Ba chiếc rương được chuyển đến nhà vào một buổi chiều, cuối tháng Năm.
- Mỗi người một chiếc, - bà nội Marguerite bảo. - Nhưng Gabriel sống chưa được mấy, có ít thứ để xếp sắp, cháu cho mẹ con ta để nhờ một số thứ, đúng không nào, Gabriel?
Đấy là những thùng gỗ lớn màu đen, đóng đai bằng gỗ sáng màu, được đặt trong phòng khách bố trí theo kiểu Mêhicô, tại ngay vị trí của chiếc tràng kỷ Mêhicô đã bị tống ra ngoài hiên để hư hỏng chờ người đến mua. (Tuy một sáng chủ nhật, cả nhà đã nguệch ngoạc viết những tờ thông báo nhỏ dán tại cửa hàng thịt, cửa hàng bánh, cửa hàng kem sữa, quán cà phê - gỗ - củi của người xứ Auvergne, nhưng chẳng thấy ma nào tới hỏi mua. Chắc hẳn chẳng ai thích những tràng kỷ Mêhicô. Vài tuần sau do bị quẳng ngoài trời, chiếc tràng kỷ đã bạc màu, không còn giữ được sắc độ Mêhicô nữa. Louis và Gabriel bí mật giấu bà nội Marguerite muốn xóa quách cái tính từ Mêhicô trên các tờ thông báo nhỏ. Nhưng chúng đã bị bóc. Thay vào đấy là những tờ khác: hai con mèo vằn như hổ, giường Bretagrie ghép kín…).
Ba chiếc rương được chuyển tới đã hoàn tất giai đoạn đi chào chia tay của chúng tôi. Hay nói đúng hơn, chúng mở màn cho một giai đoạn mới, đau đớn hơn nhiều, giai đoạn lựa lọc. Lựa lọc, trong số có thể mang đi, lấy hai hay ba thứ trợ giúp cuộc sống (ít ra là cuộc sống ở các nước thuộc địa).
Ai nấy bí mật lọc chọn. Nhưng chú Gabriel rình mò, nhưng chú Gabriel trở dậy vào ban đêm, rón rén vào phòng đã có dạo được bố trí theo kiểu Mêhicô và hé mở từng xăngtimét, từng xăngtimét những nắp rương chú muốn biết bố và bà nội mình ưa thích gì nhất trên đời?
Louis, thoạt đầu định mang theo những tấm kính, những âm bản, lưu lại hình các vị hôn thê chưa cưới, các khách nữ yêu quý. Bố đã lót cực kỳ cẩn thận đầy rương và lót xen kẽ: một lớp ảnh một lớp giấy báo vò. Không thể không gây nên tiếng ồn kinh khủng giữa trời đêm thanh vắng, tiếng sào sạo khủng khiếp vò những tờ báo Figaro cũ, khi định bụng được thấy lại nụ cười của các quý bà trẻ này. Gabriel khăng khăng không chịu. Dẫu sao, các nàng cũng thuộc về phần đời chú. Trong giây lát, chú thấy bố Louis đứng sau lưng mình.
- Các cô đều xinh đẹp, đúng không? Bố hứa với con, hãy còn các cô khác…
Người quyến rũ và cậu con trai mình đã cùng nhau có một quyết định vò xé con tim là không đem theo ảnh nữa. Chú Gabriel đã hào phóng nhường một phần rương cho bố. Thôi chẳng nên, chúng không chịu nổi sự lộn xộn trong chuyến đi.
- Con thấy đấy, Gabriel, phụ nữ vừa rất mảnh dẻ dễ vỡ, đồng thời lại rất nặng.
Chúng được lôi ra từng chiếc một, giữa tiếng rền rĩ của các tờ Figaro và được xếp đống lên rìa mặt lò sưởi. Như vậy có thể coi sự lựa chọn của bố Louis là biểu hiện của một sự ưu tiên thực sự? Hoặc một sự nhẫn nhục? Tôi lên danh sách kiểm kê: kính râm, tranh vẽ Dieppe vào mùa Đông, sách chỉ dẫn về pho mát ở Pháp, chương trình của Longchamp, tên các con ngựa (Val d’Ajone, Schéhérazade, Margot 2, Fleur de Seine, chú đã khẳng định rằng đấy là những âm tiết có ích tại các nước thuộc địa). Và trong một góc, giấu rất kỹ, gần như không thể nào thấy được, có bức ảnh một thân hào mà Gabriel phải dành hàng tuần để nhận dạng. Một sinh viên trẻ chuẩn bị thi thạc sĩ về sử học cuối cùng đã cho chú biết rằng đấy chắc chắn là ảnh của một người trong dòng họ Rothschild, nhánh bên đằng người Anh giàu có nhất.
Nhờ vậy tôi đã phát hiện một mơ ước của bố tôi: trở nên giàu có. Ước mơ, hỡi ôi, chẳng bao giờ thực hiện được, thậm chí cũng chẳng mon men tới gần được, tuy đã bao lần mưu toan thử tài, mà nhiều lần ngao ngán, như câu chuyện vô sỉ này sẽ chứng tỏ.
Còn Gabriel, chú chẳng hề do dự một giây. Từ sau lễ Giáng sinh, khoáng thể, chú đã nâng các tham vọng của tình ái của mình lên hạng hai, do không có bạn gái để chia sẻ, chú lao vào tấn công một nhiệm vụ cực kỳ to lớn: cách tân thế giới. Vả lại hai mục tiêu này, ái tình và cách tân, chú coi như bổ sung cho nhau, sự hiểu biết về mục tiêu đầu hỗ trợ cho mục tiêu thứ hai nảy nở.
- Phải loại những cái hào nhoáng mang tính chất tôn giáo khỏi các tình cảm của chúng ta, phải để các ý tưởng chính theo kịp tiến bộ của Khoa học và Công nghệ… hôm nay, vấn đề là ở chỗ phải chỉnh đốn lại cái mớ lộn xộn về tinh thần.
Những sở thích riêng của chú cùng cả loạt hậu quả là như sau: tăng cường đọc một cách nghiêm túc, nước da tái nhợt hơn, và quyết định chuẩn bị, dù chỉ qua thư tín, cho kỳ thi tuyển tuyệt vời vào Trường Cao đẳng sư phạm, nguồn gốc, tinh cốt và nơi nuôi dưỡng mọi trí tuệ. Có thể coi thời kỳ này là thời kỳ dậy thì của Gabriel. Chú dịu dàng là vậy, cho tới lúc đó, chú trầm tĩnh và tư lự là vậy, thế rồi chú trở nên thô bạo, ngạo mạn. Chỉ cần người ăn kẻ ở trong nhà sơ suất một chút, lẽ ra phải bỏ hai cục đường chứ không phải một, một cơn gió lùa làm cửa sổ bật mở, chú liền xa xả nói bà nội và bố chẳng ra sao.
- Quả thật, cháu chưa vượt qua lứa tuổi thần học! (Và Gabriel ngước mắt nhìn trời để kiểm tra khoảng trống trên cao).
- Sống vào năm 1900 mà lại trừu tượng như vậy! (Và Gabriel nhún vai, cử chỉ cách tân và công nghiệp hóa mà chú đang theo đuổi).
Trước những cặp mắt hốt hoảng của bà nội và bố (chẳng còn hiểu thằng bé ra sao? Ý nó muốn nói gì? Đấy là một cử chỉ mã hóa?), chú bắt đầu ghim đóng, gần như la liệt khắp nhà, ngay cả tại phòng trước đây là phòng khách bố trí theo kiểu Mêhicô và thậm chí cả ở nhà tiêu, những tiểu dẫn sư phạm, những lời trích trong lời bình lớn.
“Ở giai đoạn thần học, trí tuệ con người, hướng chủ yếu các công việc tìm tòi nghiên cứu của mình vào bản chất sâu kín của bản thể, nguyên nhân đầu tiên và cuối cùng của mọi hiệu quả giáng vào nó, nói tóm lại, hướng vào những kiến thức tuyệt đối, nảy sinh những hiện tượng được coi là sản phẩm, qua hành động trực tiếp và liên tục, của tác nhân siêu tự nhiên ít nhiều nhịp nhàng, mà sự can thiệp tùy tiện giải thích tất cả những dị thường bề ngoài của vũ trụ”.
(Trong phòng bà nội Marguerite, ngay bên dưới bức thánh giá bằng đồng sừng sững chìa ra trên chiếc giường độc thân).
“Ở giai đoạn thần học, thực ra chỉ là một sự thay đổi đơn thuần giai đoạn đầu, những tác nhân siêu tự nhiên được thay thế bằng những sức mạnh trừu tượng, những thực thể thực (sự trừu tượng được nhân cách hóa), cố hữu với những bản thể khác nhau của thế giới, và tưởng tượng như có khả năng tự sản sinh ra tất cả những hiện tượng quan sát được, lúc đó việc giải thích dựa vào việc gán ghép cho mỗi hiện tượng một thực thể tương ứng”.
(Trên tủ buýt phê, tất nhiên là đóng bằng đinh sau những tấm ảnh gia đình).
“Cuối cùng, ở trạng thái tích cực, trí tuệ con người nhận biết rằng không thể đạt được những khái niệm tuyệt đối đã từ bỏ không tìm kiếm nguồn gốc và việc sử dụng vũ trụ kín của các hiện tượng, để chỉ chú tâm phát hiện, do biết kết hợp tốt việc suy luận và quan sát, những quy luật hiệu dụng của chúng, nghĩa là những mối quan hệ bất biến của chúng về tính kế thừa và tính đồng dạng”.
(Trên tường nhà tiêu, sau dây giật kéo nước, ngang tầm quả đấm nắm giật có dán một bản nhiều lần phải dán lại, vì bình đựng nước dội ở nhà tiêu bị rò, thoạt đầu tờ giấy rộp lên rồi rách toang).
- Ta làm gì với nó đây, - bố Louis hỏi. - Mẹ thấy liệu cái trò điên rồ này có kéo dài không?
- Một chút không khí của vùng nhiệt đới sẽ làm nó đâu vào đấy thôi mà, - bà nội Marguerite đáp. - Dẫu sao, mẹ thấy thích cháu nó như thế này. Con cứ thử tưởng tượng xem, nếu thằng bé chạy rông các quán cà phê và phải lòng một ả chỉ cần một ly rượu ápxanh là chịu ngủ với nó thì sẽ ra sao?
Bà nội hoàn toàn yên tâm khi kiểm tra phòng Gabriel, bà phát hiện bản Tín điều của kẻ phá rối dán tai một chỗ, khuất phía trên chiếc bàn đêm.
“Ở mỗi pha và mốt nào đấy trong sự tồn tại của chúng ta, cá nhân hoặc tập thể, ta phải luôn áp dụng công thức thiêng liêng của những nhà thực chứng: Tình yêu nguyên tắc, Trật tự về nền tảng và Tiến bộ về mục đích.
Vì tình yêu tìm kiếm trật tự và thúc đẩy đến sự tiến bộ; trật tự củng cố tình yêu và dẫn dắt tiến bộ; cuối cùng, tiến bộ phát triển trật tự và đưa trở lại với tình yêu. Như vậy, cách cư xử; sự trìu mến, sự tự biện và hành động cũng phục vụ cho Vĩ nhân mà mỗi cá tính có thể trở thành một bộ phận bất diệt”.
- Lại đây, Louis, - bà nội gọi, - lại đây, mẹ cho con xem cái này.
Tại chỗ đó, chẳng dễ gì có thể đọc nổi bản Tín điều. Hai mẹ con phải nằm dài ra giường, khom người và vặn cổ. Gabriel đã bắt gặp bà nội và bố trong tư thế ấy, một tư thế mà không chỉ những nhà thực chứng mới thấy lập lờ. Lẽ ra chú kêu lên: Ồ! rồi kín đáo khép cửa lại. Nhưng chú lại muốn vểnh tai nghe.
- Con thấy có điều gì chỉ trích chuyện này không? - Bà nội Marguerite hỏi.
- Có lẽ, không biết nói thế nào nhỉ, hơi bị giam hãm, - bố tôi đáp.
- Mẹ, mẹ tán thành về tổng thể.
Hai mẹ con nói chuyện, giọng ngắt quãng, hổn hển, tắc nghẹn vì đang ở mép đệm và do đang cúi dốc đầu máu dồn lên tai. Gabriel sử dụng cách diễn đạt sửng sốt này để bộc lộ niềm xúc cảm của một tín đồ mới:
- Tốt rồi. Mình đã thuyết phục được bà nội và bố.
Và ta hiểu rằng Gabriel đã không do dự xếp xuống dưới đáy rương của chú:
1) 6 tập khổ 8 phô li ô Giáo trình triết học thực chứng (Paris, Bachelier, 1880).
2) Hệ thống chính trị thực chứng hoặc chuyên luận xã hội học thành lập tôn giáo về bản chất loài người, bốn tập khổ 8 phô li ô, Paris, Mathias (1851-1854).
- Hy vọng rằng chỉ có vậy, - bà nội Marguerite nói.
Chắc bà nội nghĩ tới những người khuân vác bản xứ tội nghiệp đi hàng một trong rừng rậm, bị Auguste Comte đè nặng trĩu.
- Hãy còn một cuốn nữa, bà ạ, - Gabriel bảo.
Và bà nội Marguerite phải nhượng bộ, lòng những tò mò trước tên hoặc nói cho đúng hơn, trước đề mục của sách: Sách giáo lý Cơ đốc giáo thực chứng hoặc trình bày sơ lược tôn giáo thế giới, mười một cuộc trao đổi một cách có hệ thống giữa một phụ nữ và một giáo sĩ có tính nhân đạo, 1 tập, khổ 12 phô li ô, Paris, trong tác phẩm của tác giả.
- Sang bên đó cháu cho bà mượn cuốn này nhé, - bà nội Marguerite bảo.
Gabriel hớn hở.
Bà nội Marguerite đã bỏ nhiều thời gian để xếp đầy rương. Bà đóng cửa hiệu sách sớm và chạy đến các cửa hàng may mặc ở Levallois và các vùng phụ cận. Trên các quả đồi, tại Puteaux, Suresnes, Saint-Cloud, Sèvres, Meudon nhan nhản những bà gia công. Sáng ra ta thấy họ xuống đồi, kéo về Paris, mắt thâm quầng, tay xách các va li: kết quả lao động trong đêm của họ. Họ ngồi được sao hay vậy trên các xe khách để còn có thể khâu tiếp. Hành khách bình phẩm về dáng và màu sắc của những chiếc áo dài. Nhưng bà nội Marguerite chỉ có một yêu cầu: phải thoáng nhẹ.
- Chị biết không, trời nóng…
Người ta đưa bà xem mẫu, bà đều từ chối.
- Chị có loại nào thoáng nhẹ hơn không?
Bà nội kiên nhẫn lại nói:
- Dẫu sao tôi cũng không thể mang theo những thứ hàng len và nhung được. Chị muốn giết tôi à?
Nhưng các bà thợ may không hề tinh thông xứ sở nhiệt đới. Chính bà nội tôi phải đích thân đi lùng loại vải thích hợp, thao thao kể những câu chuyện về các chuyến đi và tiết nóng bức. Gabriel nghe thấy bà nội càu nhàu về các nhà văn, các phóng viên kể dông dài chuyện săn hổ, kích thước các móng vuốt, cỡ súng săn mà lại bỏ qua chất vải, tựa hồ loại làm nên lớp da thứ hai của con người là chẳng đáng bận tâm! Bà nội tìm được niềm vui hạnh phúc của mình trong các tài liệu xuất bản của Anh chuyên đăng những cuộc di chuyển của nữ hoàng Victoria.
- Đây là một phụ nữ hiểu rõ cách ăn mặc!
Những thợ dệt người Ấn Độ hình như đã tạo ra một phép lạ về sự thoáng mát và thanh cao, một thứ lụa óng chưa từng thấy, được gọi là tútxo, vải ở Tussah.
- Tôi muốn may một chiếc áo dài bằng tútxo, - bà nội tôi đặt hàng.
Thợ may chỗ chúng tôi chưa bao giờ được nghe nói tới thứ hàng đó. Họ rụt rè đề xuất loại vải pha, lanh pha bông, bà ạ, dưới trời nóng, không loại vải nào sánh được đâu và chúng tôi sẽ thêu hình nổi trên cổ áo bà.
- Tôi muốn may một chiếc áo dài bằng tútxo, - bà nội tôi khăng khăng.
Chiều tối, bà nội trở về tay không, vẻ mệt mỏi. Bà nội buông mình ngồi xuống chiếc ghế tràng kỷ nguyên trước đây theo kiểu Mêhicô.
- Louis này, mẹ cứ tự hỏi không biết nước Pháp thực sự có một tương lai thuộc địa không. Cứ xem người Anh đấy: họ đã tìm được loại hàng dệt thích hợp. Chính qua chi tiết lớn này, người ta nhận biết những dân tộc xứng danh một Đế quốc.
- Chúng ta có những phương pháp của ta, - bố Louis chặn lời.
- Con có thấy hôm nay trời quá, quá nóng không?
- Ấm hơn thì có, mẹ ạ.
- Cho dù chúng ta sống xa sông?
- Cho dù như vậy, mẹ ạ.
Tiếng bà nội và bố lọt đến tai Gabriel đã bị nghẹt, sàng lọc. Những tiếng rời rạc, không sinh động mấy. Cửa sổ rộng mở, nhưng kéo rèm đôi. Ngoài trời còn sáng, ánh sáng của một ngày đầu tháng Sáu dài vô tận. Màu vàng và rồi chuyển sang xanh lơ, rồi xám, cuối cùng đen. Ngoài kia, Levallois xông mùi nồng nặc như mọi khi. Mùi xú uế đạt đến cao độ vào mùa hè, ngấp nghé sắp đổ tới. Đôi lúc, bà nội Marguerite ngừng lời, khẽ thì thầm, cháu ngủ rồi à, Gabriel? Gabriel nín thở, không đáp. Và rồi câu chuyện lại tiếp tục ngoài hành lang.
- Con có cho rằng con người có thể luyện thích nghi với cái nóng được không? - Bà nội Marguerite hỏi.
- Chủ yếu là phải luyện ăn mặn, - bố Louis đáp.
Cuối cùng đêm tối bắt đầu buông phủ.
Cùng lúc đó, do Trường thuộc địa sắp công bố kết quả các kỳ thi cuối cùng và những chứng bệnh sẽ gặp, một làn sóng sách y học trào về Levallois: Bs. A. Le Dantee, Tập giải yếu bệnh lý ngoại lai (Nhà xuất bản O. Doin); Bs. A. Legrand, Vệ sinh cho các đội quân người Âu tại những xứ nóng (Nhà xuất bản O. Doin); Bs. Just Navarre, Sổ tay vệ sinh thuộc địa (Nhà xuất bản O. Doin); Bs. Ad Nicolas, Công trường đào đắp đất tại những xứ có nhiều đầm lầy gây bệnh sốt rét (Nhà xuất bản G. Masson), vv… bà nội Marguerite định trả lại những sách này: chúng ta đâu có phải là một bệnh viện! Nhưng bố Louis không tán thành ý kiến đó, cho rằng hiệu sách phải đón nhận mọi chân dung của thực tế, ngay cả thực tế chán ngấy. Và bố tỏ vẻ lơ đãng giở mấy cuốn sách mỹ miều ấy gồm những trang đặc kín những lời giáo huấn.
“Giun Guinée: loại giun này dài 50 xăngtimét, thường thấy ở lớp da các chi dưới và bìu dái (Louis, mẹ xin con, - bà nội Marguerite bảo) và vùng vai của những người xách nước. Dân bản xứ dùng một chiếc que nhỏ rất khéo léo cuốn đầu giun gắp bỏ nó. Họ ngừng cuốn khi cảm thấy giun bị cuốn khá chặt vào que để nó khỏi bị đứt, những ngày sau đó họ lại tiếp tục cuốn cho tới khi nào gắp bỏ hết”.
- Rùng rợn quá, - bà nội Marguerite bảo, - con làm ơn đừng đọc nữa.
- Không sao đâu mẹ, chỉ cần cuốn nhẹ nhàng thôi mà. Chúng ta sẽ tuyển một anh bồi rất kiên nhẫn, - và rồi bố lại đọc tiếp. - Nào, nào, không biết nên hiến các quý vị một điều gì nữa đây? Bệnh viện Veruga ở Péron? Chúng ta chưa có thuộc địa ở các dãy Andes? Như vậy bệnh này chẳng liên quan tới ta. Mụn phương Đông? Không quan trọng, một thứ phát ban nhẹ. À! Bệnh Ainhum. Xin nghe đây: “Nó chỉ ăn ở phần gốc các ngón chân cái và thít chặt chúng cho tới khi tiện đứt hẳn”.
- Chắc con cho đó là những điều khôi hài? Nếu con thấy thích, - bà nội Marguerite bảo, - con cứ đọc tiếp, mẹ đi ngủ đây.
- Một, một căn bệnh nữa, để con đọc nó kết thúc cho tối nay, bệnh ghẻ cóc: “Bệnh dễ truyền và hay bị lây, do ruồi truyền, bệnh tạo nên trên da một lớp mụn dày đặc. Vào một vài giai đoạn phát triển các mụn này trông sần lên như da cóc, do đó người ta gọi bệnh này là ghẻ cóc” (bây giờ đúng là mùa của bệnh này, bố Louis bình phẩm, giọng khôi hài đặc trưng của bố). Mẹ nghe đoạn này nhé, mẹ nghe này, một sự chính xác tuyệt vời: “Người ta cho rằng ghẻ cóc là một triệu chứng của bệnh giang mai, nhưng không phải”. Tuyệt, hà! hà! hà! Khả năng sinh sản tuyệt vời của cuộc sống trần gian!
Bà nội Marguerite đã khép mạnh cửa.