Sự ra đời của Hiệp hội Than và Thép của Châu Âu, sự khai trương Nhà hát nhân dân quốc gia, chiến tranh Triều Tiên, thành công của nhóm Casque d’or (Jacques Becker)… Còn Gabriel, ông sống với hai chị em Clara. Giống như nhà triết học Freud. Ông cũng rất muốn tranh luận với nhà bác học lớn này của thành Vienne về sự phiêu lưu đó. Trong lĩnh vực này thì Freud là bậc thầy: bốn mươi ba năm sống chung với hai cô Bernays, Martha (lấy làm vợ) và cô em là Minna mà ông thỉnh thoảng dẫn đi thăm thành Rome hay đi tắm suối nóng ở Bad Gastein, cô này mỗi khi về phòng mình đều phải đi qua phòng của hai vợ chồng Freud. Con người này phải có nhiều điều để nói về những chỗ giống nhau. Về những tiếng vang mà ta tìm kiếm, về cái gia đình đã nuôi và ấp ủ ta, về cái tình cảm nhọn sắc và sâu xa hơn tất cả là sự loạn luân. Than ôi! Freud đã chết! Đáng tiếc, thật đáng tiếc, con người của thành Vienne không những chỉ yêu hai chị em cô gái mà còn yêu cả các giống nấm nữa. Có gì chứng tỏ điều đó không? Bức thư sau đây từ năm 1899 mà Gabriel đã phát hiện ra trong những đêm mất ngủ, đọc sách liên miên.
“Ngày nào chúng tôi cũng hái nấm. Ngày mưa đầu mùa tới, tôi sẽ đi bộ, đến tận nhà ông bạn quý Salzbourg, ở đó tôi đã tìm thấy những đồ cổ Ai Cập, lần thăm trước… Những vật này làm tôi vui và cho tôi biết về những đất nước và thời đại xa xưa.”
Chắc chắn là ngoài Ai Cập ra, Freud còn có nhiều khía cạnh khác nữa, Orsenna ạ.
Các cô ở đằng kia.
Ban ngày, các cô biến mất theo nghề nghiệp của họ, một cô thì với tiền bạc (Monaco, Genève, thiên đường thuế, chương trình bất động sản), một cô thì chụp ảnh (Saint-Paul-de-Vence dưới mọi khía cạnh hay họa sĩ Nicolas de Stael ngoài hàng hiên ở Antibes chụp phản quang), nhưng Ann và Clara có mặt ở đấy để ăn tối, rồi đêm xuống, rồi buổi sang, Ann và Clara cho Gabriel điều mà ông mong đợi từ bao lâu: đó là cuộc sống hàng ngày, nghĩa là một cái gì tự nhiên, lười biếng trôi theo dòng nước chứ không phải cảnh tượng săn bắn, hoặc một đống giờ phút chồng chất sống vô vị, hoặc cái thú vui của phấn son cứ chiều tối lại xâm chiếm lấy ông khi tắt đèn, và còn đeo đuổi khá lâu trong đêm tối.
Ta đã thắng, ta đã thắng. Gabriel ngây thơ nhắc đi nhắc lại và thỉnh thoảng lại thay nụ cười vĩnh cửu của ông bằng vẻ mặt nghiêm nghị (hãy coi chừng, hãy coi chừng những kẻ thanh thản làm phụ nữ phải chạy trốn) và Gabriel cũng phải kìm lại không vỗ tay cổ vũ mỗi phút trôi qua (người ta nói rằng, vỗ tay lien tiếp làm xuất hiện những đốm đen ở tay: hãy xem những người mê nhạc).
Những mưu mẹo đó không lừa được ai. Clara hơi bực tức (Mặc xác anh, Gabriel) còn Ann thì hơi cảm động (Im đi Clara, tôi lại thấy anh ấy khá hơn sau tất cả những gì chúng ta đã làm cho anh…)
Nhưng người chú ý tới Gabriel lại là bà quản gia. Buổi trưa, khi Gabriel có một mình, ở trong vườn vào mùa hè và ở thư viện vào mùa đông, Gabriel ngủ, và khi bắt đầu thiu thiu thì hình như cả ngôi nhà Wester Wemys vắng lặng. Quả vậy, tiếng gót giày của bà L. đã im bặt: nấp sau cửa sổ, hay cái chụp đèn, dù có việc gì khẩn cấp đến đâu, bà ấy cũng không bỏ qua một cảnh tượng: một người nhỏ bé, già nua, sung sướng.
Mỗi Chủ Nhật vào bữa ăn trưa, Ann lại hỏi:
- Anh không hỏi tôi về tin tức của ông Louis à?
- Cố nhiên là có, nhưng anh không muốn cả hai em đều bị làm phiền. Thế ông Louis sống ra sao?
- Có điều chắc chắn là bố anh không phải là người thạo việc làm ăn. Anh thứ lỗi cho em vì đã nói điều đó chứ, Gabriel? Em đã tưởng rằng xe đạp có thể bán cả ở Á Châu. Còn những chuyện khác thì đều tốt. Hình như thế.
Hãy coi chừng, chúng ta không hoảng hốt, chúng ta không nên lãng phí thời giờ để nhìn nhau. Không, không, chúng ta có câm đâu, chúng ta nói chuyện về tình hình thế giới và chúng ta nói về con, nói nhiều về con, con trai của chúng ta, đứa con muộn mằn.
- Liệu có còn hy vọng không, ở độ tuổi của chúng ta? – Ann và Clara đều hỏi như vậy.
Gabriel hết sức vấn an họ, tranh thủ lúc rỗi rãi để tra cứu sách y học và nhất là tìm hiểu về vấn đề hiếm con: Gabriel đã phát hiện được trường hợp bà Ruth Kistler ở Portland (Oregon) đã sinh cháu Susan ở lứa tuổi năm mươi tám…
- Có đúng vậy không, Garbriel, anh hãy thề đi?
Gabriel đưa quyển sách ra. Hai chị em cúi đầu xuống và hỏi nhau nhiều lần: Liệu một phụ nữ đứng tuổi có thể có một đứa con bình thường không? Còn tôi, với những đèn nháy của máy ảnh thì sao?
Tất cả những cái đó làm cho con hiểu một điều: con không phải thuộc hạng những đứa trẻ ra đời một cách ngẫu nhiên. Có lẽ không có đứa trẻ nào lại được mong đợi hơn con. Có lẽ thế, Gabriel muốn tự kìm chế, vì chưa có máy nào để đo sự ham thích cả.
Thỉnh thoảng khi cảm giác về một điều kỳ diệu về bầu trời xanh mùa hè, về sự mỏng manh, làm Gabriel lo sợ và giày vò trái tim ông thì ông lại tỏ ra vui vẻ, thoải mái và đề nghị: chúng ta đi chứ?
Thất bại.
Cả hai chị em lần nào cũng trả lời như sau: Gabriel đáng thương của em, những người đàn ông bé nhỏ như anh mà lại đề nghị đưa chúng tôi, những phụ nữ đẫy đà, đi chơi bờ biển ư? Cứ làm như ở bờ biển chúng tôi làm anh đỡ sợ. Nhưng Gabriel đáng thương ơi, anh hãy nhìn vào bản đồ, xem vị trí của Cannes-la-Boca, chúng ta đang ở bờ biển đấy thôi. Cần gì phải đi đâu, chúng ta đang ở bờ biển mà…
Đó là điều chứng tỏ họ vẫn chưa phục tùng, họ vẫn chưa hề mất đi cung cách của những nữ hoàng.
Con biết thành phố Cannes, con trai của ta, Gabriel, không cần phải làm con nhớ lại: một ngôi nhà rộng lớn cho người nghỉ hưu, với tất cả những tiện nghi cần thiết cho người về hưu: thầy thuốc tim mạch, người chăm sóc chó bông, thợ giày để nới rộng những chiếc giày làm đau chân, những chủ khách sạn dối trá sẵn sàng thề rằng thứ xốp bầu dục với rượu vang này rất rẻ, những nhân viên du lịch mùa đông… Một thành phố hơi tẻ, êm ả quá và không có con tàu thật nào ở bến.
Nhưng đến mùa xuân, không khí thay đổi hẳn, đoàn người trên chiếc tàu sân bay Cinématographe đổ bộ lên Croisette, tràn vào thành phố Antibes, lan ra tận Suquet: áo hở cổ, xì gà, chụp ảnh, xe du lịch mui trần, tiếng nước ngoài.
Lúc đó, những người nghỉ hưu ở Cannes, về đêm, trằn trọc trên giường, họ như thấy lại những gương mặt trẻ trung, tiếng cười ròn rã, họ cảm thấy một nỗi buồn dâng lên trong lòng và họ tự nhủ: có thật cần thiết tổ chức một đại hội liên hoan trong một nhà nghỉ hưu không?
Tốt thôi.
Đại lộ Wester Wemys cũng không được miễn trừ. Hàng năm, nhà kinh doanh giấy vẫn cho thuê một cánh của ngôi nhà. Ông giải thích là không phải vì vấn đề tiền mà chính là để đánh thức dậy những ngôi nhà cổ của những gia đình cổ. Muốn đánh thức một ngôi nhà thì không có gì tốt bằng một đoàn làm phim.
- Ông Gabriel, xin ông hãy lịch sự, ông nên nhường cho họ một khoảnh nhỏ ở vườn, trong thời gian đại hội, không lâu đâu…
Như vậy là Gabriel, Ann và Clara bị nhốt trong nhà suốt mười lăm ngày, đến tận ngày phát phần thưởng. Bà L. kín đáo mang đến cho họ thực phẩm và từ sáng đến chiều qua cửa sổ, họ đứng nhìn những người thuê buồng, họ mỗi năm mỗi khác. Những người Italia trong phim Sự huyền diệu của Milan không giống chút nào với những người đến sau họ, những người Mexique giả trong phim Viva Zapata: cảnh tượng mỗi lần lại thay đổi, cảnh nào cũng có tác dụng đánh thức ngôi nhà cổ.
Gabriel không phải là kẻ hay tán gẫu. Ông sẽ không kể tên ai cả, cũng không tả lại những cảnh nhìn thấy ở phía bên kia sông. Để tôn trọng sự thật và để phục vụ cho lịch sử phim ảnh, Gabriel sẽ chỉ phát biểu đơn giản là, ngày hội do Alf Sjoberg tổ chức rất sôi động, thật là mới mẻ cái mà người ta có thể làm được ba người, khi đã quá nửa đêm, để ăn mừng huy hiệu cành cọ vàng. Hai năm sau, ta hãy hỏi Gisèle Pascal, người đã nắm tay Gary Cooper, xem cái gì đã làm cô đỏ mặt tối hôm ấy. Những chuyên viên kỹ thuật của phim Đồng lương khủng khiếp có phải là hôm ấy, ăn mặc rất điệu, đã xoay quanh Ann Baxter bên cạnh một bồn sen cạn lớn? Còn Ann và Clara thì tôi thấy họ run rẩy, giậm chân ở cạnh tôi và cũng như tôi, họ đang mong ước được đổi buồng sang phía bên kia để được đi dạo trong vườn một cách vô tình và được người ta mời. May thay, liên hoan phim chỉ tiến hành trong gần hai tuần lễ, và hội hè thực sự thì chỉ bắt đầu vào phút chót!
Thế đó, thế đó, Gabriel dừng lại, chẳng ai biết gì hơn nữa. Cần phải giữ lấy sự thần diệu của nền điện ảnh lớn.
- Đừng dọn dẹp gì hết – nhà kinh doanh giấy ở Paris, người bạn ngày càng thắm thiết của Gabriel, điện về như vậy.
Và khi các công việc cho phép, ông ta đến Cannes gõ cửa buồng tôi:
- Tất cả tốt chứ? Ông cùng tôi, chúng ta đi dạo một vòng quanh nhà?
Gabriel và nhà kinh doanh giấy, cùng nhau đi tản bộ trong các phòng bị xáo trộn, thở hít không khí, thì thào bình luận: cái gương ở đằng kia, cạnh cái chậu rửa đít, không biết họ còn có gì sáng tạo hơn nữa không, các nhà điện ảnh này?
Nhà buôn giấy hớn hở: ông cũng thích những ngày hội này chứ, có đúng không? Đồng ý là nhà của tôi cũng hơi bị hư hại, nhưng nó đã được đánh thức dậy, rất tuyệt. Ông có thấy là nó đã thức dậy không, Gabriel?