Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Đã đến lúc, Gabriel, như vị tiền bối lỗi lạc của mình là Christophe Colomb, vượt đại dương bằng con đường biển, đã đến lúc so sánh hai cuộc thử nghiệm.

1. Giống nhau

Gabriel như Christophe, phải vỗ yên những người cùng đi trên tàu.

“Chủ nhật, ngày 9 tháng Chín năm 1492,

Hôm đó, họ hoàn toàn không nhìn thấy đất liền. Do sợ còn lâu không thấy đất liền, nhiều người thở dài và khóc lóc. Đô đốc đã an ủi họ bằng cách hứa hẹn biết bao mảnh đất trù phú, để họ nuôi hy vọng và trút đi nỗi sợ nảy sinh do một cuộc hành trình dài như vậy gây nên.”

Ta nên nói cho rõ ràng: sứ mệnh vỗ yên do Gabriel thực hiện tàm tạm ổn suốt ngày này qua ngày khác không phải dành cho thủy thủ con tàu Booth Line (những thủy thủ điềm tĩnh) cũng như dành cho các khách khác cùng đi trên tàu (chủ đồn điền hoặc các thương gia thực dụng), mà chỉ là mỗi mình Clara, một nàng Clara tuyệt vọng, bị đại dương làm cho khiếp sợ, một nàng Clara mà Gabriel phải ôm vào lòng, chở che nàng trước cơn sóng lừng đại dương bằng cách tự đu đưa nàng, tựa như một cuộc hành trình lồng trong cuộc hành trình, tựa như nếu ta đem ví những chiếc tàu nhỏ bằng giấy do mấy chú bé thả trong bể bơi nước xanh ngắt với con tàu lớn lừng lững rẽ sóng biển thực sự (màu lục bảo).

Và nếu người ta thực sự công nhận một cuộc hôn lễ vì tình là một giả thiết cũng phiêu lưu như việc công nhận hình tròn của trái đất vào thế kỷ XV, thì sự giống nhau giữa chuyến vượt biển năm 1492 với chuyến 1913 rất lạ lùng.

Chiều tối đầu tiên, đúng ngay sau lúc không còn thấy nước Pháp đâu nữa, tôi đưa người vợ rất trẻ của tôi ra đầu mũi tàu, bụng nghĩ rằng trước cảnh hùng vĩ của mặt trời tắt lặng, tâm hồn cô ta hé mở và tôi có thể lọt vào để nghỉ đêm, và thậm chí còn có thể đi xa hơn nữa, dạo ấy tính lạc quan của tôi mới thật vô biên. Hỡi ôi, Clara chỉ khẽ đảo mắt liếc nhìn nền trời màu da cam, hằn những đường sẫm dọc ngang (người ta cứ nghĩ rằng những con cá nhám góc đang bơi trên đó). Clara không chút quan tâm đến cuộc vật lộn đang diễn ra trước mắt: lão mặt trời già nua cố chống cự, những đám mây đen chì giúi đầu lão, lão mặt trời cố dồn hơi sức cuối cùng và đỏ mặt tía tai, lũ mây đạo đức giả cứ giả đui giả điếc giúi mạnh nhấn lão giúi giụi xuống thấp hơn nữa. Clara hờ hững trước vụ giết hại này tựa hồ như người ta thường nói cô ta bị ám ảnh bởi làn ánh sáng xanh. Cô ta vùng ra khỏi tay tôi từ từ xoay người lại, mắt chăm chăm nhìn mảng nước mênh mông và hoang vắng. Cô ta ấp úng: tất cả đều trống rỗng… anh nhìn kìa, chẳng còn gì cả… thế giới sẽ chẳng mấy chốc lâm vào cảnh này khi âm nhạc chiến thắng.

Vỡ lẽ rằng mối tình của tôi chẳng thể mong đợi điều gì tốt đẹp trong cảnh hoàng hôn thơ mộng, tôi dìu người vợ rất trẻ của mình xuống phòng ăn và bố trí cô ta ngồi ở một chỗ tôi cho là thực tế hơn, có khả năng vỗ yên cô ta, cô ta ngồi dưới đèn, giữa hai thương gia người Arhentina (buôn bán gia súc). Và suốt bữa ăn tối, tôi mệt nhoài vì phải lái và chống đỡ cuộc trò chuyện về sự giàu có của pampa[1], chán tưởng chết được, nhưng tôi hy vọng câu chuyện an ủi Clara và làm cô ta tin chắc rằng Nam Mỹ, cái đích cuộc phiêu lưu của chúng tôi, là thực sự có thực, một sự tồn tại xác thực, mùa hè bụi bặm, mùa đông bùn lầy lội, nhung nhúc đầy xúc vật rống lên và nồng nặc mùi phân bò, một sự tồn tại của một lục địa không bị tiêu tan. Hỡi ôi, cô ta không nghe, cũng chẳng ăn, một mực đưa mắt sợ hãi nhìn qua cửa sổ tàu. Tôi đành phải nghe về cuộc viếng thăm pampa. Chúng tôi đứng dậy lúc bếp trưởng ra lệnh cho bưng các khay pho mát ra các bàn và chúng tôi ở lì trong cabin của mình không ra ngoài nữa. Một sự vô lễ mà mọi người xét thấy có thể tha thứ được do đây là cuộc hành trình sau lễ cưới của chúng tôi. (Các vị ngồi cạnh trong buổi chiều gặp gỡ đầu tiên với ông bà hỏi thăm tin tức về ông bà, ngày nào anh bồi tàu có giọng Thụy Sĩ cũng hỏi khi mang bữa ăn phụ có kèm theo bông hồng trắng theo nghi thức hoặc hoa tú cầu hoặc cẩm chướng, do thuyền phó, phụ trách tình hình trên tàu gửi tặng. Tôi biết trả lời thế nào, thưa ông, bà? Trả lời rằng chúng tôi vẫn ổn cả, đúng không Clara? Chúng tôi vẫn ổn. Và thế là anh bồi tàu quay ra, bước đi cũng kéo rê như giọng nói, loan báo tin vui, cabin 18 ổn cả, các thủy thủ tế nhị nháy mắt, không gì bằng một chuyến đi biển để buông neo tình yêu. Ý kiến ngược đời, đúng không, thuyền phó? ý kiến ngược đời!)

2. Khác nhau

Hàng đầu.

Nàng Isabelle Tín Đồ Công giáo viện lý do vì công việc, đã ở lại đất liền. Còn tôi, có Clara đi cùng với tôi. Chirstophe Colomb hẳn đã không được biết niềm cực lạc nào của cuộc sống lứa đôi, hai con người bị nhốt trong chiếc hộp gỗ gụ đỏ, lắp một ô cửa sổ nhỏ chẳng để làm gì và được trang bị một chiếc giường nhỏ cho cả hai (mà một người được phú cho cặp vú khá to) nhưng giường thế cũng đã quá lớn chiếm choáng hết chỗ, kê giữa một bàn trang điểm có gương hình bầu dục và một chiếc tủ treo quần áo rất khó chịu vì các tay đấm bằng đồng ban đêm cứ sáng loáng và các mắc áo đung đưa cót két mỗi khi sóng lừng nổi. Còn hai cánh cửa cabin, một cánh mỗi ngày bật mở ba lần để chàng bồi tàu giọng Thụy Sĩ và bộ đồ ăn bằng bạc chàng ta bê lọt qua, còn sự chuyển động của cánh cửa kia, ngăn nhà vệ sinh mà mọi thứ trong đó trông thật bé tí, từ nắm đấm dây giật nước tới giấy dán vách màu hoa cà, không thể dự kiến được, điều đó thật tự nhiên một khi thói quen ăn uống mỗi giờ đều cùng bị đảo lộn.

Người ta bảo: này, này, vào một lúc này hoặc lúc kia, Gabriel hẳn đã trốn lên boong tàu hút một điếu xì gà ngon của đàn ông, lòng thấy rộn nỗi cô đơn thấm thía của đàn ông khi lần thuốc trong gió, mặt hướng ra đại dương hoang vu và thân ái…

Không.

Tôi không rời một giây cabin màu gỗ gụ. Tôi ở lì đến cùng đến khi viên thuyền phó bảo cuộc hành trình kết thúc vì nước biển đã trở thành nước ngọt. Tôi đã ngốn no cuộc sống chung. Tôi đã từng phải đoán nghĩ rằng sau hai mươi mốt ngày, cuộc đời sẽ ngừng hoạt động. Tôi đã tiếp nhận tất cả những cử chỉ ấy của một người đàn bà và đây, từng cuộc thăm viếng, một đám cưới chật hẹp:

Một ngày mới, ánh sáng yếu ớt lọt qua cửa sổ của kẻ bị giam giữ, một ngày mới thể hiện ở Clara, qua vẻ run rẩy của mũi, qua cánh mũi hơi tinh vi phập phồng mà chỉ người quan sát si tình, có nghĩa là một kẻ dạ thị, mới phát hiện ra. Tiếp đến là những động tác duỗi, thoạt đầu, đôi chân, chăn khẽ từ từ động đậy, Gabriel nằm sát sang mép bên kia giường để tránh gây trở ngại, sau đó người vặn, từ lúc này điểm tựa chỉ là lưng, và rồi đôi tay vươn ra ngoài chăn, thò ra hai bên đầu, chẳng mấy chốc hai cánh bướm đậu trên hai đầu cánh tảo trắng (cánh tay Clara), và rồi nổi lên rên rỉ, chào anh Gabriel, hôm nay biển có vẻ lặng, đừng nhìn em, trông em gớm guốc lắm, nhảy ra khỏi giường, Clara quay lưng chạy về phía cửa căn phòng hẹp, nghỉ chuyển hồi, Gabriel nhắm mắt, bình tĩnh lại, biết phận, cô ta cao lớn, mình thấp bé, hai chúng tôi bổ xung cho nhau, dỏng tai, nước chyả, bàn chải chải tóc phát ra những tiếng lách tách nhẹ, điện gớm thật! Anh ạ, anh có nghe thấy tiếng dông tố không? Em cứ tự hỏi không biết bố Markus đã thấy được gì ở Ba Lan, vào những lúc thế này, cô ta nhiều lời lắm, để át những tiếng do công việc tế nhị phát ra, anh quay người lại, anh Gabriel, em đây. Và rồi sẽ xảy ra hai tình huống, một là, hoặc chàng bồi tàu giọng Thụy Sĩ gõ cửa, Clara thốt kêu lên, vội khoác quần áo để giữ vẻ đoan trang (nếu không, phần đông người Thụy Sĩ sẽ đánh đổ lật nhào chiếc khay bày bữa điểm tâm), còn Gabriel, trước khi ra mở, đã làm phong phú thêm nếp nhăn của khăn trải giường rất quen thuộc với Clara (một sự biểu lộ tính kín đáo của nhà Knight) và cặp vú người vợ.

Giờ tra tấn đã đến: một bữa ăn chung trong cabin màu gỗ gụ, mỗi tiếng động dội vang, như một tiếng sấm nổ.

Clara nhai rất kín đáo, môi mím lại, như cần thiết, trong khi đó Gabriel sợ mỗi tiếng cho vào miệng lại bục thành tiếng động lớn nên chẳng ăn gì, chỉ uống mỗi cà phê, từng ngụm rất nhỏ một, cố né đầu ra xa chừng nào càng tốt.

Tiếp theo là cuộc săn lùng các mảnh vụn thức ăn rơi vãi mà hình như không một người phụ nữ nào bỏ qua. Clara thốt kêu lên mỗi khi đùi hoặc mông ngồi lên một mẩu nhỏ bánh sừng bò. Mỗi sự chuyển thể chữ tình câu chuyện thần thoại hồi bé của chúng ta: Công chúa và hạt đậu, dù đã chồng năm lớp đệm khi nằm, nàng công chúa vẫn phát hiện hạt đậu xanh dưới đệm, điều đó nói lên bản chất thực sự của công chúa. Vỗ vỗ khắp mọi chỗ, các gối bị đập mạnh, những mệnh lệnh thốt ra với giọng bực bội, anh đứng lên nào, giúp em một tay. Clara giữ mãi đến tận cuối cuộc hành trình, chiếc xẻng nhỏ bằng bạc này, chiếc bàn chải lông mềm này mà cứ mỗi khi vào cuối bữa ăn, sau khi ăn xong món cuối, trước khi dùng đồ tráng miệng, đều được lùa vào khoảng giữa các cốc, và chải sạch các mặt bàn. Cô ta cũng hối hả chải dọn như vậy chiếc giường ân ái. Vào một lúc nào đó, cô ta để các đồ của mình trên mặt bàn trang điểm rồi bảo: xong, và…

Và những cử chỉ chúng tôi dành cho nhau sẽ được giữ kín. Giữ kín vì chúng quá quen thuộc, quá lặp đi lặp lại, quá mong ước đối với các loài thú kể từ thuở sơ khai đất trời. Tiết lộ chúng ra, người ta có cơ bị mất mát nỗi cuồng điên sáng tạo. Liệu hồn đấy, nếu anh để lộ câu chuyện của tôi. Người ta sẽ viết thư cho anh (độc giả là những người ghê gớm) hoặc tại một cuộc hội thảo của anh do một Câu lạc bộ Lion say mê văn hóa đứng ra tổ chức, ở phía cuối phòng họp sẽ có người giơ tay và bảo: những điều ông đỏ mặt mô tả cho chúng tôi chẳng có gì mới mẻ. Ông thân mến ạ, vợ tôi và tôi, chúng tôi sống ở Chamonix, tuần nào Roseline và tôi cũng đều làm những điều ông đã nói, kể ra cũng phải được ba chục năm nay, từ rất lâu trước thế hệ đường sắt…

Hãy nhanh chóng học ngay tính khiêm tốn, với tính cách mạng đặc thù tình ái, nó sẽ loại bỏ được cho anh vô khối nỗi thất vọng. Đừng bắt chước Gabriel, anh chàng quá tự phụ, suốt hai mươi mốt ngày vượt biển đó, anh chàng một mực tin rằng mình đã nghĩ ra được một tư thế mới và thường coi đó là niềm tự hào của mình, Clara quỳ chống tay ở phía trước, còn anh chàng, Nhà Phát Minh, chồm lên ở phía sau, và nhớ lại là thường rất được ca ngợi, cứ phải lặp đi lặp lại phát minh đó cho tới tận cái đêm đáng buồn ở Tournus, mà mãi về sau này, tận vào đầu những năm 30, khi trôi giạt tới khách sạn le Rempart (vì lý do gì? trong một cuộc đua ô tô?), anh chàng phát hiện thấy trên mặt bàn ngủ một cuốn sách thực hành các kiểu qua nó, anh chàng có thể rút ra một điều, được chứng minh qua các tranh ảnh tham khảo, là sự phát hiện lỗi lạc đã được thực hành từ thời những người Hittites và được các chữ tượng hình Ai Cập cổ nhất ghi ra trên giấy trắng mực đen là kiểu Levrette[2].

Như vậy là kiểu levrette, suốt trong lúc thực hành nó, và Gabriel chỉ thích thực hành kiểu này, Clara ngoảnh đầu về phía người thăm dò và đưa mắt nhìn anh ta, vẻ nửa mệt mỏi, nửa tươi cười, không biết có hợp đạo đức không, cái trò nhào lộn này?

Sau đó, đôi vợ chồng trẻ mới cưới tự đặt ra yêu cầu: hãy hứa đi, không được nhìn tôi khi tôi ngủ, thế là họ hứa, rồi ngủ thiếp đi, tất nhiên, kẻ ngủ dậy trước chẳng bao giờ giữ lời hứa. Nhiều lần vừa ra khỏi giấc mơ, Gabriel cảm thấy lướt trên mặt anh, lướt trên người anh, ánh nắng ấm áp ấy, đôi mắt ấy của Clara lướt nhìn anh. Hốt hoảng, anh giả vờ như vẫn đang ngủ, rồi lần nào cũng dò dẫm dìu người vợ rất trẻ đi vào tình yêu vì do ghê sợ hơn là do yêu thương để nhanh chóng bứt khỏi ánh mắt đó, ánh mắt người ta vẫn nói “làm mở bừng mắt” của Clara và dồn cô ta vào tình thế (nhưng tại sao mình lại nằm trần truồng bên cạnh một ông trần truồng thế này?) phải mãi mãi bỏ cuộc.

Những động tác khác của Clara khó bắt gặp hơn, do đó, lưu lại trong ký ức một vị đặc biệt mà tất cả các nhà sưu tập đều biết rõ: chúng liên quan đến buồng toa lét, những hậu trường của người phụ nữ và chỉ có thể bắt gặp được sau bao mánh lới của những Sioux, sau bao lần kiên nhẫn như một con cá sấu, những giấc ngủ gài bẫy khá lâu (rất may anh là một người hay ngủ, anh Gabriel!), mi mắt khẽ nhích hé từng milimét, từng milimét một (em tin chắc rằng anh chưa ngủ. Nếu anh cứ nhìn rình rập em, anh Gabriel, em bỏ cuộc đấy).

Giữa cái đống sưu tập này, cái kho báu động tác này, Gabriel, để tránh hành hạ những bạn đọc ít say mê phụ nữ hơn anh ta (tất cả những sở thích và thậm chí hỡi ôi sự thờ ơ cũng đều mang cùng bản chất), Gabriel chỉ xin nêu với bạn hai động tác anh ta ưa thích: ngồi bệt dưới đất, hai chân giạng rộng, người bạn gái rất trẻ của bạn cúi người về phía trước, tay trái cô ta cuốn trong đám lông đen và rồi từ từ tuốt nhẹ trong khi tay phải được vũ trang bằng kéo tỉa ria (ria Gabriel) chuẩn bị tỉa một đám mà chủ nhân của nó đánh giá (thật sai lầm!) là quá rậm. Động tác thứ hai xem ra trẻ con hơn, gần giống một sự che giấu, chắc như lúc Clara co rúm người trong chiếc bồn tắm bé xíu tại nhà tiêu, tôi chỉ thấy thò ra một bắp chân, bó chặt màu trắng, hỗn dịch kín đáo của phụ nữ (sữa hạnh nhân dịu ngọt? nước ép cỏ hiếm quý?), những ngón tay, những ngón tay của cô ấy, túm chặt hòn đá bọt nhỏ màu xám, cọ vào chân, nhích dần lên, cọ đi cọ lại, nhích dần về chỗ cực kỳ êm dịu, trung tâm của những nỗi luyến tiếc đau lòng nhất, ban quản lý những chốn lưu đầy… và khi chiếu buông xuống (cabin không tối hẳn do có ánh lân tinh từ ngoài biển hắt vào qua ô cửa sổ tròn của kẻ lưu đày và ánh vàng trên các quả đấm chiếc tủ treo quần áo), động tác cuối cùng trong ngày, Clara co gập người, thu mình lại như náu trong một nôi đệm, tạm biết Gabriel, chúc ngủ ngon, Clara, cô ta ra đi một mình, tôi không biết đi đâu, lênh đênh giữa đêm tối.

Tôi không thổ lộ tất. Trong chiếc rương, dành cho những điều kỳ lạ còn lưu giữ dăm ba điều, bốn điều có thực, phần trên của đùi trái, phía bên trong, phần trên của đùi phải, phía bên trong, một chỗ huyền diệu, giữ tránh những cọ xát, ở rìa khu rừng đen, như hai cử động bất động, chỉ cần nhìn chúng là đã cảm thấy như được ve vuốt, được tách khỏi thế giới để nghỉ ngơi. Và tiếp đến, hai hõm khoeo chân rất ít được biết tới, mà đa số phụ nữ không biết chúng nằm ở đâu (phía sau đầu gối) và không biết rõ giá trị của chúng, một hạt cát trong chiếc đồng hồ cát, trạng thái ấm của nước biển dừng, hai nhân với hai nhu vậy đây là bốn điều chủ yếu của sự êm dịu.

Cuộc thăm dò kết thúc. Hai mươi mốt ngày vừa qua tại cabin gỗ gụ đỏ thưa quý ông, quý bà là bằng chứng.

a) Về sự tồn tại của Clara.

b) Về tôi cũng có một cuộc sống chung.

Con có muốn những xác nhận không? Cực dễ. Con đến London, thủ đô của Thực tế, nơi đặt công ty bảo hiểm Lloyds có thể tìm ra được, sẽ tìm ra được tất cả các con tàu trên thế giới, từng ngày một. Con mở cuốn năm 1913, mùa thu, xem mục Booth Line, tàu Wellington, danh sách khách đi tàu, chữ cái O, ông và bà Orsenna rất trẻ, không có hành lý ngoài trọng lượng được phép đem theo mình, được thuyền trưởng mời ăn ngày 23 tháng Chín[3], vượt đại dương không xảy ra chuyện gì…

Hai mươi mốt ngày đó còn là bằng chứng chứng tỏ rằng, từ thế hệ này đến thế hệ kia, dòng họ Orsenna tiến triển: nên nhớ rằng mối tình của cụ nội Margueritte chỉ kéo dài có một tuần lễ.

❀ ❀ ❀

[1] Thảo nguyên ở Nam Mỹ. (N.D.)

[2] Chó săn thỏ cái (N.D.)

[3] Con bỏ quá cho Lloyds về sự thiếu chính xác này: thực tế chúng tôi đã từ chối lời mời đó (tôi còn gửi làm kỷ niệm tấm thiệp mời bằng giấy Bristol cũ có in nổi hình cá heo, kèm theo lời chỉ dẫn bằng tiếng Latin lờ mờ…)

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.