhạc, Gabriel, anh sẽ chẳng giống họ, anh mở rộng cửa đón các nghệ sĩ, các nghệ sĩ chân chính ấy, cha có thể giúp anh phân biệt các nghệ sĩ chân chính với loại giả tạo và ánh hào quang của nước Pháp sẽ tỏa sáng ở nơi anh làm đại sứ. Anh không biết chứ ta cần các nhà ngoại giao không đần độn?

Gabriel tiếp tục giải thích nghề cao su của anh.

Ông Markus chấp nhận.

- Đúng, đúng, chắc điều anh vừa nói là có lý. Sự phát minh ra điện thoại không có lợi cho ngành ngoại giao, do có điện thoại, mấy tay đại sứ trở nên chẳng cần thiết mấy, chẳng đáng cần lắm đâu, do đó anh cứ làm nghề cao su đi. Dẫu sao anh biết là cha tin anh, anh Gabriel, anh biết rõ điều đó chứ?

Như vậy là hai đám cưới đều được tổ chức vào cùng ngày mùng 1 tháng Chín và cùng một giờ. Và cả hai đều cố lo sao để có thể tận dụng những vận may và cuối cùng đã đánh lạc được hướng vận rủi cứ bám riết mãi tận ngày nay cặp cha con nhà Orsenna:

1) một khoảng cách hợp lý, thế là sông Seine đã ngăn đôi hai nhà thờ.

2) chặng đường hai đám cưới qua tránh không để xẩy ra sự chạm trán bất ngờ.

3) những bản danh sách chính thức dứt khoác bất luận không để một ai được mời cùng dự hai đám cưới. “Anh có tha thiết muốn mời ai không, anh Gabriel?” Bà Élisabeth hỏi. Anh đáp rằng mình tha thiết muốn mời vị thánh Pierre Tên Phản Bội (và cha cố tương lai) này nọ: “Gia đình duy nhất của cháu là bác!”.

4) lễ tiệc xong xuôi thì Louis sẽ ở lại đảo Jatte, còn Gabriel sang Brésil…

Hai chúng tôi, bố Louis và tôi, đã phạm sai lầm gì? Biết giải thích ra sao chuyện tiếp theo sẽ phải như thế nào?

Hôm nay, sau biết bao suy ngẫm tôi đề xuất cách giải thích: bưu điện. Có lẽ cái nhìn xúi quẩy sẽ được chuyển giao qua bưu điện. Vì, ngay lúc mặt trời mọc, điện tín do hai bố con đánh cứ tới tấp tung qua đón lại:

 “CUỐI CÙNG BỐ CÓ NÊN CHỌN ÁO VÉT LEN NGẮN TRẮNG CÀI CẨM CHƯỚNG ĐỎ CÒN CON? HÔN, BỐ LOUIS. (8G12)”

 “CON ÁO ĐUÔI TÔM DÂY GIÀY CHÂN PHẢI ĐỨT ÂU YẾM. GABRIEL. (9G15)”

 “RỜI ĐẢO JATTE NHỚ TỚI NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN CỦA CON DŨNG CẢM LÊN. BỐ LOUIS (11G01)”

“NƯỚC MẮT LƯNG TRÒNG RỒI WASHINGTON VÀ ALBANY CHẤM NỰC CƯỜI. GABRIEL. (11G28)”

Các chú rể tiến tới đích của mình. Điện tín tới tấp đánh lui đánh tới, các bộ đồng phụ đi đi lại lại quanh họ tạo nên một bầu không khí bí ẩn bao trùm lên họ. Trong đám cưới riêng của hai bố con, người ta thì thầm bàn tán các giả thuyết: hẳn đây là do một nàng nhân tình không chịu nhượng bộ… hoặc do thủ đoạn đầu cơ của Bourse New York, Amsterdam… và suất đóng góp của hai bố con nhà Orsenna, mà mọi người tự hỏi chắc phải ghê gớm lắm mới đẻ ra cuộc hôn nhân, tỷ giá của ông bố và của người con cứ leo thang, dần dần. Đúng lúc bước vào nhà thờ, bà Élisabeth tử tế lách tới khoác tay tôi (chẳng là anh không có gia đình  mà), đàn đạp hơi kêu vù vù, người quản lễ đung đưa người, nhân viên  phát thư có mái tóc hơi vàng lách qua hàng rào người, lại một bức điện nữa gửi cho ông, thưa ông, và suốt đoạn đi trọng thể, Gabriel đã dùng tay trái cố mở bức điện và vừa ngồi xuống ghế, anh liền giúi nó vào cuốn kinh lễ, đoạn giữa hai ngày Chủ nhật của lễ Chúa Thánh thần và nấp dưới vẻ thành kính, anh đọc nội dung bức điện:

 “NẾU CHỨNG MẠCH NHANH GÂY XÚC ĐỘNG RA LỆNH CHO CON PHẢI NGỪNG NGAY HÔN LỄ NẰM NGAY XUỐNG BẤT KỲ NƠI NÀO VÀ GỌI BÁC SĨ RA LỆNH ĐẤY. BỐ LOUIS (12G07)”

Clara đã không để lọt mắt thủ đoạn đó. Lúc này môi chị mảnh và mím chặt tới mức người ta tự hỏi không hiểu tại sao lại có thể để lọt câu thì thầm sau:

- Chắc lần này là lời vĩnh biệt.

Etintroibo ad altare Dei, buổi lễ bắt đầu.

Hôn lễ được cử hành như mọi hôn lễ khác, mùi hương, tiếng ầm ĩ của đàn orgue và không khí nỗ lực, vỡ mộng có sức cưỡng lại sự trệch hướng của các lục địa? Trước mặt hai chúng tôi, Clara và tôi, Gabriel, một cha cố già nua ngồi xuống những chiếc ghế bành đỏ của chúng tôi, tiến hành những động tác của buổi lễ; mở sách, đọc sách, chuyển sách, xếp lại nếp áo… Đôi lúc cha cố quay về phía chúng tôi, Clara và tôi, mỉm cười với chúng tôi, khẽ lẩm bẩm “các con bé bỏng của cha” và lại tiếp tục công việc của mình, thời gian trôi qua.

Sau đó đến việc thuyết giáo, lịch sử thuyết quyết định dài triền miên, từ những đêm có tuổi, Clara Knight, vượt qua nước Đức, Ba Lan, Hungari, Tiệp Khắc, những thị trấn vùng Ban Tích, âm nhạc để bước đến bên Gabriel. Trong khi đó, anh, Gabriel, cực kỳ thích quanh quẩn ở nhà, đã buộc lòng phải rời Levallois vào một ngày trời đẹp để đi London. Và trên con tàu thủy… Ai còn tin được vào sự trùng hợp? Các thầy dòng kính mến, các nữ tu sĩ kính mến, các vị đều biết rõ đường dây liên lạc dầy đặc giữa nước Pháp và nước Anh… Gặp gỡ được nhau là một dịp may rất hiếm thấy có biết nhường nào?... Không, từ những thế hệ này truyền sang thế hệ kia. Thượng đế đã có ý định của mình… Đến tận ngày hôm nay… Một sườn dốc đã được chuẩn bị… Cầu chúc Thượng đế… (Chúng tôi chỉ là những người dệt thảm, Clara và tôi, số phận hòa trộn nhờ bàn tay thánh thần, dệt đan vào nhau đến muôn đời…) Ôi, hai con người cuối cùng đã gặp nhau… Các con của cha, cha chúc mừng các con, cha chúc mừng các con… Cha cố ngừng lời… Amen.

Buổi lễ lại tiếp tục, mỗi lúc một chậm, người ta có cảm giác cha cố đã hết hơi, đột nhiên kiệt sức vì nghề nghiệp của mình ngày qua ngày, hà hơi sức thần thánh vào sự mỏng manh của trái đất, tạo các khung bên ngoài cho đám mờ mờ ảo ảo của những tình cảm. Cha cười với chúng tôi, Clara và Gabriel, các con bé bỏng của cha, cha có vẻ như xin lỗi, người ta muốn giá như cha chấm dứt…

Sau l’Ite missa est, cha tiến đến bên tôi:

- Cha xin lỗi con. Còn bao nhiêu con người chết tuần này… Cha chẳng còn được sự uyển chuyển như trước, cha chẳng còn có thể nhanh chóng chuyển từ thánh lễ này sang thánh lễ khác. Trong những trường hợp như vậy, lẽ ra cha phải xin hủy, nghỉ ngơi và sau đó mới lại bắt đầu. Nhưng không thể được, các gia đình sẽ bảo sao? Do đó, cha xin lỗi, vì con cố vừa lòng với, với cái đám cưới chẳng ra gì này.

Tôi nói để cha yên tâm. Không đâu, cha nhầm rồi, đây là một đám cưới đẹp đôi.

Cha mỉm cười nhìn tôi, con là người tử tế, cha chẳng tin tôi, và rồi cha quay vào kho đồ thờ, chậm rãi với dáng đi của một ông lão, lê một bước và rồi lại một bước.

Mọi người đợi tôi ở sân trước nhà thờ, để rắc gạo và chúc mừng.

- Thế nào anh Gabriel, anh làm gì đấy?

Tôi cảm thấy hông Clara áp sát hông tôi, và miệng áp bên tai: Anh đóng xong va li chưa?

Và chúng tôi đi xuống các bậc thang, bước qua dưới vòng các vĩ, các sao và máy nhịp. Ông bầu đã làm tôi phần việc của ông, ông đã huy động tất cả những người đã phát hiện ra, các bậc kỳ tài đang tập toọng và thậm chí mấy kẻ đã thành tài cũng tới dự. Cả chàng sinh viên người Bồ Đào Nha, nhân viên gác đêm ở khách sạn Washinton và Albany cũng tới dự. Tất cả mọi người đều ôm hôn Clara.

Một chồng điện tín đón đợi trong chiếc xe ngựa mui gập:

 “CÓ CHUYỆN GÌ VẬY? BỐ XONG TỪ LÂU TRẢ LỜI. BỐ LOUIS. (12G26)”

“CHỨNG MẠCH NHANH PHẢI KHÔNG NẾU VẬY ĐỢI MẠCH TRỞ LẠI NHỊP 80 TRƯỚC KHI TIẾP TỤC HÔN LỄ (12G35).”

“CHỞ ĐẾN BỆNH VIỆN NÀO NẾU GẶP CHUYỆN RỦI BỐ ĐẾN. (12G49)”

Ngày mùng 1 tháng Chín đó chắc phải kéo dài mãi tận đêm, như tất cả các ngày mùng 1 tháng Chín. Nhưng Gabriel chẳng còn nhớ gì cả. Chắc thế nào chẳng có bữa tiệc cưới, diễn một vở kịch, có thể hát hò và lại những bức điện tín. Nhưng Gabriel không giữ trong đôi tai mình bất kỳ tiếng ồn ào náo nhiệt nào, bất kỳ bằng chứng âm thanh nào của một lễ cưới có thể dội lên vào thời đó; và khi nhắm mắt, anh không thấy những bức tượng nhỏ đặt bên mặt bánh ga tô: người chồng nắm tay vợ đang cầm một cây nến thờ.

Tuy vậy một cảnh vẫn quay về trong trí nhớ anh, một cảnh ngoài ga. Dưới làn ánh sáng lờ mờ lọt qua cửa kính, gia đình Knight, những người còn lại, từ nay chỉ còn lại ba người, cái gia đình ít người Knight đứng trên bến ga, tàu sắp khởi hành, hai vợ chồng mới cưới hạ cửa sổ, nhoài người cúi xuống trò chuyện với mấy người đang đứng trên bến ga.

- Như vậy lần này quyết định là cao su nhỉ? – Ông Markus bảo.

- Vâng ạ, theo con thì điều đó đã được quyết định – Gabriel đáp.

- Con đã chẳng cho cha rõ cao su buộc phải ra đi xa như vậy!

- Có, có nói rồi ạ, con thề đấy, con đã báo trước với cha rồi đấy thôi. Công ty đã cử tất cả bọn con ra nước ngoài trước khi phân công trách nhiệm.

- Như vậy là cha nghe chưa rõ, nhưng không sao, Gabriel, cha tin con, con biết rằng cha tin con…

Mấy người phụ nữ đứng bên cạnh thề rằng sẽ viết thư. Loa truyền thanh thông báo mời quý khách đi Rouen và Le Havre lên tàu.

- Còn Gabriel – bà Élisabeth kêu lên. – chúng ta quên chưa chào chia tay Gabriel!

Bà Élisabeth hôn lên môi tôi. Ít ra tôi cũng được một lần cao hơn bà. Lúc tàu chuyển bánh, Ann nhìn thẳng vào mắt tôi:

- Anh cố giữ mình, anh Gabriel, đời còn dài.

Bà Élisabeth dặn lại Clara là đừng bao giờ uống nước không lọc kỹ. Bây giờ ông Markus đã quên chúng tôi. Ông so giờ đồng hồ đeo tay của ông với chiếc đồng hồ lớn treo trên đầu chúng tôi như một chiếc đèn chùm. Nhiều người khuơ tay chạy dọc theo tàu. Nhưng không phải ba người trong gia đình Knight. Họ đứng im không nhúc nhích. Ông bầu quàng tay ôm cổ hai người đàn bà còn lại trong gia đình. Rồi sau đó họ nhòa dần. Cuộc đời ở gửi chấm dứt như vậy đó.

Đám cưới của bố (Gabriel) và ông nội con (Louis), trong cùng một ngày, diễn ra như vậy đó. Nếu bố, thuật lại con nghe chuyện đó, rất chi tiết, ông là vì nhặt chọn chúng ra trong cuộc đời riêng tư của con thật khó biết bao. Rồi con sẽ thấy, khi con lớn khôn hơn, một khi mở toang cánh cửa các kỷ niệm, những năm tháng đã qua xuất hiện trở lại toàn bộ hoặc từng phần, nhưng luôn bép xép, không có trật tự cũng chẳng biết e thẹn. Luật sư và con, hai người cứ xem xét những gì thấy cần, hoàn cảnh có cái làm giảm nhẹ, có trường hợp gây nặng thêm. Mỗi người mỗi nghề, luật sư bảo vệ, con cái phán xét. Chuyện thường tình. Thôi bố quay về với lịch sử. Bản án sắp được đưa ra xử, bố muốn hoàn tất hồ sơ. Con chia tay với bố ở sân ga, bố ra đi bằng tàu thủy. Liệu con có giống bố không? Liệu con có thích, như bố, các chuyến du lịch không?

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.