Ông Louis đã mắc phải cái bệnh của thời đại.
Người ta có thể thay đổi cuộc đời. Những bất hạnh của con người không phải là vĩnh cửu. Một ngày nào đó, một cuộc cách mạng sẽ thay đổi cuộc đời. Và ngày đó đã chờ sẵn ở đằng kia, ngay sau đường chân trời. Chỉ cần phá đi những cản trở cuối cùng, cắt bỏ những dây chằng là các ngày ấy sẽ hiện lên như một khinh khí cầu rực sáng, một mặt trời nhân tạo, nó có thể thay đổi cuộc đời, thôi, Gabriel, đừng có nhạo báng nữa. Ông Louis nói vậy, cũng như nhiều người khác ở thời buổi ấy.
Đó là một bệnh ác tính với những cơn nóng đột ngột, sự ham muốn ôm hôn khách qua đường, với sự trìu mến tàn nhẫn đối với bầu trời sáng và sương mù buổi sáng (nếu họ biết rằng chúng sẽ tan biến đi vĩnh viễn, nhường chỗ cho ngày đẹp trời…), với sự căm thù những ai còn luyến tiếc dĩ vãng và những ai không dám chuẩn bị hành lý khi cuộc đổi đời đã ở kề bên. Người ta nghe thấy tiếng nước sông chảy! Này, Gabriel, chắc chắn là ông đã điếc rồi, ông không cảm thấy gì sao, ông không cảm thấy là chúng ta đang tiến lên phía trước sao? Hãy đến gặp tôi trên chuyến tàu của Lịch Sử.
Đó là căn bệnh của thời đại ấy, bệnh hy vọng. Một bệnh mà ai cũng muốn mắc: thanh niên mắc vì họ phải kiếm sống trong nhiều năm tháng ở phía trước họ, những người già mắc vì họ phải lấp lỗ hổng phía trước. Chưa bao giờ, kể từ năm 1789, căn bệnh này lại tác động mạnh đến thế. Chưa bao giờ bệnh dịch này lại lan tràn đến thế.
Thoạt đầu Gabriel cũng thử chữa cho ông Louis bằng thuốc an thần. Nhưng ông Louis không nghe Gabriel nói. Tất cả mọi lập luận (cuộc sống không thay đổi như vậy đâu, ông Louis, cuộc sống nặng nề lắm, Louis ạ), tất cả lý thuyết ấy, chỉ là một thứ củi để nuôi ngọn lửa hy vọng. Gabriel không nói gì, ông đứng ở bên bờ và nhìn căn bệnh nảy nở. Căn bệnh không phải do vi trùng này, ngày một nặng thêm, căn bệnh giữa con người với nhau này đã đột nhiên xuất hiện, được con người duy trì, làm cho gay gắt hơn và đưa đến giới hạn (đến chỗ chết) và bỗng nhiên bị con người chặn đứng lại. Con người có lợi thế hơn vi khuẩn ở chỗ con người nhìn thấy họ bằng mắt thường và họ hay tán chuyện: muốn biết ý định của họ, ta chỉ cần dỏng tai nghe.
Đó là một căn bệnh đã tạo ra một việc làm:
- Những người đãi vàng: họ lọc thời gian và ngày tháng trôi qua, họ chỉ giữ lại những hạt nhỏ, những cái mà Billancourt mong muốn;
- Những người mạ vàng: họ phủ vàng lên mọi thứ nhạt nhẽo. Họ giống như những người thợ sơn trong xây dựng. Thí dụ như Eluard và Aragon, những thợ mạ vàng đứng hàng đầu. Eluard ca tụng tự do và sự trong suốt của không khí, còn Aragon thì muốn tất cả nhân loại đều ký vào một hợp đồng thân ái. Một tình yêu nếu không điên rồ thì ít ra cũng thủy chung hoặc là điên rồ vì quá thủy chung.
- Những người thổi lửa: họ đi lang thang khắp thành phố, má họ giãn ra vì họ đã thổi lên mọi người để sưởi ấm họ, một thứ âm nhạc kinh khủng mà không cần nhạc cụ;
- Những người khai trừ: họ đã lấy mất hy vọng của những người bị nghi ngờ, có vấn đề…
Rồi ông Louis hỏi con trai ông.
- Thế nào Gabriel?
Và Gabriel cũng muốn thử để dòng nước cuốn đi, và cũng muốn đắm chìm vào niềm hy vọng. Nhưng cái anh giữ lại chính là cái nhún nhảy của những cuộc diễu hành, giống như những miếng quặng trên tấm thảm quay.
Dẫu sao, ông Louis cũng không lấn tới. Ông biết là con ông có mắc mứu.
- Ta hiểu nỗi buồn của con, Gabriel. Ta hiểu, Gabriel, bệnh tưởng về cao su. Nhưng con sẽ thấy, một ngày nào đó, con sẽ cảm thấy sự vận động.
Và Gabriel thấy rằng bệnh hy vọng là nghịch cảnh của bệnh cao su. Không có hy vọng gì ở cao su mà chỉ có nỗi sợ làm đứt, có chăng người ta chỉ ưa thích những hình thái ban đầu. Cũng như vậy, không có hy vọng gì ở nền dân chủ. Một con người vẫn là một con người, ở nước nào cũng vậy. Người ta có thể kéo giãn, làm phình to, nhưng nước Pháp vẫn trở lại kích thước ban đầu: không phải một Đế quốc mà là một hình lục giác đơn giản, một cường quốc trung bình.
Hy vọng là một bệnh nhiệt đới, còn cao su là một bệnh ôn đới.
Đó là một thứ hy vọng rất rắn chắc, đã đến giới hạn của sự xác thực. Không khí đã biến mất, không phải nhẹ hơn hay tự do hơn mà là chằng chịt đường ray và khung sắt. Đi lượn và tán hão đều bị cấm. Không khí dắt anh đi đến tương lai ở đầu đường đằng kia. Ông Louis cũng chưa gia nhập vào chủ nghĩa cộng sản, ông mới chỉ đứng ở vùng ven đô. Đảng còn cảnh giác với nhiệt tình của ông và trước hết là những xu hướng muốn phô trương của ông. Vì ông Louis vẫn chưa thay đổi. Ông vẫn muốn tổ chức những cuộc triển lãm: chủ nghĩa cộng sản toàn cầu (tất cả mọi nước, mỗi nước đều giác ngộ chân lý và sẽ có những ngày mai tươi sáng), tiểu sử mẫu mực của Staline (xây dựng từng gia đoạn, cho một tương lai rực rỡ).
- Các bạn sẽ thấy rằng bài học của một cuộc triển lãm tốt sẽ thấm vào máu, và sẽ làm cho các gia đình gia nhập hàng loạt.
Nhưng Đảng muốn rằng niềm hy vọng phải bị phần nào che đậy. Đảng cũng cảnh giác với những dẫn chứng có tính triết học “Comte” mà ông Louis thường đưa vào các diễn thuyết.
- Những người theo chủ nghĩa chứng thực chỉ cần đi cạnh chúng ta. Chúng ta cũng cần có những người bạn ở ngoài Đảng.
Như vậy ông Louis thuộc vào hạng người hỗn tạp: Những người bạn đường.
Còn Gabriel, ông được liệt vào một thế giới khác, thế giới của những “đồng minh đối tượng”. Chỉ vì cao su. Chiếc xe hơi bình dân đang được sản xuất cần đến những bánh xe nhỏ, đòi hỏi những chiếc lốp thích hợp.
- Gabriel Orsenna, người đã tham gia vào sản xuất chiếc xe bốn mã lực, không thể bị coi là kẻ thù của thợ thuyền.
Người ta coi ông ta cùng loại với thợ thuyền Léon Blum, nhà tư sản xả hội chủ nghĩa lớn, người sáng tạo ra những ngày nghỉ, dù rằng ông đã bị vô vàn nhục nhã. Gabriel Orsenna cho phép những cuộc di chuyển. Người ta thứ lỗi cho ông, dù chán ghét ông.
Chiều thứ Bảy, ông Louis nghỉ việc. Ông đến gặp đối thủ của tôi là Dekaerkove, người vạch ra đường đua xe đạp Vòng Quanh nước Pháp, tại ngoài hiên tiệm Grand Zine Đại lộ Poissonnnière.
Họ gọi hai chai bia và ngắm cảnh tượng sau chiến tranh.
Vẫn các đám đông như hồi trước năm bốn mươi, đi tản bộ không mục đích, vẫn những đôi nghiêm nghị, vẫn những nhóm đùa cợt, vẫn những cô gái da nâu, những người bán hàng lậu thuế, vẫn những cái cà vạt có hình đàn bà khỏa thân với những chiếc dù mở rộng, vẫn những đồng hồ có chân kính trên những cánh tay xăm hình. Các cửa hàng lại mở cửa. Những chủ nhân cũ và mới xuất hiện ở bậc cửa ra vào, nụ cười trên môi, một thứ xã giao của nhà buôn. Cần phải tìm lại chỗ đứng. Rồi, những người mà ta tưởng là đã mất lại thấy hiện ra.
- Kìa Edmond, - Dekaerkove gọi to, - hãy đến xem này!
Trong khi Edmond tiến lại gần thì người vạch ra đường đua Vòng Quanh nước Pháp cung cấp cho ông Louis những thông tin cần thiết về Edmond, con người trước kia xếp chữ cho một tờ nhật báo, độc thân và là người kháng chiến.
- Trước đây anh ở đâu?
- Tổ chức FTP, ông bạn già ạ. Tôi vừa xuất ngũ. Thật là kỳ phải không, sống mà không cầm súng.
Rồi chiều chiều, họ chuyện trò với Edmond, Marcel, René… Những người ló ra từ cuộc kháng chiến hay từ những trần giả ngõ Panoramas, ở đó, một số người này đã sống ẩn. Thí dụ như Élie, một người thuộc da lông thú ở phố Bergère. Ông ta bị đau tai vì đã phải lắng nghe mọi tiếng động một thời gian khá dài.
Còn những người khác nữa, những liên lạc viên ở các quán rượu, hay quán Sáu Ngày, họ đã biến đi đằng nào mất. Ông Louis và đối thủ của Gabriel cố gắng nhớ lại tên họ. Tính xem những ai vắng mặt quả là một việc khó khăn. Họ nói về thể thao, về báo chí.
Luận thuyết của Dekaerkove thật đơn giản: thời hậu chiến là thời đại vàng của báo chí thể thao.
- Sau ngày đình chiến, nhân dân lại buồn chán. Nhưng hãy thận trọng Louis, khách hàng bây giờ khó tính hơn. Người ta cho họ cái thói quen thưởng thức những cuộc thi hồi hộp, những chỗ ngoặt bất ngờ: Stalingrad, Monte Cassino, El Alamein. Bây giờ họ không còn thích thú với một nước rút nho nhỏ ở cuối cuộc đua Paris – Vimoutiers.
Ông Louis lắc đầu.
- Anh nói có lý. Chúng ta hãy sáng tạo thêm. Báo chí thể thao là cái bổ sung cần thiết cho chủ nghĩa cộng sản. Trong khi chờ đợi các buổi chiều vĩ đại ấy, mỗi sáng, người ta vẫn còn cần rất nhiều sự việc. Rồi hai người bạn đòi hỏi những khăn trải bàn bằng giấy.
- Thưa các ông, nếu các ông muốn ăn tối, xin mời đến quán bia.
- Tối nay, ông này và tôi chỉ ăn khăn trải bàn thôi, có phải không Louis?
Và họ vẽ ra trên bàn, khoảng cách giữa các cốc, những hành trình như trước kia, chỉ có tên là đổi khác: Cuộc đua giải phóng dân vệ (trước kia có tên là Cuộc đua vòng quanh Đế quốc), Chiến tích giải phóng (cuộc đua ô tô Paris – Tamanrasset – Tombouctou – Dakar, trước kia giải thưởng René – Caillé).
- Thưa các ông, đến giờ đóng cửa hàng rồi.
Họ ôm hôn từ biệt nhau, trong xe điện ngầm, ngay sau lưng người bán vé.
- Ngày mai vào chín giờ ở Longchamp, như mọi khi nhé!
- Hẹn đến mai.
Dekaerkove đi về phía cửa Italia, đổi xe ở République, còn bố tôi thì về Levallois, đi ngang qua Havre – Caumartin. Gabriel, như những kẻ thích ganh đua, xem lại các kế hoạch và vẽ lại các hành trình.
Trong hai người, ai là người nghĩ đến Á Châu trước, một ý nghĩ rất sai lầm?