Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii
Ii

❊ ❊ ❊

Chia mỗi khó khăn mà tôi quan sát được thành nhiều mảnh cho phép và như vậy sẽ dễ giải quyết chúng hơn.

DESCARTES

Ta không nên quên rằng Gabriel là một kỹ sư mà các kỹ sư lớn hoặc nhỏ, chuyên môn về cầu đường hoặc về cao su, thì đều là các hiệp sĩ của sự thật. Tất cả những gì không phải là sự thật đều gây đau đớn cho họ và họ còn cảm thấy đau khổ hơn trước sự lờ mờ, hơn sự dối trá, vì sự dối trá còn có vẻ là sự thật, một sự tương tự khi lật ngược trở lại và sự  giả dối có thể trở thành một sự thật với điều kiện ta thực hiện một sự sửa đổi thích đáng. Nhưng sự lờ mờ, một sự lờ mờ thì sẽ ra sao?

Do đó ta phải hình dung kỹ sư Gabriel hoàn toàn bị bất lực trước hai chị em này.

Khuôn mặt của người ta sắp yêu từ đâu tới? Tình yêu đang hiện diện ở đây, nhưng người phụ nữ, trước mặt mình, xem ra cô ta chưa hoàn tất cuộc hành trình của cô ta, cô ta chẳng thể đi hết chặng đường. Tất nhiên, cô ta đã tung đi tiên phong một chút tình cảm nho nhỏ, dịu dàng và hoang dã, cái loại tình cảm mà các tạp chí gọi là sét đánh. Nhưng còn cô ta, cô ta và thân xác cô ta và khuôn mặt cô ta và hương vị của cô ta, cô ta trùng trình, cô ta cởi hành lý của mình, cô ta không nhúc nhích nhìn chúng ta, tựa như đang đứng bên kia vạt sương mù che phủ không để có thể nhìn rõ cô ta. Và chàng kỹ sư Gabriel, lòng cực kỳ khó chịu, chăm chú nhìn đường chân trời (phòng tiền sảnh của khách sạn, chiếc thang máy tròng trành) nơi Clara và Ann qua lại mà anh không tài nào phân biệt rõ. Về mặt logic mà xét, Gabriel thầm nhủ, không thể có một mối tình duy nhất cho hai nhân vật. Nhưng ai là người này, ai là người kia? Chỗ dừng cho người này, chỗ bắt đầu với người kia ở đâu? Ồ! Nếu mối tình này giống mối tình của bà nội Marguerite, nếu đây chỉ là một cuộc trò chuyện với bóng ma, mình sẽ ngừng ngay không nhọc công.

Sự hoảng loạn mang tính đặc thù của các nhà kỹ sư liệu có là một cái cớ biện minh cho thái độ của Gabriel được không? Lịch sử sẽ phán xét. Biết đâu chàng rể tương lai của chúng ta, lột xác thành chàng hiệp sĩ của sự thật, bắt đầu cuộc điều tra về Ann. Việc theo dõi dễ dàng hơn, cô nàng có dáng đi dứt khoát, nhanh nhẹn, kiên quyết, không hề do dự, như xông lên phá các cổng thành. Sáng nào cũng vậy, cứ tám giờ hai mươi nhăm, cô nàng lọt vào một căn nhà số 2 phố Auber, một phố bé xíu và kín đáo, nằm không xa nhà hát Opéra, ngay đối diện với nhà xuất bản Calmann – Lévy. Trưa nào, trừ trưa ngày thứ Năm, Ann cũng chỉ ăn một quả trứng luộc và uống một cốc nước sủi ga, nhìn xa, cốc nước rất có vẻ là một cốc limônát. Trong quán cà phê lớn này nằm trên đại lộ những người Italia nơi cô xem ra đã có thói quen lui tới, cô chẳng có gì, chẳng trò chuyện, chẳng hò hẹn, cũng chẳng hề đáp lại biết bao lời khen ngợi sắc đẹp, sự cô đơn, dáng vẻ nói chung của cô (vẻ lại cái và nụ cười nhạo đời) này sinh như chuyện thường tình. Ăn xong, Ann quay ra phố Auber và chàng hiệp sĩ của sự thật dễ dàng có thể phát hiện thấy mục tiêu của sự chuyên cần không biết mệt mỏi này (trừ ngày thứ Năm): một phiến giả đá cẩm thạch khắc hàng chữ vàng ốp ngay trên chuông gọi cửa. Trường cao đẳng kế toán và quản lý quốc tế. Lầu 3, nhà trường mà sự hiện đại hóa đã được xác nhận qua việc chỉ dẫn hiếm thấy ở thời đó: cơ sở hỗn hợp. Nhưng cô gái nhà Knight là người duy nhất của giới mình đã lợi dụng việc mở một trường như vậy, vì trừ cô ra, ở lầu 2 thấy bước ra chỉ toàn đàn ông, trẻ, luống tuổi hoặc già. Chàng rể tương lai không thể không hài lòng với cuộc điều tra của mình: 1) cô ấy đi làm, 2)  trong cơ sở chẳng liên quan gì đến nghệ thuật, 3) và, kết luận, mình có cảm giác Ann này là người lý tưởng của mình. Chỉ còn các ngày thứ Năm, những ngày thứ Năm bí ẩn vào quãng từ trưa đến bốn giờ chiều, và chúng vẫn giữ kín được bí mật của chúng suốt hai và thậm chí ba tuần. Chẳng là trong tuần đầu, chàng hiệp sĩ của sự thật không dám lên cùng chuyến xe khách với người vợ chưa cưới có thể sẽ được lựa chọn. Do quanh quẩn gần đấy chẳng thấy bóng một chiếc tắc xi nào rảnh khách, chàng bị mất dấu vết. Thứ Năm sau đấy, bảy ngày sau, còn lâu mới tới trưa, Gabriel đã ngồi thu mình nấp kín trong một chiếc xe ô tô, lòng hau háu tò mò, đậu cách bến dừng xe khoảng hai chục mét. Tình yêu! Chà! Tình yêu! Người lái xe cho anh, một người mặt đỏ gay có giọng nói rất kỳ lạ, đã bình luận suốt chặng đường qua các đại lộ lớn đến tận Quảng trường Ternes. Tới đây, Ann xuống xe khách Gabriel liền bám theo luôn. Cô đi dọc phố Cardinet và bước khuất vào một khách sạn có cái tên là Paris – Plage và phải hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ sau mới thấy ra, mười phút sau, Gabriel thấy một gia đình rõ ràng là người Mỹ và xa lạ với buổi lễ các ngày thứ Năm, rời khỏi khách sạn, bốn phút sau, là một người đàn ông vẻ buồn rầu, trông rất bảnh bao, mặc bộ đồ bằng flannel, thắt cra vat sẵm, luật sư? Chủ nhà băng? Nhưng gần mười lăm phút sau, Gabriel thấy bước ra khỏi khách sạn là một người đàn ông, đại loại một nhà thể thao thuyền buồm trông lực lưỡng, tuổi trên năm mươi, tóc nâu, hai bên thái dương đã ngả muối tiêu hơi loăn xoăn, miệng ngập ngừng nửa muốn cười cởi mở, nửa muốn huýt một điệu sáo hấp dẫn. Thái độ ngập ngừng đó làm chàng hiệp sĩ buộc lòng phải quay lại lần thứ ba (nhưng không đi tắc xi đuổi theo, mà thới thẳng phố Cardinet, hy vọng họ sẽ không thay đại điểm sau mỗi buổi thứ Năm). Và, vào khoảng ba giờ, ba giờ ba giờ rưỡi, sau khi Ann rời khỏi khách sạn, chính xác là mười bốn phút, nhà thể thao thuyền buồm xuất hiện trên ngưỡng cửa khách sạn Paris – Plage, giữa thanh thiên bạch nhật của sự thật, xem ra, ông ta trông có vẻ hả hê như lần trước.

Bạn thầm nhủ hồ sơ hôn lễ của Gabriel từ nay đã hoàn tất: loại bỏ Ann không đúng đắn, chị cô ta là Clara, vị hôn phu của ta. Nhầm rồi! Một sự nhầm lẫn sâu sắc. Một chàng hiệp sĩ của sự thật không nhất thiết là một người chặt chẽ về nguyên tắc, hoàn toàn ngược lại.

Nhà thể thao thuyền buồm vừa quay gót rẽ ở góc đại lộ Courcelles thì Gabriel đến ngồi ngoài thềm hiên một quán bia ở quảng trường Ternes, ngay tại chỗ sau này xây nhà máy bia xứ Lorraine. Anh gọi một cốc bia của Đức, một trong những cốc bia cuối cùng được phục vụ ở Paris, do bầu không khí ngoại giao bị nhạt dần. Rồi anh nhắm chặt hai mắt lại. Và Ann bước vào tâm trí anh. Tôi muốn nói, cô ta cuối cùng bước ra khỏi lớp màn sương.

Đường nét của cô ta trở nên rõ ràng, Gabriel biết rằng đấy là những nét thực của cô: tóc vàng hoe trông như màu da xỉn, da mặt bốn mùa vàng vàng (một sự đầu tư tốt dành cho mùa đông), một chiếc răng nanh hàm trên bị gãy hơi đè sang chiếc bên cạnh, trán rộng, nhô, kéo dài về phía dưới gò má cao, đôi môi kín đáo, không mím chặt cũng chẳng có vẻ dâm dục, tấm bình phong che dục vọng, ngón tay dài, nắm gọn tất, thậm chí cả nhà ngươi nửa Gabriel (Gabriel mở mắt một lát và gọi thêm cốc bia), ngực nhỏ, ấy là có vẻ thế thôi, còn chân thì chắc chắn dài, nhưng thon mảnh (thời đó, người ta không thể nhìn thấy một chút trên đôi chân nào để hở, ngoại trừ thấy nó hở hang cùng toàn bộ phần còn lại của cô thể…), dáng chân không bỏ chạy, chỉ bỏ đi chỗ khác, có vậy, và đôi mắt nhí nhảnh, một ánh mắt xanh biếc của người chuyên nhìn thẳng vào mắt người khác (ngay chiều tối đó Gabriel có thể kiểm tra trong suốt bữa ăn tối tại Washington và Albany), một ánh mắt của người có bằng cấp loại ưu, bằng danh giá, của phố Auber, là nhà quản lý tương lai của quốc tế: ưng không? Tôi cũng ưng. Nào ta nhào vào cuộc. Một ánh mắt chỉ rời khỏi ánh mắt khác để kiểm tra bộ phận dưới, để ước lượng. Gabriel ngồi đờ mặt một mình ngoài thềm hiên quảng trường Péresse vào tháng Bảy năm 1913 này, đỏ mặt và thầm nhủ rằng lần này thì chắc rồi, mình đem lòng yêu Ann, chính cô ấy là người con đem lòng thương yêu, ôi bố Louis, bố chúc con có sức khỏe tốt đi, cái cô Ann này sẽ lôi con đi rất xa, cuộc hành trình làm tôi thấy khát, bồi bàn, cho một cốc bia nữa.

- Dạ, bia của Pháp được không ạ? Nhà hàng không còn bia Đức.

Với tư cách hoàn toàn phụ và vì là một chàng hiệp sĩ của sự thật phải xem xét mọi khía cạnh của tình hình nên Gabriel đành phải lao vào trường hợp của Clara.

Chàng hiệp sĩ đã cùng các giấc mơ và hành lý của mình sống trong thế giới nhà Knight. Và nhân dịp này anh thấy trẻ lại đến mười lăm tuổi vì sự ở gửi là một liều thuốc kỳ diệu có khả năng làm ta sống lại cuộc đời từ con số không. Như vậy đây là một chú thiếu niên Orsenna đang ngồi ngay ngắn trên ghế, ở một đầu bàn tại khách sạn Washington và Albany, mắt chăm chăm nhìn các cây gỗ quyên ở ngoài vườn đang trong mùa đông. Gia đình Knight đã quên mất anh. Họ trao đổi với nhau những tin tức thân mật là đầu đề đầu tiên trong câu chuyện gia đình.

- Chuyện táo bón của con thế nào rồi, Ann.

- Còn cái trĩ của anh ra sao, anh Markus?

- Mẹ biết rõ ràng con không thích thịt bê, mẹ. (vân vân)

Tất cả các thông tin đều làm chàng hiệp sĩ của chúng ta như mở cờ trong bụng (ổn rồi, họ tiếp nhận ta, mình là một người trong gia đình, thực sự, mãi mãi, bằng chứng đây).

Sau đó, một người quay sang hỏi Clara:

- Còn vĩ cầm của con ra sao, con yêu?

- Khá, khá ạ.

Nhờ vậy, Gabriel biết được rằng Clara chuẩn bị từ rất lâu một cuộc hòa nhạc, một cuộc hòa nhạc sẽ là một – món – quà – tặng – đẹp – nhất – mà – một – người – cha – chưa – từng – bao – giờ - được - trao – tặng, một cuộc hòa nhạc mà báo chí thế giới sẽ phải thốt kêu lên: Ồ! Thế mà nhà phát hiện tài năng Knight cứ phải tìm kiếm mãi đâu trong khi tài năng ở ngay bên mình? Tất nhiên là một buổi hòa nhạc như vậy phải chuẩn bị vất vả. Do đó Clara phải đến gặp giáo sư của mình nhiều lần trong một tuần suốt bao năm nay và trong thời gian này, khi thời hạn biếu tặng phẩm (buổi hòa nhạc) ông Markus sắp đến nơi thì việc gặp gỡ lại càng thường xuyên hơn. Ta phải đi theo bám cô nàng, chàng hiệp sĩ của sự thật thầm nhủ, lòng phấn chấn trước kết quả đạt được trong lần theo dõi trước.

Hệt tựa như Ann tiến vào thành phố coi như mảnh đất đã chinh phục được, như một phụ nữ Mỹ đi mua hàng, tôi thích cái này, tôi thích cái này, cả cái cửa hàng này, cả cái góc khoảnh trời xanh này, cái ông chơi thể thao thuyền buồm hể hả này (những ai đi theo phải chịu trách nhiệm thanh toán). Clara cũng chạy trốn. Tôi như một tên gián điệp bị bỏ rơi ở bên kia biên giới, tên nhân viên tội nghiệp cân não bị trùng giãn, đầu rụt lún sâu xuống vai và những tiếng chim đột ngột vỗ cánh này, những ánh mắt hốt hoảng này, tôi tin chắc rằng người khách qua đường kia chĩa súng nhằm bắn tôi, tòa nhà ở đây sắp đổ sụp xuống đầu tôi, nhìn kìa, mặt đường nứt toác ra…

Và nhiều lần Gabriel đã phải thầm nhắc đi nhắc lại, người mình yêu chính là Ann, người mình yêu chính là Ann, để khỏi lao vào ôm chầm lấy Clara, chấm cho cô giọt sương nhỏ vừa toát ra hai bên thái dương cùng với nỗi sợ, để khỏi phải lôi người mình yêu quý nhất, bố Louis những ngày xa xưa của anh chẳng hạn, ra thề rằng mọi chuyện đều tốt đẹp: chúng ta đang ở vào tháng Bảy, Clara, trời đẹp, nhiệt độ còn lên cao, cha cô yêu quý cô, thang máy ở Washinton và Albany là một nơi yên tĩnh và vui vẻ nhất trần đời. Paris mãi mãi vẫn là Paris…

Lát sau cô rời phố Rivoli, bước vào phố Alger và đẩy cửa số nhà 17.

Ngoài chỗ ra vào, trên các thùng thơ đặt trên mấy thùng rác, không hề thấy một dấu vết âm nhạc nào. Chỉ toàn các nghề may vá. Katy, sản xuất mũ (lầu một), Satins de l’Opéra (tầng hầm), Margot và Marie, đo cắt găng tay (lầu ba, cuối hành lang)… Một lý do xã hội duy nhất được ngoại trừ, ở lầu hai, nhà Kaolins ở Morbihan, bị giạt tới phố Alger, người ta tự hỏi là không biết sau bao lần bị thất bại. Những bóng người vào ra trong ánh sáng tranh tối tranh sáng, ôm những hộp các tông đựng mũ hoặc áo dài bọc trong giấy lụa để tránh các nếp thừa và lần nào chàng hiệp sĩ của sự thật cũng phải đứng nép sát người vào mấy hòm thư để nhường đường.

Và vào những giây phút im lặng hãn hữu giữa cảnh tấp nập đi lại Gabriel dỏng tai nghe ngóng: anh chẳng nghe thấy gì cả, không hề nghe có tiếng vĩ cầm, không hề có chút dấu hiệu gì về một buổi tập hòa nhạc tại số nhà 17 phố Alger. Có lẽ Clara đã nói dối, có lẽ cô đang may một chiếc áo dài đẹp nhất nước Pháp, chỉ là để đẹp lòng cha mình, loại áo dài đòi hỏi phải ướm thử không biết bao lần…

Và rồi sau đó, Clara bước ra, khóc sướt mướt theo sau là một chồng ngất ngưởng những bọc hình tròn nổi lên sau chồng bọc một giọng chói tai: ê, này, quý bà muốn ngủ thì né sang một bên nhường đường tôi đi chứ.

Và thế là chàng hiệp sĩ của sự thật liền quên mất trong giây lát người vợ chưa cưới trước, cô bạn gái của nhà thể thao thuyền buồm. Và thế là chàng hiệp sĩ của sự thật nắm hai tay cô gái và chàng cần thận trọng cứ lắc lắc vì đây không phải là những bàn tay mảnh dẻ đang chuẩn bị cho một buổi hòa nhạc. Và anh kêu lên, nhưng chỉ như người kêu bằng giọng khe khẽ, một tiếng thì thầm miễn cưỡng:

- Không phải người chơi vĩ cầm, hử, và không phải là vĩ cầm?

Và cô gái chăm chăm nhìn chàng hiệp sĩ của sự thật, ánh mắt hết sức sững sờ.

- Anh quan tâm đến chuyện này à?

Sau đó:

- Hai người định đứng bám rễ ở đây hàng năm chắc?

Clara rụt tay lại.

Hai người bước ra phố Alger, giữa tiếng ồn ào của thành phố, hơi nóng của đá, ánh nắng vào tháng Tám.

- Anh có biết nỗi sợ là thế nào không, anh Gabriel?

Clara nhìn tôi, vẻ tuyệt vọng, nhưng ánh mắt bừng lên, nhờ một làn ánh sáng le lói chập chờn phát ra từ một chiếc đèn xách đang đung đưa trong đầu cô, được treo ngay phía sau đôi mắt màu xám của cô.

- Anh đã không vô tình đi theo tôi, đúng không? Tôi là Clara, chứ không phải là một ai khác? Do vậy, anh đáng được biết rõ mọi chuyện. Tôi đã chẳng bao giờ ưa thích âm nhạc, tôi ghét cay ghét đắng âm nhạc, âm nhạc quá nhẹ nhàng, nó làm xấu mặt các thứ, con gái các nhạc sĩ chẳng còn có quyền được hưởng các thứ, ra đi bộ một chút, anh Gabriel, anh không thấy chán chứ? Như anh thấy đấy, bố Markus đã cố nhồi nhét để bọn em hiểu rõ rằng chỉ có âm nhạc…

Nghe một người phụ nữ đang đi bộ trò chuyện kể cũng khá vất vả, nhất là giữa khung cảnh ồn ào của thành phố: cứ phải luôn luôn đi trước chị ta nửa bước, hơi cúi người về phía chị ta, rồi vểnh tai, đầu xoay ít nhất ở vị trí bốn mươi nhăm độ để sao cho những lời vừa buột khỏi miệng chị ta đập thẳng ngay vào màng nhĩ ta, trong khi đó vẫn phải giữ thăng bằng, không giẫm lên giày, không gây khó chịu và không vụng về, nhưng phải chăm chú và thư thái, phải là một người bạn đồng hành dễ chịu, tóm lại, tôi chẳng bao giờ biết rõ tất cả những điều đó. Và sau đấy, chúng tôi đi ngang qua trước bao khách sạn, những ý định luôn nảy sinh, tăng lên gay gắt qua những sự đụng chạm, hơi bốc, sự tiếp xúc với đùi cô ta, một chiếc vú ve vuốt lưng bạn khi có sự xô lấn (các đại lộ lớn thật lắm phước lành), mồ hôi xâm xấp gây cảm giác chóng mặt khi ta cầm cánh tay để dẫn qua đường, và lòng thèm muốn cứ hành hạ ta khi ta những muốn hôn lên gáy, một chỗ dễ bị kích thích hôn lên những lọn tóc tơ, sự dịu ngọt của các cô gái trẻ, hít ngửi làn hơi nước của địa phương, trong khi đó, cô ta, người bộ hành, không biết hoặc làm ra vẻ không hề hay biết tí gì và luôn mồm thốt lên kêu ôi! thời tiết lý tưởng để đi dạo… Nhục hình còn tệ hơn nếu chiếc áo dài của cô bạn bằng lụa hoặc vải lanh. Có thể nói tất cả cô ấy và cái chất vải chết tiệt đều vào hùa đồng lõa với nhau, chúng rì rầm những điều lộn xộn, tựa như một nàng bá tước thời xưa lầm rầm trò chuyện với thị nữ, trong khi chàng người tình đang đứng ở bên ngoài dưới chân tháp, lập cập run giữa trời tuyết… và bạn đừng quên vóc người tôi, tôi phải đi trên các đầu ngón chân, kín đáo nhảy nhót để giữ độ cao thích hợp… Tôi đang bị hành hình, tim tôi đập quá nhanh.

Tôi đề nghị dừng chân, trời quá nóng. Clara, tại sao ta không dùng một cốc nước quả tươi trong một quán giải khát hoặc ngồi nghỉ lấy hơi trên một chiếc ghế dài? Hỡi ôi, cô ta không đáp lại hoặc có đáp thì lại là những tại sao, Gabriel, anh mệt à?

Tôi có những niềm tự hào dớ dẩn. Tôi chẳng muốn đáp rằng đúng vậy trước những câu hỏi này.

Do đó, chúng tôi tiếp tục, ngày qua ngày, chậm rãi bước bên nhau. Clara giải thích tất với tôi, khốn khổ thay cái thằng tôi, tôi đã quên mất rất nhiều. Tôi chẳng có được quá nhiều trí nhớ khi ngồi, còn khi đứng…

Mỗi tuần ba lần, tôi đưa cô ta đến phố Alger. Suốt thời gian các buổi cô ta ở trong đó, tôi ngồi ở ngoài vườn, luôn ở tại cùng một chỗ ngoài thềm hiên quán Feuillantines, góc quảng trường Concorde. Mùa hè năm đó, trời không mưa trận nào. Sự đều đặn đó đã kích thích sự tò mò của các cô gái trẻ và các bà mẹ gia đình. Năm giờ đúng Clara bước ra vẻ kiệt sức, run lẩy bẩy, ồ anh Gabriel, anh không biết chứ thật vất vả biết bao, người đau dần, cứ cúi gập suốt, tựa như để kẻ thù càng ít có điểm để nắm bắt… Tôi đứng đấy, trước mặt cô ta, đứng trên vỉa hè, nhảy múa trên hết chân này lại nhảy sang chân kia, miệng cứ nhắc đi nhắc lại là mọi chuyện sẽ ổn cả, tôi nhảy vũ điệu của những kẻ vô tích sự. Cô ta xem ra kiệt cạn sức lực và sự chịu đựng, bị day dứt và bị day dứt. Lần này, niềm kiêu hãnh tiếp thêm lòng dũng cảm cho cô ta tiếp tục.

- Nỗi sợ như của em…

Đột nhiên cô thấy dễ thở hơn, đứng thẳng người lên, cô ta còn nhoẻn miệng mỉm cười.

- … Nỗi sợ như của em, anh không tin, anh Gabriel, rằng nó đáng phải được bộc lộ ra hay sao? Ta rời khỏi phố này đi, em cần có không khí.

Dọc đường, cô ta kể cho tôi nghe những trường hợp kỳ lạ, cô Dora mất giọng, bé Hans đã bị những con ngựa gây khiếp sợ, một con người thông minh bị chuột tấn công…

- Anh Gabriel, trung thực mà nói, bệnh âm nhạc của em, anh không thấy nó đáng quan tâm hơn à?

Suốt cuối tháng Bảy năm 1913 ấy, chúng tôi đi không ngừng. Cuối cùng tôi hiểu ra (một cách mãnh liệt) lý do sâu sắc của những lần đi lại đó, Clara cần kiểm tra để thấy rằng mặc dù không muốn âm nhạc, thành phố vẫn tồn tại từng khu từng khu một, rằng Đấng Sáng Tạo, đã bị âm nhạc chiếm đoạt, vẫn không chán các thứ. Người đã hoàn thành tốt tác phẩm thực sự của mình. Clara không có được lòng tin, cô ta run sợ phát hiện một ngày nào đấy một nữ thần lười, một khoảng trống, một cái hố, cái hố thì có đó, nó nhấn cô ta xuống đó. Clara giảng giải với tôi rằng đàn ông đã sai lầm lớn khi chơi nhiều âm nhạc và nhất là nhiều âm nhạc tôn giáo như vậy, một lũ đần. Một ngày nào đấy Thượng đế hiểu rõ ràng các nốt nhạc có giá trị hơn các thứ. Người bỏ rơi chúng ta trên hành tinh gian khổ của chúng ta để đi nơi khác chơi dương cầm, thản nhiên bỏ đi đến một chốn nào đó. Anh rõ không, anh Gabriel? Thượng đế sẽ bỏ mặc chúng ta, chúng ta sẽ không tồn tại nữa. Phải ngừng ngay cái âm nhạc ấy lại, anh Gabriel ngừng ngay lập tức, anh nói điều đó với bố Markus em, em chẳng dám đâu, ôi! anh Gabriel!... Vào những lúc dữ dội, tôi cầm tay cô ta, khi chúng tôi ra một phố, phố Boissy d’Anglas chẳng hạn, quảng trường Concorde; cột tháp vẫn còn đấy chứ? Còn, Clara, anh thề với em đấy. Hoặc phương tiện vận chuyển dùng dây cáp kéo ở Montmartre khi ta quay về chậm rãi, chậm rãi như khi ta lần tên mình trên danh sách báo kết quả thi. Tôi cố hết sức trấn an cô ta. Tôi nói với cô rằng Thượng đế chưa chọn âm nhạc, đúng. Paris vẫn đang ngự dưới chân ta, như một chú chó ngoan tỏa hơi sau một cuộc chạy ròng…

Và trong khi Clara kiểm tra lại hiện trạng của Đấng Sáng Tạo, trong khi đang diễn ra ở ngay bên cạnh Gabriel một cuộc phiêu lưu vừa điển hình, vừa ngao ngán, thì suy nghĩ độc nhất của nhân vật chúng ta, điều ám ảnh duy nhất của chàng hiệp sĩ thấp nhỏ khốn khổ có khuôn mặt tròn trịa Gabriel là gì? Hỡi ôi, phải thú nhận thôi, làm tình với cô bạn cao lớn có cặp mắt màu xám, một nỗi khao khát nhỏ nhen, hung hăng của người săn bướm, muốn cuối cùng ghìm chặt cô gái bộ hành không mệt mỏi trên một mặt phẳng.

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.