của người vùng Clermont
Thực vật học
Chương trình của quý một: biết rõ được tất cả các loại thực vật, cây cối, dây leo, cây xương rồng, cây diếp củ, nấm có khả năng sinh ra nhựa mủ. Hạnh phúc tỉ mẩn dành cho ai tái tạo được 1/100 và viết ra giấy trắng mực Tàu đen một manihot glaziovii. Hạnh phúc phân loại dành cho ai biết được rằng cây xương khô intisy không thuộc họ thiên lý. Hạnh phúc tuyệt trần (hoặc nên thơ) dành cho ai nêu được tên và do đó tạo ra: hevea brasiliensis, hevea quianensis, sapium thompsonii, castilloa ulei, ficus elastic, funttumin landolphia, crypstostegia grandiflora, parthenium argentatum, scorzonera tau-saghyz, taraxacum kobsaghyz, isonandra palaquium, payeno, mimussops, ecclinusa… Hạnh phúc ngôn ngữ học: học tiếng Latin trong hệ thực vật êm dịu hơn trong cuộc chiến tranh của những người Gaules. Hạnh phúc dân chủ: những cây được ân sủng, có nhựa quỷ nhiều vô kể.
Địa lý học
Chiều Chủ nhật nào, người ta cũng đánh dấu trên quả cầu bản đồ thế giới cũ kỹ và kêu cót két ở Viện bảo tàng thành phố, những khu vực sản xuất, Amazonie, Mehicô, Tobago, Guatemla, Madagascar, Côte- d’Ivoire, Turkestan, châu Á nhiệt đới.
Cẩn thận nào anh bạn trẻ - người bảo vệ bảo, - quả cầu dễ vỡ, anh quay nó xoay quá nhanh, anh đi chỗ khác và để nó yên, đằng nào kết quả cũng vậy, rồi anh xem.
Khứu giác
Ôi mùi gôm bốc hơi, tỏa lan các cánh rừng rộng mênh mông, chỉ cần nhắm mắt lại, phập phồng những cánh mũi và thế là ta đã rời sang đấy, xa thoát xương mù vùng Auvergue, ôi Braxin đượm mọi mùi hương liệu.
Hóa học
Lọt vào những bí quyết pha trộn. Hạnh phúc tinh thần: tôi thấy tin tưởng nhà máy. Hạnh phúc nấu ăn: từ lâu Gabiel bật nảy, kẻ phàm ăn như ta đã rõ, chỉ biết chế biến một thực đơn duy nhất, lốp xe theo kiểu Clermont. Dùng nhựa mủ nguyên chất, loại bỏ đường, mỡ thực vật và các chất khác hoặc động vật ký sinh. Gia giảm thêm các chất dẻo, dầu, mỡ động vật hoặc paraffin, tiếp đến là những tác nhân bảo vệ và vữa, màu trắng của kẽm, cao lanh… Nhanh tay khuấy trộn, cho thêm lưu huỳnh, tác nhân lưu hóa. Đưa qua máy chạy bằng xilanh (so sánh với bột nhựa quấy). Đổ vào khuôn. Đôi lúc cho thêm vào chất thúc và chất hãm để chín đều. Chỉ cần đưa vào lò, lốp xe đã sẵn sàng. Và đứng hy vọng Gabriel tiết lộ cho ta rõ tỷ lệ. Bí quyết, bí quyết, bí quyết (hạnh phúc thú vị được giữ gìn bí quyết này).
Xúc giác
Khoa học về lốp, hoặc ngành lốp học, tựa như một mối tình vật lý. Còn phức tạp hơn. Và phũ phàng hơn. Như trong tình yêu, phải có da thịt, đấy là mặt đường và mặt lốp: làm sao để chúng tìm được niềm lạc thú, quấn quýt nhau, gắn chặt nhau (có như vậy mới tránh khỏi những sự trơn tuột chết người) nhưng đừng quá gắn bó keo sơn (để tránh hao phí công suất của động cơ)? Làm cách nào để lớp da của lốp khỏi xây sát nhiều trên lớp da mặt đường (chú ý đến độ mòn, chẳng mấy nỗi dẫn đến chỗ nổ tung) nhưng dẫu sao cũng một vừa hai phải thôi (không âu yếm, chẳng bám riết)? Chính để giải đáp các câu hỏi này mà các nhà thần linh học đã phải nhẹ lướt các ngón tay trên lớp mặt đường, sỏi đá, bụi nhựa đường, các lớp lát đường đủ loại, bê tông, ngay cả lớp cỏ hoặc cát. Do đó họ hiểu rõ dần dần từng li từng chút chi tiết các sự vật. Đây là điều kiện tất yếu để làm lễ thành hôn cho chiếc xe với con đường, thỏa hiệp giữa các thỏa hiệp, thỏa hiệp mang tính của Pascal nhất trong các cuộc đánh cược.
Sửa chữa vặt
Nhỡ một chiếc lốp bị nổ. Làm cách nào dùng ít thời gian nhất để đắp vá?
Trong tất cả hạnh phúc của Clermant, có lẽ đây là hạnh phúc phải giữ kín nhất là cái chắc.
Một số bạn đồng nghiệp của Gabriel thấy thú vị khi loay hoay tháo, vá, lắp lại.
Gabriel chẳng thấy thú vị chút nào.
Đến tận ngày nay, anh vẫn đòi quyền là người có xúc giác chứ chẳng phải là kẻ chuyên sửa những những hỏng hóc vặt.
Pháp lý
Mỗi thứ Hai đầu tháng, chúng tôi đều đi tàu hỏa chuyến sáng. Một nhóm gồm ba người với dáng vẻ dữ tợn: ông Drouard, người có chiếc va li con quý buộc chằng bằng dây thép. Ông Guillaume, người phụ việc, mắt không lúc nào rời chiếc va li con. Còn Gabriel chịu trách nhiệm phát hiện bọn mật thám có thể xuất hiện. Vừa đến Paris, cả ba người đều lao lên một chiếc tắc xi. Tới Bộ, nhân viên đón khách tiếp đón chúng tôi như những người hay lui tới quen thuộc.
- Chào những người dân vùng Clermont, các anh đi đường ổn chứ? Để tôi báo ông Glavani. Các anh cứ tự nhiên. Các anh đã biết rõ từ lâu đường đi lối lại…
Phòng đợi. Vụ văn bằng thực sự ngổn ngang, do chất đầy những nguyên mẫu đủ các kích cỡ, đủ loại: chúng được che đậy tạm bợ, nên chỉ thấy những hình thù ký quái. Nhân viên đón khách giơ tay lên trời. Tôi đã hết lời bảo họ chỉ cần vẽ ra là đủ, còn không, xin mời các vị cứ để những vật tuyệt vời của các vị ở ngoài sân, họ chẳng buồn nghe. Còn không khí ở đây thật căng thẳng. Nhà phát minh nào cũng đều giữ kho báu của mình khư khư trên đùi, ôm trong lòng, hoặc để đảm bảo hơn, họ ngồi quách lên chúng. Tất cả đều tùy thuộc vào kích cỡ của mẫu vật phát minh. Và khi một sinh viên năm thứ năm, một anh chàng mới tới, dám nêu một câu hỏi, tuy nhẹ nhàng, thái độ khoan dung, chẳng hạn: “Tôi thuộc ngành điện, còn ông, ông ở trong lĩnh vực nào?” thì chẳng ai buồn trả lời anh ta. Hoặc nếu có đáp thì cũng là một lời càu nhàu. Coi chừng đấy, ông Drouard nhắc tôi, những người có thể được cấp bằng là những tên kẻ cắp, những tên gian ngoan ma mãnh nhất, họ biết phục chế lại, thực sự theo kiểu Cuvier, anh cứ đưa cho họ một mẩu xương con, họ sẽ vẽ lại được toàn bộ con khủng long, họ moi từ từ bí quyết của anh, mà anh chẳng hề hay biết gì, tốt nhất là anh cố giữ mồm giữ miệng im lặng. Ông Glavani, vụ trưởng, là một người bạn của nước Pháp, của ô tô và của lốp xe. Ông đón tiếp chúng tôi như mấy vị hoàng đế. - Thế nào, lần này có gì mới chứ? Hai trăm kilômét một giờ chạy trên đường phủ tuyết và không xảy ra chuyện rủi ro gì à? Ông Drouard lần lượt mở ba chiếc khóa lấy ra tập hồ sơ về “cái đế” (dải băng của bộ phận lăn bằng da có đinh tán bằng thép) hoặc vành bánh tháo ra lắp vào được hoặc bánh xe dự phòng… trải trên mặt bàn rất rộng màu hạt dẻ. Ông Glavani vỗ tay. Ông là người có bản chất nhiệt tình, chính vậy nên đường công danh của ông bị ảnh hưởng (người đón khách của Bộ đã thổ lộ với chúng tôi). Ông Glavani lấy cuốn sổ bìa đen bằng vải giả da, đây, bằng phát minh của các anh mang số 72387. Tôi rất muốn lẽ ra được ở lại với các anh. Nhưng các bạn đồng nghiệp của các anh đang đợi và họ dữ tợn lắm. Thôi đi đi, hẹn tháng sau nhé. Các anh cố chuẩn bị cho tôi một sự bất ngờ đấy. Chúng tôi ra khỏi văn phòng ông ta, chân bước như những nhà quân sự, lòng rất an tâm, với hơi ấm êm dịu này lan tỏa khắp cơ thể do sự được hợp pháp hóa đã tạo nên: niềm hạnh phúc pháp lý là như vậy đấy. Chúng tôi lại bước qua phòng đợi, bị ánh mắt của tất cả các nhà phát minh nhằm chĩa nhìn chằm chằm. Một số công khai phản kháng: thật xấu hổ, xấu hổ, một đại diện của nước Cộng hòa phải biết kiềm chế các tình cảm của mình, có sự thiên vị. Họ phải kiện lên tận bộ trưởng. Do đó, ông Glavani, người ủng hộ chúng tôi, cứ ì ạch trong việc thăng bậc.
Đôi lúc, trước khi lên tàu hỏa quay về, tôi còn kịp đảo về Levallois. Bà nội Marguerite không còn càu nhàu kêu ca cái ghề của tôi nữa. Bà đã nhận ra rằng ít ra cũng phải để các lốp xe Alexandre le Grand sang được tận bên Nhật Bản. Còn bố Louis, bố có nhược điểm là không chịu nổi sự vắng mặt của tôi.
- Bố biết chứ, Gabriel, đấy là vì lợi ích của con. Nhưng vắng con ngày cứ dài lê thê. Bố nảy ra dự kiến đẩy xích bô con mình được gần bên nhau. Hiện nay bố chưa thể cho con biết, bố muốn con bị bất ngờ…
Gabriel quay về Clermont lòng rất xúc động và rất lo ngại. Những dự kiến của bố Louis, nhất là những tình cảm quyến luyến, anh đã có dịp được nếm trải để phải cảnh giác. Mối lo ngại làm giảm phần nào niềm hạnh phúc pháp lý của anh.
Thể thao
Giải lớn của Lịch sử được trao lần đầu vào năm ân sủng 1906.
Cả Clermont, trừ phụ nữ, những người đau ốm, những kẻ si tình, những thầy tu cương quyết không ham mê tính hiện đại, đều đổ về trường đua ở Sarthe. Cần phải có một sự lựa chọn. Gabriel nằm trong danh sách những người được chọn, bằng chứng về tính xuất sắc trong việc của anh tại nhà máy.
Biết tin vui, bố Louis nổi cơn phẫn nộ chưa từng thấy. Những bức điện của ông bố tới tấp gửi tới tôi:
“DỨT KHOÁC CẤM CHẤM RỦI RO QUÁ LỚN.”
hoặc
“XE TRƯỢT CHẤM XE NỔ CHẤM TỰ SÁT LÀ CÁI CHẮC.”
Gabriel đều bỏ ngoài tai.
Phải chăng đây là mùi của nỗi sợ mang tính người (chó đánh hơi rất thính trước khi cắn)?
Phải chăng đấy là tiếng nổ ầm ầm không bút nào tả xiết của các động cơ (trả lại cho sự yên tĩnh kiêu sang và sự dịu êm tựa lông hồng của nó)?
Phải chăng đấy là ký ức về các màu sắc (màu đỏ của các xe ô tô, màu xanh lá cây, xanh da trời vụt qua, vun vút như con tàu nhiều màu sắc và lưu lại trong ánh mắt hồi lâu chưa nhạt nhòa, còn đường đua đã lại trống xe)?
Phải chăng đấy là hình dáng tròn trặn của các ôtô gây tác động đến tới một kẻ không có mẹ?
Phải chăng đấy là cơn giận dữ của các bà phụ nữ chúa ghét những trò chơi này của cánh đàn ông?
Phải chăng đấy là đoạn cuối đường phải lựa chọn: phanh lại, không phanh?
Phải chăng đấy là tấn hài kịch, những lần xuất phát sai lệch ở mỗi vòng đua, phóng ra xa ngoài đồng quê để rồi lại quay về đường đua?
Phải chăng đấy là chiếc đồng hồ bấm giờ cọ sát nơi lòng bàn tay?
Gabriel chịu không đoán nổi. Anh không biết rõ câu trả lời. Anh chỉ biết mỗi một điều, anh được nghỉ, trọn một ngày, không nghĩ tới mối tình của mình, không một suy nghĩ nào về các cô gái, không hề nhìn thấy Clara, nhớ tới Ann. Do đó anh chảy bổ tới chỗ các nhân viên có chức trách:
- Các ông có định tổ chức Giải lớn nữa không?
- Tất nhiên là có chứ, anh bạn trẻ, và trên toàn thế giới. Gabriel nhảy cẳng vui sướng. Anh biết rằng một mối tình bắt cá hai tay, thật gian nan, thật đeo đẳng như của anh thì cần phải có những lúc nghỉ ngơi để lại sức, những lúc nghỉ ngơi rất ngắn và rất dữ dội. Gabriel sẽ giành các Giải lớn. Đấy sẽ là một giấc ngủ đối với anh, một giấc ngủ trong những tiếng động đinh tai. Chẳng là, ngày khi nằm mơ, anh cũng chỉ thấy các nàng, nàng Ann với mái tóc vàng, nàng chị cả Clara.
Quảng cáo
Bibendum đã tạo dựng nên hình anh Gabriel. Đây là một niềm hạnh phúc? Các bạn đoán thử xem.
Một người đàn bà đợi Gabriel tại Grand Hotel de la Poste!
Tiếng gọi ghê tởm này thốt lên qua giấc ngủ gà ngủ gật vào một trong những buổi đầu giờ chiều đặc biệt nặng nề đó của năm 1902 [ 1) đã hơn ba trăm sáu mươi nhăm ngày vắng bóng cả Ann lẫn Clara, 2) thế kỷ XX còn tồi tệ hơn thế kỷ trước, ấy là nói về nỗi buồn phiền nảy sinh từ những buổi đầu giờ chiều], suýt vĩnh viễn phá tan sự nghiệp của Gabriel. Các bạn đồng nghiệp của anh liền bỏ chiếc lốp họ đang phân tích tỉ mỉ, họ nhìn chòng chọc kẻ bê tha, vẻ đau buồn giả tạo, với tất cả tính đạo đức giả chỉ thấy thể hiện ở những bạn đồng nghiệp thôi. Còn ông Drouard tiến đến bên và để tay lên vai anh.
- Chuyện gì vậy, Gabriel, anh bạn ra dáng của tôi, có chuyện gì không ổn à? Cậu không thấy hạnh phúc bên bọn mình? Cẩn thận đấy Gabriel, đừng tự hủy hoại bản thân…
Liệu có phải nói rằng các nhà lốp học là những con người chặt chẽ về nguyên tắc không? Một phản ứng như vậy có thể làm họ tin ngay. Tin một cách vô lý. Ngàng lốp học là một khoa học của những hỗn hợp, những tiếp xúc, những xúc giác, xa cả ngàn dặm với sự ngượng nghịu quá mức. Nhưng với người dân Clermont, và có lẽ với các sinh linh khác, những người đàn bà (nói chính xác ra: giống người du cư này chẳng phải đàn ông, chẳng phải là mẹ, chẳng phải là vợ, cũng chẳng phải là chị em), những người đàn bà vừa đồng thời là sự sơ suất và sự trượt trơn, hai đều không thể chấp nhận được trong ngành lốp học, tất cả các lái xe đều hiểu rõ điều đó. Do vậy, các bạn đồng nghiệp và ông Drouard chợt coi Gabriel như một con quỷ và thì thầm nói những lời không ăn nhập với nhau: khách sạn, một người đàn bà, de la Poste, tất nhiên là dân Paris… còn Gabriel cũng phải lắp bắp; người trong gia đình, đợi một lát, tôi quay lại… Anh cởi bỏ chiếc áo blu xám và chạy đi, không biết có đúng là Clara không? Không, có lẽ đúng hơn là Ann? Chạy đi đến quảng trường de Jaude.
Mệt đứt hơi, Gabriel chạy tới chỗ đón tiếp khách. Người gác cổng hờ hững chỉ tay, thưa ông, phía sau ông. Gabriel lao tới, băng qua tấm rèm cây xanh giữa tiếng cây xào xạc mạnh…
- Anh hãy bình tĩnh, chào anh và anh bình tĩnh – mẹ của họ bảo, đúng là mẹ của Ann, mẹ của Clara. – Đây, anh cầm chiếc khăn tay này lau trán đi. Má anh đỏ ửng cả.
Gabriel liền ngoắt trở mặt (cũng may chỉ trong lòng) thầm nhắc đi nhắc lại rằng, may đây là mẹ mấy cô nàng. Mình bẩn thỉu, mình lôi thôi lếch thếch. Nếu Ann hoặc Clara ở đây thì đúng là tai họa to… Từ nay về sau sẽ từ tốn đến với các nàng và chỉ vào giữa đông thôi. Mùa hè, mình sẽ án binh bất động để khỏi bị đổ mồ hôi, phụ nữ chúa ghét bị đổ mồ hôi, tình yêu không mọc được trên mồ hôi thấm ướt thế này, may quá, cám ơn Chúa tôi…!
- Thế nào, anh đã tĩnh tâm chưa? Anh uống chút gì nhé? Không à? Thôi được rồi, nghiêm chỉnh mà nói tôi tới đây vì thấy anh dễ thương. Theo tôi, các con gái tôi cũng thấy anh dễ thương.
Chứng tim loạn mạch đập của Gabriel đã thuyên giảm, lúc này tái phát dữ.
- Ố! Tôi xin trung thực mà nói với anh rằng anh không phải là người duy nhất mà các cháu coi là dễ thương. Các con gái tôi là vậy đấy. Nhưng khi nói về anh, ánh mắt các cháu ngời sáng một cách đặt biệt. Một bà mẹ phải nhận biết rõ những ánh mắt đó. Còn anh, anh Gabriel, mong anh bỏ quá cho câu hỏi thô bạo của tôi, nhưng do chúng ta không có thời gian, tôi phải ra về ngay chuyến tàu sau, anh Gabriel, anh có yêu các con gái tôi không?
- Chẳng là…dạ, có ạ.
- Thôi kệ anh. Một câu hỏi nữa, anh có phải là người Do Thái không?
- Dạ, không.
- Thôi, anh chẳng nên lấy đó làm điều, không quan trọng. Chỉ có điều, không phải là người Do Thái, anh chẳng hề có khái niệm gì về các bà mẹ Do Thái.
Gabriel thú nhận sự không hiểu biết của mình.
- Những người mẹ người Do Thái là những người tốt nhất trên đời. Và không chỉ trên lĩnh vực chăm sóc trong việc ăn uống, như một số người theo chủ nghĩa chủng tộc cứ những muốn lầm tưởng vậy. Cả trong tình thương yêu nữa. Một bà mẹ người Do Thái có khả năng đi một chuyến tàu lạnh như băng giá để đến một thành phố lạnh như băng nói với một chàng trai mình ướt đẫm mồ hôi, xin lỗi là tôi giễu cợt anh, anh Gabriel, người Do Thái là như vậy mà, nói với chàng trai: anh bạn này, anh yêu các con gái tôi và rất có thể một ngày nào đó các con gái tôi yêu anh, tất cả các điều kiện của sự không may đều tụ hội. Anh có chấp nhận khước từ các con gái tôi không, anh Gabrial!?
- Dạ không.
- Tôi cũng nghĩ như vậy. Do đó, tôi buộc lòng phải làm cái nghề của bà mẹ tốt nhất trần đời và cố xua khỏi anh càng nhiều điều không may càng tốt. Thỉnh thoảng tôi sẽ ghé tới đây, anh Gabriel, nếu anh đồng ý. Tôi sẽ kể anh nghe về các con gái tôi. Anh sẽ cho tôi biết về anh. Anh sẽ dần dần hiểu rõ hơn về các cháu. Tôi sẽ có lời khuyên bảo anh. Anh đồng ý không, anh Gabriel? Tôi không biết rằng anh còn do dự, anh Gabriel. Bản thân không có mẹ và lại rơi đúng vào một bà mẹ vợ người Do Thái, cuộc xung đột khá gay…
Gabriel gật đầu, như một chú bé rất nhỏ, da vàng, thưa bà, tôi rất muốn vậy.
- Thôi được, tôi không có nhiều thời gian, ngày mai tôi đã phải ra về. Ta nói về người chị cả trước. Đây là những điều anh cần biết về Clara…
Bài học đầu tiên bà Élizabeth Knight dạy cho Gabriel Orsenna được bắt đầu như vậy, tại tiền sảnh Grand Hôtel de la Poste, quảng trường de Jaude, Clermont, sau tấm rèm cây xanh. Sau đấy, hai người phải thay lệ thường và lên tận ngọn núi Dôme bằng tàu điện hơi nước khởi hành từ quảng trường Lamrtine, chạy ngước suốt đại lộ Observatoire, ì ạch và nhả bụi than leo lên tận đỉnh núi.
Chính tại đây, một địa điểm nằm sừng sửng chìa ra Royal, Riom, Chamalières, Puy-Guillaime, đường đua Charade, nhà ga Mont-Dore, bà đã huấn luyện cho tôi như các huấn luyện viên thường hay nói như vậy.
- Thoạt đầu anh phải tập dạn dày, anh Gabriel tôi chẳng muốn anh nản chí, nếu không tôi có mặt đây làm gì? Nhưng sẽ gian khổ đấy, những bi kịch, những cảnh im lặng ghê rợn, chẳng có quan hệ gì đến mối tình riêng của tôi, anh Gabriel. Chúng tôi, Markus và tôi, chúng tôi có cùng lối sống.
- Thưa bác, bạn dày nghĩa là gì ạ? – Gabriel hỏi, không dám đưa chân tiến đến bên thành lan can, chẳng qua do sợ chóng mặt, dù cho ngay tại Auvergne cũng vậy.
- Nghĩa là tự tao cho mình có được chút vẻ dửng dưng, đúng đấy, một chút vẻ dửng dưng. Học được cách suy nghĩ tới vấn đề khác ngoài các con gái tôi.
Gabriel cám ơn.
- Thưa bác, tôi sẽ cố gắng, tôi sẽ cố thử.
Bà Knight, xích lại gần. Ở đỉnh ngọn núi Dôme thường bị lạnh, bà để một bàn tay lên vai Gabriel, còn tay kia xoa xoa đầu mũi mình. Mạnh dạn trước cái vẽ đột ngột thân tình này, Gabriel thấy có khí thế và dũng cảm hỏi:
- Bác cho rằng một người nữ, ý tôi muốn nói hai người nữ, có thể đem lòng yêu một người má bầu bĩnh không ạ?
Bà Knight liền cười, cười như người ta cười vào mùa đông, cười mỉm, mép hơi nhếch.
- Tất nhiên chứ, anh Gabriel, câu hỏi nghe đến là lạ, khối phụ nữ thích các cặp má bầu bĩnh. Ta đi xuống chứ?
Và Gabriel hoài nghi (chắc là bà ta nói vậy để mình vừa lòng thôi?) đưa mắt nhìn lần cuối các mỏm núi Auvergne khum khum, đầy đặn, tròn trịa, những người anh em tròn trĩnh của tôi.
Hình ảnh sau đó là Gabriel khoác tay bà Élizabeth, đầu đội mũ, mũ thời đó cũng là những tác phẩm rất nghệ thuật, những khoảnh rừng rậm, vòm lá, lông đà điểu, chim đậu, hình ảnh Gabriel dẫu sao cũng được một lần thấy mừng là mình thấp bé (con hơn nửa đầu tôi sẽ chạm phải khu rừng rậm), hình ảnh sau đó là một bà xinh đẹp, rất xinh đẹp, và Gabriel đi sát bên nhau vượt qua quảng trường Jaude, trước những cặp mắt sững sờ của Clermont.
- Nếu anh muốn nghe một lời khuyên, - hôm sau ông Drouand đỏ mặt khẽ thì thầm bảo, - chớ nên quá ló mặt lộ liễu.
Về vấn đề này, mãi rất lâu về sau, bây giờ đã đến lúc đúng thời hiệu, dù đề tài nực cười, Gabriel có nhiệm vụ thú nhận với bạn lòng kêu căng đến nực cười.
Bà Élizabeth luôn là một sự duyên dáng gây xúc động, lúc bà là một nhà may quần áo nữ tài ba, lúc lại là nhà sản xuất quần áo, tùy theo điều may hoặc chuyện rủi của ông bầu kiêm nhà phát hiện của bà. Vào quãng năm 1910, 1911, y phục của bà thay đổi: áo dài mềm mại hơn, đơn giản hơn thân áo nâng cao thường mang dáng vẻ phương Đông. Nhưng nhất là các màu sắc không bao giờ giữ y nguyên. Màu đỏ, màu xanh lá cây, xanh da trời của bậc vương quyền đã được thay bằng màu hoa cà, màu xanh cây cẩm quỳ, màu hoa tú cần dịu.
- Tuyệt lắm, - Gabriel thầm nhủ, - bà Élizabeth đã nhận thấy mình có tiến bộ. Bà biết rằng mình không còn sợ phụ nữ nữa. Bà chẳng cần che chở mình. Bà ăn mặc theo ý bà…
Và buổi tối, nằm trên giường, anh xoa tay: mình đã bắt đầu lọt được vào chốn thân thiết, lọt được vào chốn tự do của phụ nữ, đến lượt đôi ta, các nàng và ta, đế lượt đôi ta, Ann và Clara.
Gabriel nực cười. Chú chó bông Gabriel lố bịch, khi sủa, chú những ngỡ có thể ra lệnh cho mặt trời mọc.
Chẳng qua là bà Élizabeth ăn mặc theo thời trang. Bác thợ may Worth đã hết thời. Paul Poiret áp đặt luật lệ của mình.
Khi viết điều này, bố Gabriel của con biết ánh mắt ở tuổi niên thiếu của con sáng lên. Con không dám nói ra nhưng bố biết câu hỏi đang cháy bỏng trên môi con: bố đã ăn nằm rồi chứ? Rõ ràng là con chẳng hiểu gì về Clermont. Những cặp ngoại tình bới mãi mới thấy sẽ nói với con: không thể giữ kín được. Mọi chuyện đều bị lộ. Từng cái ve vuốt tội lỗi đều bị tố với giám đốc nhà máy, ngay một giờ sau đấy. Triệu tập. Đuổi việc.
Các chủ khách sạn ở Riom đều sẽ khẳng định với con điều đó. Họ cho rằng giấu những tên tội phạm nam giới và nữ giới là ổn. Nhưng không xong! Riom quá gần Clermont (15 km). Phải đến tận Vichy (59 km) hoặc tốt nhất đến Moulins (96 km), mới mong thoát được lũ rình mò của nhà máy.
Gabriel chẳng bao giờ rời khỏi Clermont trừ trường hợp đi dự Giải lớn, mối nghi ngờ đó chỉ là một sự ác ý không có bằng chứng. Hoặc người ta đã thu thập qua mỗi lần đến thăm của bà Knight, một chuỗi các sự trùng hợp hoàn toàn không đáng tin cậy. Rằng khi xuống ngọn núi Dôme, do cảnh lộn xộn bà mẹ của Clara và Ann bị xô giạt vào nhân vật của chúng ta và cũng có thể bị xô loạng choạng nên cứ phải đứng đấy, nép mình, rằng trong tiền tiền sảnh của khách sạn de la Poste, nhân viên tiếp đón đã quay lưng lại về phía hai người, đúng vậy, các vị này thích mầm mò những chùm chìa khóa cửa; rằng người trực thang máy đã vắng mặt, do tang lễ nào đó hoặc mẹ bị ốm (còn bà Knight, con thấy đấy, bố là người minh bạch, bà ta biết cách thao tác mũi tên dài bằng đồng)l rằng ngoài hành lang vắng bóng người, đúng lúc bà trực phòng đang bận lo việc ở lầu trên, rằng cửa văn phòng số 314 không kêu rít; rằng Gabriel không thốt lên một tiếng cười, rúc rích lố bịch đúng là của các chàng trai tân (hoặc gần như vậy) khi bị cởi chiếc cra vat Lavabe đeo vào những ngày lễ; rằng các dây giày không sào sạc; rằng nịt vú không sột soạt; rằng Gabriel sốt ruột, chẳng đã hất tung đôi giày xăng đá của mình bắn sang đầu kia căn phòng 314, như tất cả các chàng trai được hưởng của trời ơi vẫn thường xử sự như vậy, không trừ một ai; rằng bà Knight không nỉ non, cũng chẳng thở dài, chẳng rú lên, vào bất cứ lúc nào. Thế mà, có lẽ con chưa biết, khi người ta từ Paris tới vì chuyện này, người ta nỉ non, nói đúng ra người ta thở dài, người ta rú lên.
Trùng hợp, phải thừa nhận rằng vô số những trùng hợp. Thế mà bố Gabriel đã giải thích với con chuyện đó, nhưng bố vẫn nhắc lại: không có sự ngẫu nhiên, mà chỉ có lòng thương nhớ quê hương. Không, tốt hơn hết là bám vào các sự việc. Gabriel không bị đuổi khỏi nhà máy. Như vậy là tâm hồn anh ta trong sạch. Và nhiều số liệu thống kê (cấm không được công bố để đảm bảo trật tự về chính trị) xác nhận điều này; một bà mẹ người Do Thái thủy chung hơn người đàn bà khác.
Rút cục, một cuộc giao du khác, có cái vẻ chính đáng hơn suýt vĩnh viễn đập tan sự nghiệp lốp học của tôi.
Gabriel luyến tiếc những chiếc tàu điện. Giới cao su coi thường chúng thậm tệ (những chiếc xe tội nghiệp có lắp bánh bằng sắt), anh thích thấy những con tàu to tướng này bò ngang dọc khắp thành phố, râu vểnh lên trời, và chân bao quanh một lớp tia lửa. Đôi lúc anh ngồi lên tàu đi dạo một chuyến không có lộ trình nhất định, cốt để hưởng cái thú ồn ào, bị xô lắc, và cả cái cảm giác kích thích của sự hiện đại hóa. Không có được những đặc tính làm dịu yên cõi lòng như của Giải lớn, nhưng những chiếc tàu điện xoa dịu nỗi buồn. Ann và Clara xem ra gần gũi hơn, và tương lai với mấy cô nàng thêm phần chắc chắn tí chút. Chẳng là, các tàu điện, theo định nghĩa, không bao giờ đi chệch khỏi tuyến. Cảnh tượng trung thành này làm anh tĩnh tâm. Người ta không nhận thấy, nhưng việc thay thế tàu điện bằng xe buýt nhất là những sự thay đổi gây ra cảnh phải thường xuyên chuyến đầy người xếp hàng, đã làm cho tâm hồn người dân thành phố bị mất phương hướng một cách âm thầm, nhưng sâu sắc và gieo vào lòng họ ý nghĩa ngoại tình. Nói tóm lại hôm đó, Gabriel ngồi yên vị trên chuyến tàu điện của mình chạy ngược đại lộ Charras.
Và ai đang ngồi ngoài thềm hiên quán cà phê Blancharel ở đối diện khách sạn Midi? Bố Louis.
Cậu con trai liền đứng bật dậy khỏi ghế, xô hai bà nông dân từ trên núi xuống để bán, qua mùi thơm, không còn chút nghi ngờ gì nữa là mật hoa tiên, anh chàng nhảy xuống lề đường. Bố Louis đã đứng dậy. Hai bố con ôm nhau, hồi lâu, một hồi lâu. Thế - nào – khóc – cao – su – tốt – bà – nội – Marguerite – vẫn – luôn – buồn – còn – các – con – mối – tình – của bố - khói – thế - nào – của – con – suông – ta – sẽ - thu – xếp – chuyện – này. Phải mãi chuyến tàu điện sau nổi chuông liên tục cảnh cáo mới tách được hai bố con rời nhau ra và để nó đi qua.
- Một mối tình thật đẹp, - một giọng nói lên sau lưng hai bố con.
Hai bố con xoay người lại.
- Bố giới thiệu con đây là bác sĩ Ligier, - bố Louis nói, - Bố và bác sĩ cộng tác với nhau.
Tội nghiệp bác sĩ Ligier, Gabriel còn có thời gian nghĩ vậy và anh siết chặt tay với sức mạnh tự nhiên và anh đáp lại nụ cười cố gượng hết mức, với vẻ tự nhiên. Tổng kết lại: năm ngón tay bọ bóp nát, nhưng con tim được sưởi ấm. Chẳng là sức mạnh tự nhiên, đôi vai vuông vức, cái gáy của lính cận vệ và chiếc sọ hình cầu, có ánh mắt nhìn thân ái nhất nước Pháp.
- Tất nhiên là con ở lại trưa với bố và bác, - bố Louis quyết định.
Cousinat (xúp: hành tây, hạt dẻ, tỏi tây, cần tây, crem tươi, bơ Salers).
Falette (xườn cừu rán, đậu trắng).
Aligot đồ ngọt (pho mát toar Planèze, tỏi, khoai tây, rượu rum).
Rượu địa phương, rượu chanturgue.
Trong khi tiệc tùng, bố Louis kể lại ý tưởng mới của bố. Bố càng đi sâu vào chi tiết vụ này, Gabriel càng tự rót cho mình nhiều rượu chanturgue để nhấn chìm trong lòng cái tính bi quan cơ bản đối với tất cả các dự kiến của bố.
- Gabriel, để bố giải thích cho con rõ. Như con đã biết, dân bản xứ thuộc địa hay đau ốm. Còn bố, bố tham gia với hết sức mình vào tiến bộ y học nhiệt đợi mà không có nó thì chẳng thể có Đế quốc. Ta có thể nghĩ rằng, đứng trước một công việc như vậy, toàn dân Pháp sẽ đoàn kết lại. Bác sĩ, xin mời bác sĩ dùng thêm món cousinat, cách đây mấy tháng, một người xuất bản ở Paris, bố sẽ cho con tên ông ta, Gabriel, có thể con sẽ được gặp ông ta trên đường đi của con, phải thận trọng với ông ta như với bệnh dịch hạch. “Nhà xuất bản garette des caude” 3 phố Humboldt, xuất bản một bài nhục mạ Chátclguyon và người sống ở các nước thược địa, cái phụ đề còn để lộ rõ hơn “rất nhiều người sống ở các nước thuộc địa bị coi đã mắc “bệnh gan” là những người theo những xét xử của Chátclguyon, trước hết “mắc bệnh đường ruột”. Con biết thủ thuật rồi đấy, cái bánh quy cứng này dễ tan trong miệng, một chiếc lược đáng khinh trong kinh doanh: xổ toẹt tất cả các khách hàng của Vichy tại các thuộc địa. Kết quả là bị nó dồn đến chỗ phá sản. Những người có thiện chí đã quyết định phải hành động.
- Không có bố anh, Vichy đã chết toi rồi, - bác sĩ Ligier xác nhận, - sức mạnh tự nhiên.- Và kết quả này đây, bố anh muốn làm con bị bất ngờ: Vichy dành cho người dân thuộc địa và những người sống ở xứ nóng, tác giả là bác sĩ Bandelin, tập một do Orsrenna xuất bản.
Gabriel lau mồm, chùi tay và bắt đầu lật các trang sách.
LỜI MỞ ĐẦU
“Người sống ở các nước thuộc địa và ở xứ nóng chưa biết rõ lắm công hiệu của nước Vichy và tác dụng phòng ngừa và trị các bệnh nhiệt đới của nó. Họ biết rõ nơi nghỉ có nguồn nước nóng ở Vichy có ích trong việc điều trị những chứng bệnh đau gan và dạ dày – ruột, nhưng niềm tin vững chắc và sâu đậm trong việc điều trị khỏi hoặc làm giảm một số bệnh ở các xứ nóng chưa thâm nhập sâu trong suy nghĩ riêng tư của mỗi người và do đó người ta bỏ qua không đến với Vichy để tìm cách chữa khỏi bệnh”.
- Thế nào, con thấy thế nào? – Bố Louis hỏi.
“Việc chữa bệnh bằng Vichy là liều thuốc công hiệu đối với những chứng bệnh này. Do ảnh hưởng của cách điều trị, da thịt mềm mại và chắc, nước da sáng sủa. Những khuôn mặt gầy còm trông không còn hốc hác và gò má hõm sẽ phình xệ, nước da đỡ bủng và chính ngay khuôn mặt phù bủng cũng lấy lại được sắc vẻ khỏe mạnh”.
Trong khi đang đọc, tôi nghe tiếng bố nói:
- Ông thấy đấy, ông bác sĩ, Gabriel cũng có đầu óc khoa học. Chẳng phải ngẫu nhiên nếu cháu đã chọn xứ sở của Pascal. Cháu có thể hỗ trợ rất nhiều cho chúng ta.
- Tôi đã nhận thấy điều đó, - bác sĩ đáp.
“Vichy dành cho những người thể lực yếu, uể oải và thiếu máu. Đây là trường hợp của những người sống ở các nước thuộc địa.
Vichy là nơi điều dưỡng lý tưởng để những người sống ở các nước thuộc địa và những người mắc bệnh của xứ nóng nên tới lấy lại sức khỏe, luyện thể lực và chữa lành những chứng bệnh nhiễm phải trong những điều kiện nhiệt đới. Khỏi phải lo sợ ho lao. Không một căn bệnh lao nào có thể và được phép mon men tới gần.
Vichy là người nước làm trẻ lại dành cho những người ở các nước thuộc địa.
Ai uống nước Vichy sẽ lấy lại sức khỏe và thể lực, tôi còn dám nói rằng, sẽ trẻ lại”.
- Con đã đọc xong, bố muốn có lời văn ngắn gọn để không làm giảm sự thật. Thế nào, ý kiến con ra sao?
- Tuyệt lắm! – Gabriel nói. – Thậm chí tàn bạo đối với các trạm điều dưỡng khác (mà năm mươi phần trăm sau này Gabriel phải xin lỗi, nhưng rượu chanturge làm rối sự nhận định về khoa học nước khoáng nóng).
- Con nói vậy không phải để làm vui lòng bố đấy chứ?
- Không ạ, sự thật đấy.
- Ông thấy thế nào? – Bố Louis quay sang hỏi bác sĩ. – Lại được thêm một người đồng minh!
- Hoan nghênh anh đã gia nhập hàng ngũ những người ủng hộ nước khoáng Vichy! – Ông bác sĩ nói.
Và chúng tôi nâng cốc uống mừng một hồi lâu nước khoáng Vichy, chúc mừng khoa học, chúc Đế quốc. Các chuyến tàu điện chạy qua, chạy lại. Cuối cùng Gabriel phải tự hỏi chẳng rõ chuyến tàu điện vô tận này có chuyến nào cũ chạy quanh Clermont, như một bức tường thành di động vậy.
Những tháng sau đấy, tôi tận lúc bị bắt giữ, được ghi lại trong cuốn sách vàng. Cha – Con ở chương “thừa nhận”, cũng còn được gọi là “Khỏa thân”.
Gabriel và bố Louis chủ nhật nào cũng gặp nhau ở quán cà phê Bancharel.
- Bằng chứng rõ ràng nhất nói lên sự gắn bó của bố với sự thật, - bố Louis nói, - đó là bố đã lựa chọn Vichy (cách đây 59 km). Lẽ ra bố nên bảo vệ Chatelguyon (20 km), để đỡ phải đi xa.
- Đúng vậy, - Gabriel đáp.
- Ông bác sĩ mời hai bố con tuần sau đấy.
- Bố cảm ơn ông ấy giúp con.
- Có chuyện gì vậy, Gabriel ? Lại Ann, lại Clara à? Thôi mà, không sao cả đâu. Chúng ta cùng bàn bạc với nhau. Trước hết ta gọi bữa ăn hẵng. Còn thấy cái món moustayrol, rồi tiếp đến món picoussel thế nào?
Và khi các đĩa thịt bò găm bông, gà, rau được bưng ra, rồi sau khi đã ăn các món xen kẽ pho mát, bánh nhân mứt mận và rau hảo hạng, bố Louis mới thuyết về tình yêu cho cậu con trai.
- Phụ nữ bỏ ra đi, Gabriel.
- Đàn ông có lẽ biết cách mở đầu, Gabriel, nhưng phụ nữ biết cách kết thúc.
- Nếu ít ra phụ nữ ra đi có một nấm mồ thì, Gabriel này, người ta còn có một cái đích để đi dạo…
Gabriel lại càng rầu rĩ. Quang cảnh xung quanh đóng vai trò của mình, tất cả các núi lữa đều tắt hết. Và lại còn rượu chanturge nữa. Khi ông bác sĩ không có đây có thể nói rằng bố Louis đã uống những ý nghĩ đen tối.
Sau những cuộc gặp gỡ ảm đạm đó. Gabriel lao vội tới nhà máy. Người gác cổng trố mắt.
- Làm việc à? Chiều tối Chủ nhật vẫn làm việc à?
Gabriel đã tìm thấy ở nơi đây sự bình thản của mình, dần dần, vùi đầu vào công việc, anh tìm thấy niềm tin này vào các sự việc, cảm thấy vững chắc này ở dưới chân đang bước tạo nên sự tinh thông, thay vào chỗ thiếu vắng tình yêu.
Bất chấp những tiếng la hét om xòm của ông bác sĩ, một thời gian sau đó bố Louis bị bắt vì hoạt động bất hợp pháp về y tế (nhiệt đới). Những tấm lòng nhân từ hay nói một cách chắc chắn hơn, những khúc lòng bị chăm sóc chẳng ra sao, đã tố cáo bố. Chatelguyon đã trả thù.