Cuối cùng chúng tôi cũng ra ngoài.
Lênh đênh mãi trong cabin của chúng tôi, lúc bị cuốn vào các thể xác, lúc nằm im bất động dưới ánh mặt trời tình cảm, chúng tôi bị choáng váng. Chúng tôi mơ một chút vững chắc, tin tưởng, đất liền, nếu có thể được, một lục địa. Từ lúc tôi khẳng định với Clara rằng có Mỹ - Latin, cô ta muốn kiểm tra. Sau hai mươi mốt ngày, cô ta gần như tin rằng tất cả là mơ mộng, mơ mộng và dối trá. Cô ta nhìn tôi chằm chằm, vẻ kỳ cục, cứ như thể tôi đã bịa đặt mọi chuyện, Mỹ - Latin, cứ như thể không có cả bản thân tôi, sau khi đã kể lể biết bao chuyện sai không có thực. Vào một buổi sáng, chúng tôi đẩy cừa cabin màu gụ đỏ mở ra và chớp chớp mắt trước ánh nắng, vẻ như người tù vừa được thả.
“Họ đã ra, mấy người Pháp đã ra rồi !...” Tin này được truyền lan khắp tàu… “Hoan hô nước Pháp!… Hai mươi mốt ngày…” Thuyền trưởng muốn biết rõ về chúng tôi.
- … Vì tôi yêu quý tuổi trẻ.
Đây là câu của ông ta. Ông luôn mồm nhắc đi nhắc lại với chúng tôi.
- Hai người lên đài chỉ huy với tôi, anh chị sẽ nhìn rõ hơn, vì tôi yêu quý tuổi trẻ…
- Nếu anh chị thấy buồn, anh chị có thể vào phòng tôi lấy sách mà đọc, vì tôi yêu quý tuổi trẻ…
Và chiêu đãi viên gõ cửa chúng tôi vào lúc mười giờ sáng, nhưng không vào, đã sử dụng cũng những lời đó:
- Thuyền trưởng mời ông bà dùng bữa, vì ông yêu quý tuổi trẻ…
Ông ta đôi lúc để tay lên đầu gối em, tối đến Clara kể lại với tôi. Nhưng chỉ có vậy. Chỉ có bàn tay của viên thuyền trưởng đặt bất động trên đầu gối em. Em sẽ không trở nên lố bịch đâu… Nỗi say đắm này đối với tuổi trẻ là một điều bí ẩn giữa ông ấy và chúng tôi, ông ôm vai chúng tôi, ông giải thích hồi lâu quan điểm của mình về thế giới. Ông nghĩ rằng thời gian là một vấn đề thế tục. Anh chị thấy đấy, ngoài biển không có thời gian. Tất cả mọi tai họa đều do các lần tàu ghé bến gây nên, không có những lần ghé đó, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ già, anh chị có tin vậy không? Thật ra tôi năm mươi nhăm tuổi. Chị nghĩ tôi bao nhiêu tuổi, chị Clara, bốn chục ạ? Bốn mươi nhăm? Theo ông ấy, những người thủy thủ cưỡng lại khá tốt với tuổi tác hơn những người khác. Chị cứ nhìn các cảng mà xem, phần đông các tàu không cập bến mà ở ngoài khơi. Chúng muốn tránh những căn bệnh truyền nhiễm nhất thời…
Khách đi tàu, một khi đã thỏa mãn lòng tò mò của mình (hai vợ chồng trẻ người Pháp trông không biết ra sao sau hai mươi mốt ngày?), thì có ác cảm với chúng tôi vì cái thói quen đế vương mà Clara, đã bổng nhiên nẩy sinh giữa bữa ăn: anh đi chứ, anh Gabriel, ở đây chán ngấy.
Về hình thức thì chẳng lịch sự. Nhưng thực chất Clara đã nói đúng. Cuộc trò chuyện đã chấm dứt từ khi con tàu rời London, chỉ còn lại là cuộc trao đổi giữa các khách mời hết chuyện để nói, như bữa ăn tối trong thành phố bị kéo dài vô tận vì ngoài trời đang mưa.
- Chuyện gì đã xảy ra với Đại Tây Dương?
Cả phòng ăn đổ xô đến bên các cửa sổ tàu hoặc chạy thẳng lên boong.
Trừ những khách quen, những cáo già đi biển: những người này mỉm cười, nháy mắt.
- Anh chị đừng lo, – thuyền trường bảo chúng tôi, – lần nào cũng vậy.
Chúng tôi cũng rời khỏi bàn.
Một điểm sẫm màu hơn màu xanh nước biển của những ngày đã qua chạy ra xa dần sau lá cờ ở đuôi tàu. Phần còn lại của đại dương nhuộm màu son.
- Chúng ta đang đi vào vùng nước ngọt. Dòng sông Amazon chảy thật xiết... Nó cuốn đi tất cả... Chẳng bao lâu, Mỹ - Latin chẳng còn gì nữa.
Thuyền trưởng nghiêng người bên Clara tiếp tục tận tình.
- Tôi cũng vậy, đôi lúc tôi có cảm giác mình đang từ từ tiến ra biển.
- Thôi nào, ông thuyền trưởng – Clara bảo.
Tôi không trông thấy hai người. Tôi thề rằng cô ta để tay lên bộ đồng phục của ông ấy, vào nơi giữa hai chỗ đeo lon vai. Tôi đã bắt đầu hiểu rõ cô ta. Tôi biết giọng nào của cô ta tương ứng với động tác nào của cô ấy.
Đội tiền quân này của nước ngọt làm giảm một phần niềm phấn khởi khi tới nơi của chúng tôi. Lúc Mỹ - Latin xuất hiện, điều đó nằm vượt quá dự kiến, chẳng hề có một tiếng reo nào. Hành khách lặng lẽ đưa mắt nhìn các đường thẳng nằm sát mép nước. Không có vách đá.
- Rừng kìa, – một người lên tiếng.
- Tôi được nghe nói có những cây lớn, – một giọng nữ đáp lại, tấm tức như muốn bật khóc.
Những khách hay lui tới ngồi trong tàu chơi bài uýt, uống rượu Mint Julep, rượu uytski chua, những ngụm cuối của cuộc hành trình. Họ nói đùa với John và Pedrindo, hai nhân viên phục vụ quán rượu, bắt hai người hứa, thế nào hai anh cũng báo đấy nhé, nếu nhớ ra chúng tôi quên khoản tiền thưởng cuối cùng... Trong cảnh bồn chồn khi tới nơi ... Clara không muốn rời chiếc ghế bành của mình, kê cạnh chiếc đàn dương cầm, ngay bên dưới quạt trần. Tôi ngập ngừng hồi lâu trước khi bước lên boong. Không khí từ biệt này đượm một vè gì đó làm ta thấy nôn nao bịn rịn. Và còn cả những lời giới thiệu, lên đi, anh bạn trẻ, anh sẽ bỏ lỡ không được thấy cửa sông bây giờ...
Con tàu từ từ tiến vào một nhánh sông rộng không thấy bờ. Rừng lan xuống sông, và sông trào vào rừng. Một cặp người Italia trợn tròn mắt hốt hoảng.
- Các vị tin rằng ở đây có đất liền à?
Họ dự định mở dịch vụ kinh doanh xe hơi, họ đã tính đến chuyện quay về, nhưng chúng ta đã bán hết sạch ở Milan, thì chính em muốn tới đây đấy chứ, dần dần trạng thái ngây ngất của họ chuyển thành một cuộc đôi co…
Người ta tới tấp hỏi một thủy thủ:
- Cả cái đất nước Brésil đều như thế này à?
- Lúc nào trời cũng nóng như thế này à?
- Lúc nào trời cũng xoám ngoét như thế này sao?
Chàng thủy thủ hờ hững lầm rầm đáp đúng, đáp không, đôi lúc làm lộ rõ nỗi thất vọng của những người nhập cư đi tàu hạng rẻ tiền, phải dùng mũi giáo có mồi lửa vỗ yên họ…
Con tàu lại tiến chậm hơn. Con lạch đầy những con thuyền nhỏ. Thuyền độc mộc mớm sát mặt nước, thuyền buồm theo kiểu Latin màu hồng lựu và vỏ thuyền đủ loại màu sắc, màu da cam, trắng, xanh nước biển nhạt. Hành khách muốn biết họ có phải là những người Da Đỏ không. Thuyền trưởng, thuyền trưởng đâu rồi, ông sẽ đích thân trả lời câu hỏi này! Tôi đưa mắt nhìn sang phải, sang trái. Nước Brésil kia rồi, cuối cùng đã đến Brésil. Rừng đầy những cây cao su hoang dã. Nguồn dự trữ của thế giới về chất đàn hồi chất nhún này. Brésil vạn tuế, nhân vật của chúng ta tự nhắc lại với mình giọng đượm chút khoa trương. Và anh lấy từ trong túi ra quả cầu bằng mút. Và rồi đến đứng sau mấy xuồng cứu hộ để không ai thấy anh say mê làm những động tác ưa thích. Xin chào Brésil, Brésil vạn tuế. Ta đã tới đây. Nước Brésil đó bỗng nhiên biến mất, biến sạch: tạm biệt ông Gabriel, hẹn ngày mai gặp lại nhé. Màn đêm buông phủ. Ở Xích đạo, mặt trời không hạ thấp dần (chẳng là trời đã quá thấp), một lúc nào đó, nó chạy trốn, đường chân trời nuốt chửng nó và đấy là đêm. Bầu trời nhuộm màu đen, hơi nóng trong không gian mang sắc đen, ngay lập tức liền bị xẻ xoi bởi những tiếng động, cứ như thể lúc ra đi, ban ngày đã mở rộng cửa cho một bầy lũ, cho sự hỗn độn ồn ào những âm thanh bị ánh sáng buộc mõm: những tiếng hò hét, tiếng chim hót, tiếng chim gù, một con vật rống lên từ phía xa xa vọng lại, tất cả cứ như nổ lách tách. Còn từ mặt nước, quanh kín tàu, từ mặt nước tối như bưng nổi lên những cuộc trao đổi, tiếng cười, tiếng rì rầm.
Hành khách im lặng, đứng sát bên nhau:
- Họ có lành không, những người man rợ này? – Một giọng đàn ông nổi lên, vẻ dữ dội.
- Tàu cao thế này, liệu họ có leo lên được không? Tôi quay về bên quầy rượu. Những người thường lui tới xứ sở này đứng vây quanh người đàn ông đánh dương cầm. Chắc hẳn họ đã dựng anh chàng dậy trong khi đang nằm chợp mắt một chút. Anh chàng người Anh tội nghiệp không kịp mặc tử tế chiếc áo sơ-mi. Người ta thấy ngực anh chàng để lộ, đôi vú nhỏ chảy xệ giữa đám lông đỏ quạch: mong các vị tha cho, mong các vị tha cho, tôi chơi suốt từ London không được rảnh lúc nào, tha cho tôi. Nhưng những người thường lui tới xứ sở này thích âm nhạc. Họ ép anh chàng uống rượu. Ông Süshind, một nhà buôn lực lưỡng người Hambourg mà tôi thực sự có cảm tình vì đã không để mắt nhìn Clara, túm gáy anh chàng nhạc công tội nghiệp và giúi đầu vào phím đàn.
- Ok, Ok, tôi chơi đây.
Anh chàng mở đầu bằng bài God save the king. Các sĩ quan đứng nghiêm. Các nhà thường hay lui tới xứ sở này nâng cốc. Và đêm tối liền đáp lời, thoạt đầu chỉ mấy tràng vỗ tay, lổ đổ chỗ này chỗ kia, ở ngay sát mặt nước, tiếp đến là những tiếng huýt sáo, tiếng cục cục theo nhịp đều đặn, những tiếng gõ, cả con sông, từ cánh rừng này sang cánh rừng kia chúc nhà vua Anh sống lâu, rồi đệm theo bài La Marseillaise theo cách riêng của mình, dìm trong nước các vệt đi, các vệt đi, sillão của tàu chúng tôi, những người Brésil, đi tàu, đứng vây quanh Clara, Victor Hugo, Tiểu thư, Auguste Comte…
Con tàu thủy Wellington đến Belém do Pará vào ngày 3 tháng Mười năm 1913 như vậy đó.
John, phụ trách quầy rượu, khuyên chúng tôi nên đợi (vì bà Clara không thích đám đông, ông bà biết đấy, cảnh xô lấn khủng khiếp lắm. Khi có con tàu châu Âu tới, không, tôi cam đoan với ông bà đấy, tốt hơn hết ông bà cứ để làn sóng người trào ra trước đã… ông bà ở lại đây với tôi, trong thời gian tôi kiểm kê…).
Anh ta xếp thành hàng tất cả chai lọ lên mặt quầy và tay lăm lăm một cuốn sổ, duyệt lại.
- Ông bà thấy đấy, kể cũng lạ thật. Có chuyến đi người ta uống nhiều, có chuyến thì không.
Quanh chúng tôi, từ những mũi đến lái, cảnh ồn ào náo nhiệt dịu dần. Clara đưa mắt lướt nhìn các chai, miệng phảng phất một nụ cười nhạt, mất gốc. Từ nay sự tồn tại của Mỹ - Latin đã được khẳng định, nhưng không làm cô ta thấy yên tâm. Clara cảm thấy chúng tôi sắp phải đứng dậy, rời khỏi tàu. Tôi thấy cô ta sẵn sàng ở lại tàu để quay về. Quay về là hết nợ. Dẫu sao, chuyến đi biển là một hình thức sống ở gửi. Tôi, tôi có thiên hướng hỗ trợ, nhưng Clara… Tôi vuốt ve cổ tay Clara ở chỗ tĩnh mạch. Clara không nhận thấy điều đó. Người phụ trách quầy rượu tiếp tục bình luận về công việc kiểm kê của mình.
- Này nhé, hai năm trước đây, tôi không đủ rượu cam để bán. Còn bây giờ chẳng thấy ai hỏi cả…
Suốt mấy phút liền, không thấy một bóng người nào đi ngang qua cửa sổ. Con tàu Wellington trở nên im lặng, chỉ còn nghe tiếng nổ đều đều của máy từ xa vọng vào.
Do đó tôi liền cầm tay người vợ rất trẻ của tôi. Người phụ trách quầy rượu không ngẩng đầu lên, chúc chúng tôi may mắn. Chúng tôi bước xuống cầu tàu, đi sau chiếc rương của chúng tôi do hai thủy thủ khênh. Họ ì ạch. Họ càu nhàu. May đây là cái cuối cùng… không biết trong này đựng những cái quái quỷ gì? (sai lầm của kẻ mới vào đời, tôi đã đãi họ tiền puốc boa trước). Họ đặt rương xuống trước mặt mấy nhân viên hải quan đã lên tiếng đùa tếu khi thấy giấy ghi nhãn đề Washington và Albany.
- Paris à?
- Khách sạn Paris.
Hải quan lục lọi khá lâu đống áo sống của Clara.
Và cả hai chúng tôi nhận ra rằng mình đang ở giữa trời đêm Brésil, ngồi bên rương của mình, người vợ rất trẻ của tôi và tôi, mỗi người ngồi một bên cái nhãn ghi Washington và Albany, quảng trường Pyramides và phố Rivoli, có nước nóng và lạnh, có thang máy, máy điện thoại (Paris).
Một lát một người mặc bộ đồ trắng tiếng đến bên chúng tôi.
- Ông bà có phải là…?
Người nọ nói một thứ tiếng Pháp không có trọng âm, điểm vài từ so sánh.
- … Tôi đã bắt đầu thấy thất vọng ghê gớm. Tôi đã nghĩ thầm ông bà không tới vì những sự kiện rất tệ hại…
- Xin lỗi ông, vợ tôi vừa thấy hơi khó chịu trong người.
- Ồ! Thật đáng tiếc ghê gớm, thế bà nhà ra sao rồi?
Đã bình phục. Hoàn toàn khỏe rồi. Tuyệt vời! Thôi ta chớ nên để mất thời gian nữa. Tôi xin tự giới thiệu Loïc Huet. Thư ký của ông Revol. Còn bà Revol đã bắt đầu thấy lo ngại. Họ đã chuẩn bị bữa ăn tối chào mừng ông bà.
Chúng tôi xếp chiếc rương lên chiếc Voisin kiểu mới nhất, chạy rất chậm vì những ổ gà, kể ra gọi những ổ sâu hoắm đầy nước như vậy cũng chưa ổn lắm. Ông thư ký muốn biết ý kiến của tôi. Tôi có cho rằng các sự kiện liệu có dắt dây với nhau, như người ta đồn giữa nước Pháp với nước Đức không? Liệu chúng ta có bị lâm vào chỗ không thể tránh khỏi khủng khiếp không? Tôi im lặng không đáp gì. Tôi đang cố tập trung ngồi cho vững giữa cảnh nảy sóc chao người. Còn Clara cứ sau một lần lắc lư, yêu cầu tôi từ nay về sau không bao giờ, anh nghe rõ chưa, không bao giờ đem sức khỏe cô ta ra để viện lý do cáo lỗi cả.
Bữa ăn tối giống như mọi bữa khác tương tự: bữa ăn chào mừng một ai đó từ nơi đầu kia trái đất tới. Một kịch bản không hề thay đổi mà mọi du khách đều biết rõ. Xin chào, ông bà không mệt lắm chứ? Ông bà sẽ làm quen với sự chênh lệch thời gian thôi mà, trời còn nóng… à nhân đây ông bà cho biết thời tiết ở Pháp trong mấy ngày gần đây thế nào? Một nỗi nhớ quê hương khao khát của những kẻ bị lưu đày… Marne thế nào, Nogent ra sao, Postes thế nào, Falliêres ra sao, hai bờ sông Seine thế nào, tờ Figaro ra sao, Montmartre thế nào, và Lucas – Carton và sự chia rẽ giữa Nhà thờ và Chính phủ?
- Để ông ấy ăn chứ, – bà Revol, bà chủ nhà nói, – À này, thời trang đã thay đổi rồi à, ông? Thợ may quần áo Worth thế nào rồi?
Clara ngồi nhìn tôi vật lộn, vẻ như người bị chứng hay quên: mà này, mình gặp anh chàng này ở khách sạn Washington và Albany, phòng 212, thế mà chiều tối nay mình lại đang ngồi đây ăn món gà giò xứ Basque bên bìa rừng rậm, chuyện gì xảy ra với mình thế này?
Trong tất cả những bữa ăn tối chúc mừng này, người ta đều giới thiệu với bạn những người thân Pháp, thường là vào lúc tráng miệng.
- Ông bà biết không, – và Revol bảo – các bạn Veloso là những người bạn lớn của nước Pháp đấy?
- Rất hân hạnh.
- Vâng, ông Joāo đây đã học kiến trúc ở Paris.
- Gợm nào, tôi nhớ ra rồi, cái địa chỉ ấy tên là gì ấy nhỉ, Rasmaille?
- Đại lộ Raspail.
- Đúng rồi, đại lộ Raspail, trí nhớ rất tốt, rất tốt!
- Thôi đừng nói thêm nữa anh Joāo, nếu không chị vợ Branca của anh, ngồi phía bên phải ông Gabriel, xin ông cho phép tôi gọi vậy nhé, vì trời nóng nên người ta chỉ thường gọi tên tục thôi, nếu không chị Branca lại nghĩ sai lung tung đấy.
Bà chủ nhà (hơi bốc vì rượu hương bài) ghé sát bên tôi và bảo: chị Branca là một trong những nhà thúc đẩy của Alliance française đấy…
- Tôi hy vọng rằng ông bà sẽ không quá buồn chân. Ở đây, thời gian cứ ì ra.
- Em yêu, em hơi quá lời. Thế buổi hòa nhạc hôm qua thế nào? Ông bà đã bỏ lỡ một buổi dạ hội Schubert do các tay xuất sắc ở New York tới biểu diễn.
Hốt hoảng, tôi đưa mắt nhìn Clara. Cũng may, cô ta không nghe thấy gì cả. Clara hơi lảo đảo trên ghế, trông như sắp ngủ. Ông Revol giải thích với chúng tôi.
- Nhà tôi là người Bretagne, người Bretagne vùng Dinard. Do đó, tất nhiên…
Tôi phụ họa theo.
- Vâng, tất nhiên.
Nhưng tôi kiềm chế được và bữa ăn tối đã kết thúc tốt đẹp. Lát sau, lúc ngồi uống cà phê tôi muốn hỏi mấy câu mang tính chất nghề nghiệp, thế còn cao su ạ?..
- Ngày mai, ngày mai, khi ông đã nghỉ ngơi lại sức, cao su sẽ chờ mà!
- Anh thấy đấy, như em đã bảo rồi, – bà người Bretagne vùng Dinard bảo, – ở đây tất cả đều chờ đợi. Chị Clara thân mến, chị mệt mỏi lắm rồi. Tôi rất thông cảm với chị. Guy sẽ đưa tiễn chị về ngay.
Nhưng tất cả những người thân Pháp đã phản đối. Chúng tôi cùng về với họ. Ngày mai xin mời ông bà tới dự bữa tối với chúng tôi. Ông bà tới chỗ chúng tôi thật quý hóa quá. Nghe đâu ông bà rất uyên thâm về Auguste Comte. Đúng là rất may, xin chúc ông những ngày tốt đẹp ở Belem. Chắc ông đã thấy cảnh đại náo. Ồ, không phải đại lộ, ông đã bảo là gì nhỉ? Raspail. À, phải rồi Raspail và Montparnasse. Clara đã thiu thiu ngủ trên vai tôi.
Sau đó xe của những người thân Pháp dừng lại. Họ chỉ cho chúng tôi chỗ trọ đêm.
- Mãi tít đầu kia kìa, ngôi nhà khá đẹp. Chúc ông bà những ngày tốt đẹp ở Brésil.
Chúng tôi lần mò đi trong đêm tối, lòng không ngần ngại, mắt chẳng thấy gì. Trừ mỗi một hình dáng mờ trắng, một hình dáng biết nói: ồ! thưa ông, ồ! thưa bà! Tôi dịch lại cho Clara, tôi nhớ lại không vất vả mấy kiến thức ngôn ngữ của tôi, những kỷ niệm ở London, do muỗi nên không thắp đèn được, nhờ ơn Đức Jésus, đúng đây là nhà của ông bà rồi, hãy tin vào đức Jésus, cẩn thận các bậc thềm, tôi là Rosa Marcelina, nước Pháp là cô con gái đầu lòng của Nhà thờ, giường đã dọn sẵn, chúc ông bà ngủ ngon, ban ngày nhìn rõ nhà hơn, nhờ Jésus và Marie.
Người vợ rất trẻ của tôi ngủ say li bì, trong chiếc màn đôi. Tôi dùng các đầu ngón tay lướt nhẹ trên cơ thể cô ta, cũng xâm xấp mồ hôi như ở khách sạn Washington và Albany. Và tôi thấy sợ, mắt mở thao láo trong đêm, tôi run sợ không thể vươn tới được khí hậu tạo cho người vợ rất trẻ của tôi có cùng sự nồng nhiệt như ở khách sạn Washington và Albany, cô ấy vừa chân ướt chân ráo tới và chẳng quen biết một ai. Nhiều lần tôi cứ ngỡ trời đã sáng. Chẳng là gà trống ở Xích đạo gáy suốt đêm.
Clara mỉm cười. Mỉm cười và ngủ lại. Chắc hẳn Clara lạc vào một giấc mơ mát mẻ ở miền Trung Âu, có lẽ là một cuộc đi dạo bằng xe trượt tuyết, hoặc có thể ở Varsava, một bữa ăn sau buổi hòa nhạc. Gabriel một mình tiến đến bên bao lơn, Belem trải dài trước mặt anh, chạy ra xa tít dọc theo con sông đỏ quạch. Ngày đã mọc, Gabriel nhớ lại những lời những lời khuyên của mấy người bạn thực chứng ở London: cẩn thận, cẩn thận, đừng xa đà vào trò ma thuật của xứ xích đạo hoặc xứ nhiệt đới. Vì ma thuật là trái với tiến bộ. Khi nào cậu sang bên đó, Gabriel, cậu chỉ nên phân tích kỹ, ghi lại thành phần của vẻ đẹp. Đấy là cách tốt nhất để tự bảo vệ.
Như vậy là ngày đã mọc. Gabriel đứng chống cùi tay lên thành bao lơn và bắt tay vào sự nghiệp. Những giai đoạn chính xác một ngày đang mọc ở Belem (Brésil) là những giai đoạn nào? Thoạt đầu là ánh sáng. Người ta có thể nói rằng đây là một cuộc thương lượng tỉ mỉ giữa hai thế lực. Sau bao thế kỷ thương nghị, bóng tối và mặt trời đã cùng chia nhau thành phố vào sáng sáng, không hề phản kháng, bóng tối và mặt trời rút về bên biên cương của mình đúng đến từng milimét một. Dành cho bóng tối là những ngõ hẻm, các đường đi hai bên trồng xoài, các cổng nhà thờ, những mái che nhà kho tạm cất… Dành cho mặt trời, tất cả phần còn lại, các quảng trường, màu đỏ quạch của dòng sông, các đại lộ quá rộng, những chiếc xe bò mui trần, các xe ngựa kéo không mui, những chiếc đầu hói khinh suất…
Sau đó là hơi nóng, như in hằn dần dần xuống thành phố, như một tờ giấy trắng có trọng lượng tăng lên từng giờ từng giờ, ngột ngạt. Và dội thẳng xuống, người ta chẳng còn biết trốn chạy vào đâu. Nhưng người ta không bó tay chấp nhận vương quyền này của hơi nóng. Vừa đặt chân tới, còn chưa chắc chân, hơi nóng đã là mục tiêu bị tấn công. Từ trên bao lơn, Gabriel, quan sát cách bố trí lực lượng. Việc đặt bẫy. Đêm vừa rút, cả một rừng quạt máy bắt đầu quay, những cánh cửa do cô bé gái nhỏ tuổi trần truồng hé mở để tạo nên những luồng gió. Một người da đen cao lớn và người giúp việc da màu sáng hơn đánh xe bò phân phát các cục đá. Người da đen đánh xe, người giúp việc lon ton đi bên, trước mỗi gia đình có vẻ ngoài sang trọng, ông ta đặt một khối màu trăng trắng mà một bàn tay lôi nó vào nhà. Chiếc xe đi liên tục không dừng… Chiến thuật thật rõ ràng… quấy rối. Cô lập từng mẩu hơi nóng và kín đáo thanh toán chúng… Du kích nội thành.
Cuối cùng là màu sắc. Màu sắc từ con sông đỏ quạch xông lên các con thuyền tụ tập kéo về chợ, màu xanh lá cây và màu vàng của hoa quả, màu đỏ và màu xanh biếc của lũ vẹt nhốt trong lồng, màu xanh lục bóng nhẫy của cá nục, màu xám của loại lợn biển, màu đốm đen của da báo, màu đen của các cuộn thuốc lá cuốn, màu nâu đen sần sùi của da cá sấu, tất cả các màu sắc triết xuất, người ta tự hỏi không biết do phép màu nhiệm nào, từ màu lục đơn điệu buồn tẻ của rừng. Trong khi đó từ thành phố, nhà cửa của thành phố toát lên một loạt màu sắc khác kém rực rỡ hơn, màu sắc của cuộc sống hàng ngày, những chiếc võng, những xe ba gác chở các thùng màu nâu lọc nước, những đôi ủng, dao, hộp đen đựng thuốc y dược, các chậu đựng rễ cây, những cây thánh giá, những tranh Đức mẹ màu xanh da trời, những đôi xăng-đan đánh xi…
Và rồi, những người mua hàng xuất hiện, các áo dài màu da cam, tím, đỏ tía, trắng phau, những phụ nữ da đen, những phụ nữ lai, người Bồ Đào Nha, người Đức, và rồi những người đàn ông ngồi dưới đất lưng dựa vào tường, đầu gục trên gối, người ta chỉ thấy mũ bằng rơm và quần màu đỏ tía của họ. Và rồi mấy người chụp ảnh lắp các hộp có chân dài ngoẵng như hươu cao cổ và chó chạy nhông, còn trẻ con chạy lăng xăng: cùng một lúc, hơi nóng, ánh sáng, bóng tối và mặt trời, màu sắc và tiếng động, tất cả hòa trộn vào nhau, thành phố chật ních. Ngày đã mọc.
Ngay buổi sáng đầu tiên, để khỏi bị quấn vào vẻ đẹp (kẻ thù của nền văn minh), nhân vật của chúng ta rời khỏi bao lơn và xuống đường.
- Làm ơn cho tôi hỏi đường đến Campos Salle?
Những câu trả lời đã là lời chỉ dẫn địa vị xã hội của nơi đó.
- Đã mười năm nay, ông cứ việc đi theo đám đông…
- Ông nọ chắc là ưa thích mua sầu muộn?...
Guy Revol, phụ trách công ty, đã đứng đợi ngoài hiên.
- Lẽ ra anh nên đến đúng giờ, anh Gabriel.
- Thưa ông, tôi xin lỗi, tôi lạc đường và…
- Ồ! Tôi chỉ muốn nhắc anh thôi. Sự chính xác là bộ cọc tốt tại những xứ sở này, rồi anh sẽ thấy, vì để cho công việc… Mới lại, anh nên gọi tôi là Guy thôi. Chúng ta đang cùng đi trên một con tàu, anh cho phép tôi được diễn đạt như vậy với một người vừa xuống tàu.
Ông Revol được hợp thành từ những hình khối kỳ lạ chồng lên nhau: đầu rất tròn trên đôi vai rất hẹp. Ngay bên dưới là một thân hình khá đẫy đà, cắm trên đôi chân khẳng khiu, lẩn vào đôi ống quần màu be…
Ông ta nhìn chăm chăm Gabriel, ánh mắt đầy khoan dung.
- Sau khi bị sa sút, họ cứ rút dần từng người giúp việc của tôi, tất cả đều ra đi tới châu Á, vùng phụ cận Saigon. Một số còn viết thư cho tôi. Họ khuyên tôi không nên tới đấy. Ở các khu đồn điền buồn lắm. Trong khi đó ở đây anh thấy đấy, anh Gabriel, người ta cũng thấy buồn chán, nhưng chẳng giống chút nào với sự buồn chán ở các khu đồn điền…
Xem ra ông ta hồ hởi gặp được người để trò chuyện. Một người ông ta có thể bàn cãi về những hình thức khác biệt của nỗi buồn chán trần tục.
- Chúng tôi sẽ chăm lo cho người vợ rất trẻ của anh, đừng lo gì hết, mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.
Gabriel cũng vậy, sau khi cái ngày thứ hai mươi mốt nọ kết thúc, anh cố tự trẻ hóa. Mọi người đều mong muốn được che chở những người rất trẻ. Đấy là một phản xạ nhân đạo. Như thể ta giúp một người mù qua đường. Còn Gabriel, với người vợ rất trẻ này lo ngủ, lo cười trong khi ngủ, đã mong muốn được che chở.
Suốt dọc nơi tiếp khách, những người mặc áo sơ mi trắng đang ngồi đợi, họ ngồi trước máy điện thoại. Chỉ cần khẽ ra hiệu, một đứa nhỏ đứng dậy, tới một quán mua nước uống, rồi bưng khay bước ra. Sau đấy, không một vật nào nhúc nhích. Trừ tay của mấy người đang uống và cặp môi của những người đang nói, một cuộc trao đổi khe khẽ, liên tục không ngừng. Chốc chốc, một người nói cộc lốc bất nhã với anh chàng được giao cho phụ trách đường dây nối liền với bên kia Đại Tây Dương, một anh chàng da đen đội mũ lưỡi trai xanh. Thế nào Galiles? Thưa ông, không có gì cả ạ.
Guy Revol dẫn Gabriel đi thăm cơ sở, một loại nhà gỗ rất rộng màu xanh lá cây nhạt, mành mành buông kín.
- Trước đây người ta gọi nơi đây là trụ sở, trụ sở chính của Công ty ở Brésil, bây giờ chẳng một ai dám gọi nơi đây là trụ sở nữa. Anh, anh có dám không, anh Gabriel?
Đi ngang qua các phòng không người, Guy đọc vanh vách biểu đồ tổ chức cũ của công ty, tên tất cả các nhân viên ngồi trên những chiếc ghế bành kia đã giữ những sổ sách này…
- Nhiều người đã quay về Pháp. Những nhân viên khác là người Brésil.
- Còn ông, ông Guy?
- Người ta bảo tôi ở lại, trong trường hợp mà… Cứ như thể sự náo nhiệt lại có thể được phục hồi trở lại trong chốc lát không bằng. Họ muốn có người tin cẩn có mặt ngay tại chỗ. Thực ra, tôi đang đóng cửa tiệm, câu dầm cố kéo ê a…
- Thế còn việc của tôi, trong tất cả cái guồng này?
- Ồ! Anh, có lẽ anh là người duy nhất có ích cho ngôi nhà mẹ. Lại đây, để tôi giải thích anh nghe.
Chúng tôi quay trở lại qua những hành lang khác. Ông Guy giới thiệu tôi với hai nữ thư ký đang cười rúc rích và với Alberto, một người lai người gầy đét, tóc ở hai bên thái dương bạc trắng và miệng cười rộng: ông ta đã có mặt tại đây ngay từ những ngày đầu phồn vinh.
- Tôi đã chỉ định ông ta chịu trách nhiệm giữ lưu trữ. Nếu anh muốn biết rõ điều gì trong quá khứ, đây là đúng chỗ đấy… Chúng tôi quay về dưới hiên, ngồi hai bên chiếc bàn bằng gụ. Một cơn gió nhẹ lùa từ ngoài sông đỏ quạch tạt vào, gần như mát mẻ.
- Rồi anh sẽ thấy nơi đây có thể coi là chỗ tốt nhất cho tới mười một giờ. Sau đó, đến tận trước lúc ngủ trưa, tôi phải di tản sang văn phòng thứ hai, ở hướng Viễn Tây. Văn phòng thứ ba của tôi ở phía Đông, dành cho buổi chiều. Anh cũng vậy, anh sẽ có cuộc hành trình của anh. Đúng vậy, các nhà hoang vắng lại hóa hay. Ta có thể chọn được các chỗ của mình chẳng phiền toái gì hết.
- Thế còn việc của tôi, ông Guy, việc của tôi trong tất cả cái guồng này?
- Đây đây, Công ty cho vay tiền, nhiều tiền lắm, cho hàng ngàn người vay, anh Gabriel, cho tất cả những ai thu hoạch cao su, tất cả những seringueiros vay, rải khắp nơi, nơi nào có cây cao su, trong toàn Amazonie. Cho vay tiền để mua cái cần thiết, anh Gabriel, mua thuốc lá, rượu, súng ống… Họ còn lâu mới hoàn lại được tiền vay, bây giờ phải thúc họ trả nhanh vì, trong tình trạng suy sụp, họ có thể chạy làng dần. Anh chịu trách nhiệm nhận thu hồi nợ, anh Gabriel, anh rõ chưa? Xem ra công ty hy vọng rất nhiều vào chuyện đòi nơ, à mà chắc ở bên ấy người ta đã nói rõ với anh rồi… tôi đã tính sẵn tổng số tiền, từng vùng một. Chúng ta sẽ cùng nhau tổ chức các chuyến đi, tôi không biết nếu người vợ rất trẻ của anh…
- Có thể nói là tôi chịu trách nhiệm thanh toán?
- Có thể nói vậy… Như tôi ấy, anh Gabriel, như tôi ấy mà! Công ty không chính thức tuyên bố, nhưng tôi có cảm giác công ty muốn bỏ cái phần đất này của thế giới. Chúng ta là hai kẻ còn sót lại cuối cùng ở Mỹ - Latin. Sau đó, chúng ta sẽ tìm cách sang châu Á, vì tương lai của ta ở bên đó, hoặc từ bỏ hẳn cao su. Anh có thích sang châu Á không, anh Gabriel?
- Tôi không biết nữa, có lẽ...
- Đúng. Anh còn trẻ. Tôi, tôi chẳng còn được dẻo dai nữa. Thoạt đầu là châu Âu, sau đó là châu Phi, vì tôi đã có thời ở châu Phi mà, anh Gabriel. Chúng tôi, hai vợ chồng tôi không có khả năng có con, do đó, tất nhiên... lúc nào cũng sẵn sàng lên đường được. Nhưng rồi đến tuổi người ta chúa ghét cứ phải chuyển lục địa, rồi anh cũng sẽ có cái cảm giác đó, anh Gabriel. Đúng lúc đó, ở đầu kia nơi tiếp khách, một hồi chuông điện thoại réo. – Alberto, anh ra nghe điện thoại đi, – ông Guy Revol bảo. – Một lời khuyên cuối cùng, anh Gabriel: tại những nước này, tốt nhất là chờ đến trưa hãy uống.
Người giữ lưu trữ chỉ cần bước qua dãy bàn. Ông ta quay trở lại chỗ ngay trong chốc lát, miệng cười rộng.
- Thế nào? – Ông Guy Revol hỏi.
- Dạ, thưa senhor, chẳng có tin gì mới, tình hình vẫn như hôm qua.
- Nghĩa là tình trạng cùng cực. Chỉ có chiến tranh mới có thể lại bứt ra được tình hình này. Anh Gabriel, anh nên biết rằng chiến tranh rất cần nguyên liệu. Chắc anh đã thấy cảnh sôi động trong thời loạn rồi đấy nhỉ, anh Alberto?
- Ồ! Thưa senhor, rồi ạ.
- Cả thành phố kéo tới đây, chuông điện thoại réo liên tục, tiếng hò hét nghe đến ù cả tai, một đô la ăn bao nhiêu bảng Anh, ai cần một ngàn tấn loại A, quán chẳng còn bia để bán, anh vẫn còn nhớ đấy chứ, anh Alberto?
Người giữ lưu trữ gật đầu, ồ! thưa senhor, vâng ạ.
- Mà này, đã tới trưa rồi đấy, – ông Guy Revol nói.
Alberto đứng dậy, người giữ kho kiêm luôn cả chân đầu bếp.
- Anh thấy đấy, hiện nay, bia ê hề...
Bà vú Rosa Marcelina đứng đợi Gabriel, tay cầm phong bì, thưa ông, dạ, thưa ông, có chuyện xảy ra, ôi, thưa ông, và bà ta giơ các phong bì thư lên cao quá đầu, ôi, thưa ông, ôi, lạy Đức Jésus, Marie, không phải lỗi tại tôi, ông sẽ nguyền rủa tôi, nhưng không, nhưng không phải lỗi tại tôi...
- Tất nhiên là không phải lỗi tại bà rồi, – Gabriel nói. – Nhưng có gì mà lại không phải lỗi tại bà?
Rồi Gabriel nhẹ nhàng rút ba phong thư khỏi tay bà Rosa, hai thư từ Pháp gửi tới, chắc gửi cùng chuyến tàu với chúng ta, em hẳn cũng nghĩ vậy Clara (Gabriel nói to) và một bức thư có nét chữ viết lạ, không ghi địa chỉ, một bức tin nhắn từ Belem gửi tới. Để bức thư này đọc sau, Gabriel nghĩ bụng, trước hết đọc mấy lá thư từ Levallois gửi tới đã.
Gabriel con.
1) Bố đã đo từ Brest trên Đại Tây Dương tới Belem chỗ con: hơn 10.000 km, trừ phi có sai sót. Khoảng cách giữa bố con và con lúc này đã ổn chưa? Giải pháp cho lần sau hoàn toàn ngược lại đấy. Con có nhận thấy vậy không? Con nói cho bố rõ.
2) Bố đã nghiên cứu kỹ địa thế Belem của con trên bản đồ. Được thôi, nói một cách chính xác, con không ở trong rừng. Nhưng phải thú nhận với bố già của các con rằng Belem của con tứ bề là cây vây kín. Trong những điều kiện như vậy, nói tóm gọn thôi, Gabriel, hãy tin bố, đây là danh mục những chứng bệnh con sẽ mắc phải, Gabriel, chắc chắn sẽ mắc phải, nếu con không tìm cách quay về càng sớm càng tốt, đấy là khoa học đang nói với con, chứ không phải bố đâu, con có nghĩ rằng con hiểu biết rõ hơn khoa học không? Đây nhé: trước hết bệnh amip, kéo theo bệnh tiêu chảy, Gabriel, và bệnh sốt rét, chắc chắn rồi, và khủng khiếp nhất, do trùng sốt rét gây nên, bệnh trùng muỗi cát, con sẽ bị lỡ loét khắp mặt. Gabriel, con cho rằng Clara thích khuôn mặt đó sao? Bệnh giun chi u, bố biết rằng con chẳng nhớ bố già của con lắm đâu, nhưng đấy đâu phải lý do để muốn bị mù lòa? Ấy là bố chưa nói đến bệnh viêm màng não, bệnh dịch tả, thậm chí bệnh dịch hạch, con có thể mắc những chứng bệnh này ở những tỉnh phía Nam nước Pháp yêu dấu của chúng ta, à nhận tiện bố hỏi luôn, con đã tiêm phòng bệnh đậu mùa chưa? Nhưng bênh phong, Gabriel, con biết rằng Brésil đầy những người bị mắc bệnh phong và bệnh viêm mạch bạch huyết bìu dái, bỏ qua cho bố về những chi tiết này, Gabriel, nhưng một người bố cần phải nói tất với con trai mình, con sẽ thấy khi đến trước người vợ rất trẻ của mình với bìu dái to bằng quả dưa hấu, đúng, xệ xuống gần như lê đất thì dù cho nó có một tình yêu bao la như tình yêu vợ con dành cho con cũng chẳng thể át nổi nỗi kinh hoàng sao? Con hãy nghĩ tới tất cả những điều đó, Gabriel, bây giờ con đã trưởng thành rồi, con phải tự định đoạt cuộc đời mình. Nhưng bố mong con đừng bao giờ, đừng bao giờ mạo hiểm vào rừng. Bố chưa nói tới những chuyện phức tạp nhất định sẽ xảy ra, con nghe rõ đấy chứ, nhất định sẽ xảy ra, khi người ta lọt vào khu cây xanh thối rữa ấy. Con hãy đặt cái tổng thể lên bàn cân: một bên là những nỗi ghê rợn như đã nêu trên (vắn tắt, Gabriel, đừng quên là rất vắn tắt), còn một bên là con mắt xấu mà bố già con sẽ có, bố nói rõ là sẽ có đấy nhé, về vấn đề si tình. Vì cái con mắt xấu ấy vẫn chỉ là một giả thuyết, hạnh phúc của bố trong những ngày qua, sẽ chứng minh được rằng, cái con mắt xấu đó đã sụp mi mắt. Nhưng, ta chờ có sự khẳng định. Do đó nếu bố thực sự sống hạnh phúc lâu dài với một người đàn bà, con sẽ quay về, đúng không Gabriel? Con chẳng có lý do gì để mạo hiểm sống ở những vùng ô nhiễm ấy? Câu trả lời của con, bố đoán sẽ là đồng tình, ồ, tất nhiên là đồng tình rồi, tạo nghị lực cho bố trong một cuộc quyến rũ điên rồ, đó là đám cưới.
Bố ôm hôn con.
Bố Louis trong những ngày xa xưa mà con sẽ chẳng nhận ra vì bố đã tốt hơn lên rất nhiều.
TB. Nếu con nghĩ rằng bố nói dối, hoặc phịa ra những căn bệnh, bố biết con nghĩ rằng bố có khả năng làm những chuyện lừa gạt này, bố biết điều đó, nếu vậy con hãy đi hỏi những người ở quanh con, chắc chắn thể nào cũng có một thầy thuốc trung thực… đừng hỏi thầy thuốc người Brésil, ông ta sẽ trả lời rằng đất nước của ông ta sạch sẽ như Greenland, nên hỏi một người Thụy Sĩ, người Thụy Sĩ là những người nhạy cảm nhất về mặt vệ sinh, hoặc con viết thư thẳng về Pháp, không cần qua bố, Viện Pastcur, Paris, thì con sẽ rõ.
Cháu Gabriel của bà.
Cháu trả lời thành thật với bà: cuộc sống ở một đất nước rất rộng lớn (mười sáu lần rộng lớn hơn nước Pháp, nếu còn tin được vào lời bố Louis của cháu) có khác không? Cháu thấy tình cảm nào trội nổi: cuối cùng kiếm được việc làm hoặc cuối cùng thuộc về một cường quốc? Trả lời bà ngay, bà rất cần đấy. Còn một câu hỏi nữa bà muốn hỏi cháu, nhưng, do cháu có những suy nghĩ hiện đại nên cháu không nhất thiết phải khách quan: một nước cộng hòa liệu có thể chăm lo chu tất một diện tích rộng như vậy không? Theo cháu cứ giữ Đế quốc thì tốt hơn à? Cháu nên thận trọng khi viết thư trả lời bà, bà cho rằng ở xứ nhiệt đới người ta bóc tất cả các thư. Và bà chẳng muốn làm liên lụy đến thiên hướng của cháu, cho dù, bà chưa bao giờ biết rõ nó. Nhưng mỗi người lựa chọn cách tồn tại của mình, trừ bà nội Marguerite, vì như cháu thấy rõ đấy, không sống ở đảo Jatte (nơi căn phòng của cháu trông ra cầu Neuily, đang đợi cháu) mà đã sang sống ở Fachoda hoặc Lạng Sơn.
Yêu thương cháu. Bà nội Marguerite.
Em không bỏ anh. Em bỏ đi. Nếu nỗi sợ còn tiếp diễn, sống hai người để làm gì? Clara.
Gabriel biết được nét chữ người vợ rất trẻ của mình như vậy đó: gọn, nhỏ, khá nhọn, các từ cứ ríu vào nhau. Gabriel ngẩng đầu. Bà vú vẫn đứng nguyên chỗ cũ, mắt vẫn đảo ngược, tay vẫn chắp vào nhau.
- Bà không để lại gì nữa à?
- Ồ! Thưa ông không ạ!
- Bà không nói gì thêm à?
- Ồ! Thưa ông không ạ!
Nhưng qua một dòng duy nhất liệu người ta có thể biết rõ nét chữ viết của một người không? Người xem tướng chữ thề rằng không thể được.
Do đó Gabriel không hỏi thêm câu nào, không gào lên, không gọi người vợ rất trẻ, em đang ở đâu? Anh không vội chạy ra cảng, không vừa khóc vừa xục xạo khắp nhà, không mở bất kỳ cánh tủ tường nào, ngăn kéo nào, không nhìn vào giường, không vùi mặt vào gối bên phải, chắc còn lưu lại mùi hương của vợ, không mở nút bất kỳ chai rượu nào, cả uytxki, gin lẫn cachaca, không giơ chân đá con chó nhỏ lông vàng tối qua những người thân Pháp đã tặng (để làm bạn với bà, thưa bà, trong khi chờ có cháu bé) và cô ta đã đặt tên cho nó là George Sand, không xé một tấm ảnh nào, không vò thành một cục bức thư gồm hai chục từ, Gabriel, em không bỏ anh, em bỏ đi. Nếu nỗi sợ còn tiếp diễn, sống hai người để làm gì,anh không dùng bật lửa bùi nhùi nấm đốt thư, không đánh điện đến đảo Jatte, cũng chẳng đánh điện đến khách sạn gần như thuộc loại sang của Paris, khách sạn Washington và Albany, không đưa tay lùa vào tóc, không nôn mửa vào bồn rửa mặt bập bênh, không điên khùng xé tan những màn ngủ, không tức giận cánh cửa, cả tấm cửa theo kiểu Brésil màu xanh lục này cũng như tất cả các cửa khác của thế giới chẳng bao giờ chặn giữ được gì và nhất là phụ nữ, không thở dốc, không gào lên đúng là Clara kia rồi khi vừa nghe thấy tiếng chân bước cọt kẹt của người khách bộ hành đi trên đường phố, phía bên kia hàng hoa giấy, Gabriel Orsenna ngồi xuống, anh kéo một chiếc ghế bành bằng mây, khá giống chiếc ghế bành hồi còn bé, người ta bảo đó là chiếc ghế bành Mêhicô, anh kéo ghế từ phòng khách ra ngoài hiên và tiếng động nghe hoàn toàn bình thường như mọi tiếng ghế bành kéo trên sàn gỗ, trong bất kỳ ngôi nhà nào, từ phòng khách ra ngoài hiên để hưởng gió mát lúc chiều tối, anh ngắm kỹ hướng đặt ghế nhằm khi ngồi có thể nhìn được một khúc sông đỏ quạch qua dãy cây xoài. Và anh cứ ngồi, y nguyên chỗ đó, đúng suốt chín mươi ba ngày.