Triển Lãm Thuộc Địa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii
Ii

❊ ❊ ❊

Nỗi bất hạnh này, đừng trông chờ Gabriel dẫn đi thăm từng phòng, từng phòng một.

Kỹ sư là những người bẽn lẽn.

Ta chỉ cần biết rằng đây là một căn bệnh, một căn bệnh tấn công hàng giờ, hàng phút, hàng giây, như bệnh viêm tủy xám tấn công các cơ bắp: thời gian bị tê liệt, thời gian không còn lê lết được nữa.

Bao thi sĩ, phụ nữ hãy còn trẻ, nhà siêu hình ngày Chủ nhật đại loại như thuyền trưởng con tàu Wellington đã cầu trời để họ được mắc căn bệnh này: ôi thời gian, hãy ngừng trôi… vv… Gabriel, tử tế nhưng cương quyết bảo họ phải ngừng ngay ở đây những trò ngu xuẩn của họ, chính thức hủy bỏ phiếu đặt của họ: thời gian bất động là nỗi đau lớn nhất chưa từng thấy.

Thời gian đã chết và biết làm gì khi thời gian đã chết? Mở mắt ra à? Căn phòng 212     liền hiện ra ngay ở đằng kia, chỗ cuối khu vườn Brésil, giữa chuồng vẹt đuôi dài đang ngủ, màu vàng, màu đỏ, và màu xanh da trời với cánh cửa con màu trắng. Nhắm mắt lại ư? Để thấy lại chiếc giường trong căn phòng 212? Và đầu Clara thò ra khỏi chăn? Lại mở mắt ra? Để thấy lại cặp đùi vô tận của Clara mà anh chỉ cần lần lên dần, lên dần tới trạng thái êm dịu tuyệt đối, lọt vào trong tâm cuộc đời ở gửi. Thế lại mở mắt ra? Clara không xê dịch? Cả căn phòng 212 cũng vậy. Một kỹ sư biết ghi nhận các sự việc: thời gian đã chết thật rồi, chẳng cần phải để một chiếc gương trước mũi hoặc bắt mạch. Và Gabriel cảm nhận rõ cái chết này ở trong anh, tự cảm thấy mình là phụ nữ để cảm nhận rõ sự hiện diện như vậy trong bản thân mình, một phụ nữ đáng nguyền rủa bê cái xác in utero, thi hài bất động và lạnh toát của một người vợ rất trẻ đã vắng mặt. Vào một lúc nào đó, anh đứng dậy. Giật mình tỉnh dậy, con George Sand sủa vang. Nhưng anh liền vội buông mình ngồi xuống ghế. Bỏ trốn được lợi lộc gì? Chẳng thể bỏ chạy vào cái chết của thời gian. Giết làm sao được thời gian, bám riết làm sao được vào cái đã chết?

Như vậy là Gabriel đã ở ngoài hàng hiên chín mươi ba ngày, ngồi trên chiếc ghế bành bằng mây. Bà Rosa Marcelina đã để quanh anh những đồ dùng thường ngày: bồn rửa mặt có lắp bánh xe nhỏ, thư viện xoay dành cho những câu hỏi về cao su, chiếc tráp đựng toàn bộ thư và điện tín của Louis từ những ngày đầu tới đây, một chiếc bàn nhỏ bằng luồng cưa xộc xệch, một cái giá để báo mới trong ngày, vv… và một chiếc đồng hồ quả lắc đung đưa rất mạnh, nó chẳng đánh lừa ai. Về đêm, bà vú Rosa Marcelina căng chiếc màn cho anh, tắt tất cả các đèn và trước khi giao phó anh để sāo Foāo, sāo Sesfredo, sāo Alvico, santa Rosa, sāo Zé, sāo Raymundo, sāo Ribaldo, sāo Marcio, sāoFelisberto, santa Otacilia… bảo vệ. Bà chúc anh ngủ ngon và rồi biến mất.

Lát nữa Gabriel sẽ nói chuyện một cách kín đáo với bạn. Đừng hoàn toàn tin lời anh ta. Nỗi bất hạnh này là một cảnh tượng thú vị đối với dân chúng Belem, một chốn đưa chân tới dạo chơi và mục tiêu của mọi câu chuyện. Người ta tới quan sát anh chàng người Pháp bất động này ngồi ngoài hàng hiên, bị mắc bệnh si tình nặng. Người ta kháo nhau rằng, quả thật, nước Pháp không hổ thẹn với danh tiếng. Phụ nữ bất nhã với đàn ông: ông sẽ chẳng yêu tôi được như vậy. Người ta quát mắng lũ trẻ ranh chỉ trực ném hoa quả, trứng và thậm chí cả sỏi đá vào con người bất hạnh. Người ta tự hỏi không biết căn bệnh có lây không. Người ta cho rằng nó không phải là bệnh truyền nhiễm. Do đó người ta rón rén sán lại gần hàng hiên để biết rõ các chi tiết và nghe được các liều thuốc: trong trường hợp bị mắc bệnh si tình nặng thì phải xử lý ra sao? Mỗi người mỗi cách. Với bà vú Rosa Marcelina, chiến thuật thật rõ ràng: thoạt đầu, liên tục với các vị thánh có công có việc với trái đất và có nhiệm vụ an ủi chúng sinh thay cho việc ngủ khi ở trên trời. Sau đó bà vú tăng thêm lượng ớt vào đồ ăn. Và khi bà vú thấy Gabriel nhăn mặt nuốt một miếng gà giò hoặc một miếng surucu nướng, rồi uống ừng ực hàng lít và hàng lít nước, hai má đỏ bừng, trán vã đầm mồ hôi, bà vú giơ cao tay lên trời, ôi, Thánh Maria Đức Mẹ Chúa trời trọn đời đồng trinh, seur Gabriel đã ấm người, sắp khỏi tới nơi. Một chế độ ăn uống như vậy hủy hoại các đường ruột. Bà vú Rosa Marcelina nào có bận tâm. Bà vú nhẹ nhàng kéo tụt từng tí một chiếc quần của kẻ bất hạnh. Khách tham quan hớn hở thốt kêu lên ôi! một cặp mông thật là đẹp, thật trắng ngần, mông người Pháp đều trắng như vậy cả sau? Bà vú Rosa Marcelina bỏ ngoài tai tất. Bà vú vô cùng trìu mến giặt chiếc quần của kẻ bất hạnh trong chiếc bể bằng đá ở sau nhà. Sau đó bà phơi quần của kẻ bất hạnh và không rời mắt chờ cho quần khô (khối người Brésil muốn xoáy nó coi như một thánh tích). Người bị thất vọng lớn nhất là ông bác sĩ Lezama, tuy đã được cấp bằng tốt nghiệp trường đại học mãi bên Lisbonne, ông ta cứ quanh quẩn bên bệnh nhân, miệng luôn lầm rầm ố, là la, tôi đã gặp nhiều con bệnh, tôi đã gặp nhiều con bệnh, chắc đây là một chứng dị ứng dữ dội, nhưng, do đâu, Đức Chúa Trời? Từ nay tôi sẽ cấy dần dần tất cả các thành phần của căn bệnh nhiệt đới… và rồi ông ta bỏ đi chăm sóc các bệnh nhân mà ông ta đang điều trị, vẻ tiu nghỉu như chú học trò bị đội chiếc mũ lừa. Ông và bà Guy Revol cũng đành chịu bó tay, chẳng lần ra bí quyết để làm cho thời gian trôi. Hai người lần lượt tới, vào cuối buổi sáng, sau thông báo thị giá của cao su (không thay đổi, vẫn cực hạ).

Bà cho tôi một cốc gì đó đi, bà Rosa, một cốc bia, chà! nóng dễ sợ, chẳng thiết nói năng gì hết, thế nhưng mà này, anh Gabriel này, tôi muốn trao đổi với anh, tôi biết thế nào là tình yêu, anh Gabriel, tôi cũng vậy, với bà Revol, tôi biết rõ giai đoạn ngờ vực. Anh tin tôi đi, bản thân nỗi ngờ vực đã gây đau đớn rồi. Do đó, thế này nhé, anh Gabriel, tình yêu chẳng phải là lý do thoái thác. Anh nên bình tĩnh lại – Anh nên dựa vào thiên hướng của anh, anh Gabriel. Ít người may mắn có được một chỗ dựa vững chắc là thiên hướng thực sự như thiên hướng của anh, anh Gabriel. Và như anh biết đấy, tôi sẵn lòng hỗ trợ anh, Hội sẵn sàng hỗ trợ anh, nhưng mong anh cũng nên đóng góp công sức của mình…

Một lát sau bà Revol tới. Bà ngồi né xa chồng, đây là cách biểu lộ sự tế nhị: bà chẳng muốn để lộ rõ hai người là cặp vợ chồng, bà và ông nhà. Và suốt buổi đến thăm, bà mỉm cười với Gabriel, rất dịu dàng và bà luôn xoay người lại, khi hai người bước ra về, bà xoay người lại để giơ tay vẫy chào tạm biệt anh khi họ sắp bước qua cánh cửa nhỏ và đi khuất sau rặng lá.

Vợ chồng nhà Revol không thành công lắm. Hai vợ chồng không thu hút được mọi người. Ngược lại, ông giám đốc Abel điều hành chung khách sạn Paris đã được lòng công chúng. Ông chẳng bao giờ đến một mình. Ông kéo theo cơ man nào là người khao khát nghe các câu chuyện của ông. Chẳng là ông Abel được Belem coi là một chuyên gia khỏi phải bàn về ái tình. Ông nhắc hoài với ai muốn nghe rằng ông chọn cái nghề chủ khách sạn cũng chỉ vì vậy: xem biểu diễn tình ái. Những tuần trăng mật, bốn ngày đêm liền chưa chịu ra ngoài, ngược lại, những lần gặp gỡ vội vã của những kẻ ngoại tình, một nửa giờ, đôi lúc còn ít hơn nữa, những cuộc cãi cọ, những lần gặp gỡ lại nhau, tay trong tay ở phòng ăn, những vụ khiêu khích, những ánh mắt đưa tình, những động tác cọ trộm, các tờ bạc nhỏ… đấy là thức ăn nuôi sống ông ta. Người ta thậm chí còn kháo nhau rằng gương ở các phòng số 7 và 11 không tráng thủy ngân. Còn tường ngăn phòng số 6 với những căn hộ riêng, lỗ chỗ thủng như miếng pho mát gruye… Với trường hợp của Gabriel, ông ta đã có cách điều trị. Phải mở lại van bơm. Để làm được việc đó, ông ta kể lại các câu chuyện của các khách tới khách sạn ông. Họ không thiếu đầu óc tưởng tượng, những câu chuyện mà, bà lão Rosa này, còn gây nóng người hơn toàn bộ ớt trên trái đất. Ông giám đốc Abel tới một ngày ba lần, trước ba bữa ăn. Vào rạng sáng, khi khách của tôi còn đang ngủ và chưa suy nghĩ gì tới bữa điểm tâm. Sau đó, khi miệng họ còn dư vị cà phê sữa, điều đó, trong vòng một tiếng đồng hồ sau, không hề gây trở ngại cho cảm giác thấy đói bụng của họ. Cuối cùng vào quãng giữa đầu buổi chiều. Được rồi, anh Gabriel, tôi có thể sẽ tới sớm hơn, nhưng nếu tôi không dự phần chầu rìa vào lúc ngủ trưa, tôi còn chuyện gì để kể anh nghe nào? Còn nán lại quá mười tám giờ thì, anh Gabriel này, ai sẽ lo bữa ăn tối? Một cơ sở như khách sạn Paris, cần phải được duy trì . Hôm qua, anh biết không, Gabriel, tôi gọi anh cộc lốc Gabriel như vậy mà không xin phép anh, ấy chẳng qua thực ra chúng ta hai lần là anh em, đất nước của tôi là Liban thì cũng coi như nước Pháp, đúng không Gabriel và cũng vì người anh em của tôi có niềm say đắm tình ái này, tối qua, anh biết không, lúc ngủ tôi nghe thấy một tiếng động. Không phải tiếng cọt kẹt của giát lò xo và tiếng người thở hổn hển như thường lệ, B-A BA dội khắp nhà, không, một tiếng lách tách mà tôi không rõ là tiếng gì và có trời mới rõ tôi có một trí nhớ về các âm thanh và tai tôi nghe rõ hay không. Tôi vội chồm dậy và đi vòng một lượt quanh các vị trí chiến lược. Tình hình bình thường ở phòng 6. Phòng số 7 không có khách, hỡi ôi, nếu anh được thấy căn phòng số 7 vào lúc nhiễu nhương, nhưng trong phòng số 11… Tôi phải giải thích với anh rằng phòng số 11 là phòng tĩnh nhất, Gabriel, trước cửa sổ có một cây hoa giấy khổng lồ. Thỉnh thoảng một ông luật sư nổi tiếng của thành phố ta tới thuê căn phòng tuyệt vời này. Tất nhiên là tôi chẳng nêu tên ông ta ra đây. Nếu không, liệu tôi còn xứng đáng với niềm tin của khách trọ không? Ông luật sư nổi tiếng nọ, vào những hôm trước các vụ bào chữa khó khăn, các vụ xét xử xem chừng tuyệt vọng, thường đứng tập trung suy nghĩ trước cây hoa giấy của tôi. Như vậy là tối hôm qua, ông ta ngồi trên một chiếc ghế; nhưng trước mặt ông ta, lẽ ra trên bàn có đống hồ sơ như thường lệ thì tôi lại thấy xuất hiện một cái bếp mà ông ta dùng nĩa nướng một vật gì đấy. Đúng lúc tôi định xộc vào phòng ngăn cấm tuyệt đối không được nấu nướng gì ở trong các phòng nhà toàn dựng bằng gỗ, Gabriel, chúng tôi đâu có đội ngũ cứu hỏa như Paris, đúng lúc tôi định đẩy cửa vào thì ông lấy miếng bánh cá, vê tròn, vừa được nướng trên lò bằng nĩa, thổi thổi nhiều lần. Sau đó ông ta tiến đến bên giường mà từ lúc nãy tôi không để ý, anh thấy đấy, đầu óc tôi còn minh mẫn, rất khoa học, Gabriel, có một cô bé lai, rất trẻ, tôi phải nói rằng ở đây chưa có luật lệ như bên nước anh, trẻ nhưng vẫn có quyền thuê phòng, như mọi người. Chiếc váy đỏ của cô bé tốc lên tận rốn. Cô bé như đang say mê đọc, đúng là tuổi trẻ, một tờ tạp chí, lúc sang trang cô bé đã nhấm nước miếng ngón tay trỏ. Và thế là ông nổi tiếng nọ của chúng ta nhẹ nhàng, lịch sự, Gabriel, không nóng quá đấy chứ, ông ta hỏi cô bé, cô bé không đáp gì, ông ta nhét cái hình cầu nhỏ màu vàng nhu ấy vào quả vả hồng. Ông ta đợi một lát, rồi lấy miếng bánh cá vê tròn ra và bỏ vào miệng nuốt, hai mắt nhắm lại. Ông ta lặp lại như vậy ba lần. Sau đó “Xong rồi chứ?” nữ đọc giả lên tiếng hỏi, rồi kéo váy xuống, nhặt tờ bạc để trên bàn, trèo qua cửa sổ, lẩn vào cây hoa giấy của tôi. Đêm đó, tôi tới phòng ông ta hai lần. Chiếc bếp đã dọn. Tập hồ sơ chiếm choán chỗ của nó và ông nổi tiếng nọ say sưa làm việc như chẳng có chuyện gì đã xảy ra.

Một câu chuyện kỳ cục, đúng không, Gabriel, cho ta thấy một ví dụ mới về sự đa dạng vô tận của ái tình. Thôi, tôi phải về đây, Gabriel. Nếu bữa điểm tâm không có mặt tôi, người ta sẽ nổi loạn mất. Nhưng tôi hy vọng sẽ còn nhiều chuyện khác tọng cho anh nghe. Mồ hôi sắp vã, cái đó chẳng làm tôi ngạc nhiên.

- Thật dơ bẩn! – Bà vú Rosa Marcelina lẩm bẩm suốt lúc nghe chuyện, – quả thật o seu director, ông chỉ kể toàn những điều dơ bẩn (và bá vú áp chặt hai lòng bàn tay che mắt, nhưng người ta thấy tai bà ngọ nguậy), đúng, thật dơ bẩn!

Người dân thành Belem, những ai đứng vậy quanh ngôi nhà mỗi khi ông giám đốc Abel tới thăm có vẻ tán thưởng. Người ta nghe thấy nổi lên những lời bình luận triền miên. Đôi lúc, vào lúc ngủ trưa, sau khi bị ớt thử thách, lúc bà vú Rosa Marcelina, nằm bẹp trong võng và ngáy, thì một cô bé, không phải lần nào cũng vẫn cô bé đó, đến ngồi trên thành hàng hiên, ngắm Gabriel ngủ trong chiếc ghế bành bằng mây (một giấc ngủ vô ích, vì dù trong giấc ngủ, thời gian vẫn chưa chịu di chuyển) và đung đưa chân, hết chân nọ đến chân kia, những tiếng xoa nhẹ đều đều của da thịt bị dày vò, chiếc đồng hồ sinh vật bé bỏng vừa có thể đụng tới và vừa chẳng thể đụng tới…

- Này, này, tôi thấy van bơm đã được mở lại.

Cuộc viếng thăm của ông giám đốc Abel vào giờ này, bốn rưỡi, năm giờ chiều, kéo dài hơn, thanh thảnh hơn.

- Tôi phải kể anh nghe mới được, anh bạn đồng nghiệp về tình ái Gabriel. Họ đã quay lại. Họ tới trọ ở khách sạn của tôi mỗi một đêm, cứ ba tháng một lần. Cả hai đều không sống ở Belem, hai năm về trước, họ đã ở đây, họ đã chia tay nhau, hình như chị ta bỏ đi thì phải, cũng na ná tương tự như trường hợp này ấy mà, Gabriel, bỏ đi với một anh chàng kỹ sư đường sắt Madeira – Mamore, anh đã biết rõ cái dự kiến điên rồ là xây dưng một tuyến đường sắt ở trong rừng rậm. Nhưng mà thôi tôi chẳng quan tâm đến những công trình công cộng. Điều quan trọng là họ đã quay về, Gabriel. Họ thường thuê hai phòng, phòng số 7 cho họ, phòng số 6 cho lũ trẻ con, bọn trẻ con họ đã thu nhặt linh tinh, ngoài bến cảng ngoài chợ, trước khi vào thuê phòng ở khách sạn. Lần đầu tiên tôi muốn tống họ ra khỏi khách sạn. Để người trẻ trong phòng còn được chứ trẻ con thì dứt khoát là không, nhưng họ van nài tôi, cả ả và cả anh đứng van nài trước bàn tiếp tân của tôi. Trường hợp hiếm thấy đấy, Gabriel, thường thì một người đi đến điều đình thuê phòng với chủ khách sạn, còn người kia đứng ở sau lưng, mắt cúi sụp, chân bắt chéo. Hai người này thì không, cả hai đều ông làm ơn, ông làm ơn, ông giám đốc. Và thế là tôi xuôi lòng. Hai người vào phòng số 7, còn lũ trẻ con vào phòng kia, phòng số 6. Chuyện còn lại, đơn giản lắm, lần nào họ cũng làm tình, như bất kỳ mọi trường hợp, Gabriel. Có điều, gần tới lúc kết thúc, người đàn ông đá mạnh vào vách ngăn phòng, này, nô đùa đi, đã đến lúc rồi, nô đùa đi. Và thế là bọn trẻ con ở phòng số 6 liền reo hò, tranh cãi, gây đủ thứ tiếng động con trẻ thường tình. Lúc đó người đàn bà mới bắt đầu rên, người đàn ông lấy tay bịt miệng chi ta, im đi lũ trẻ con nghe thấy tiếng chúng ta, im đi. Người đàn bà vẫn tiếp tục rên dưới bàn tay của người đàn ông. Người ta chẳng nghe thấy tiếng gì, nhưng người ta đoán biết được qua cặp mắt, chiếc cổ cứ căng phồng từng đợt. Sau đó họ mặc áo xống và ôm hôn nhau. Họ lần lượt kẻ trước người sau rời khỏi khách sạn. Tôi buộc lòng phải đưa họ ra qua cửa bếp vì cả hai đều khóc và những cặp mắt đỏ chẳng bao giờ gây tác động tốt tới khách trọ của tôi.

Anh nghĩ sao, Gabriel, anh cứ thành thực nói đi?

Và rồi, sau bữa tối (ớt, lúc nào cũng ớt), các cây xoài, trong đêm tối, chỉ còn là một khối lờ mờ hình tròn và mỗi rặng thông lớn còn thấy đâm lá tua tủa trên nền trời, các cặp uyên ương tay khoác tay đến ngó cơn bệnh tình ái. Họ chẳng chú ý nương nhẹ các cây hoa, chẳng lịch sự với đêm tối, họ cứ sán lại gần, giơ tay chỉ trỏ chiếc màn ngủ, người đàn ông nằm co ro trên chiếc ghế bành mây, gần bên con chó vàng và đám côn trùng dày đặc như đám mây bay quanh chủ và chó, vì bây giờ bà vú Rosa Marcelina thắp một một chiếc đèn dầu treo trên cửa ra vào để ít ra, xua những con vật hoang dữ nhất tránh xa, bà vú nói. Người nữ trong các cặp uyên ương khẽ thì thầm: đúng, trông anh ta chẳng sung sướng lắm. Người đàn ông đáp: nghe đâu người Pháp sống chẳng chịu kiềm chế mấy.

- Đúng, nỗi buồn của chúng ta đỡ bị giằng xé hơn, đúng không anh Raymondo, anh Joāo hoặc anh Ze?

Và rồi họ nhẹ bước bỏ đi về ngủ, lại làm gãy thêm cây hoa mà sáng hôm sau bà vú Rosa Marcelina thấy chúng bị chết và đem đi vùi giữa những tiếng hòa âm chửi bới, bọn thanh niên Brésil là con trai của lũ đĩ điếm, lạy Mẹ Maria trọn đời đồng trinh, bọn thanh niên Brésil không đáng là cục cứt vừa ị ra. Đức Chúa của mọi lòng nhân từ…

Người ta có thể nghĩ rằng do tất cả các cuộc viếng thăm, các quang cảnh này, cuối cùng thời gian đã nhượng bộ và hạ cố ngoắc ngoải phục sinh. Hỡi ôi, chưa thấm tháp vào đâu. Mỗi khi có điều đó thú vị diễn ra trong khu vườn hoặc ông giám đốc Abel lên tiếng kể một câu chuyện, người ta có thể cho rằng thời gian chỉ mới đảo tạt ngang qua chứ chẳng liên quan gì với thời gian chủ yếu là thời gian có khả năng xoay kim đồng hồ chạy. Và mỗi lần Gabriel lại nghiệm thấy điều đó: khi điều thú vị kết thúc, khi chẳng hạn ông chủ khách sạn quay về, Gabriel, người đã ghìm nén suốt quá trình diễn biến sự việc ở căn phòng số 7, cuối cùng đã đảo mắt nhìn về hướng mặt số đồng hồ. Uổng công. Hai kim vẫn chưa nhúc nhích. Và để anh hiểu rõ rằng thời gian đã chết đứ đừ, bất chấp những nỗ lực của các người bạn Brésil của anh, căn phòng kia, căn phòng số 212, lại quay lại ngự trong đầu óc Gabriel, với cặp đùi dài thời ấy, dẫn đưa vào trung tâm trái đất, về miền dịu ngọt, và căn phòng 212 chỉ nhường chỗ cho mỗi con tàu thủy Wellington quay về Pháp, một con tàu chẳng có lý do gì để phải mở tăng tốc độ, vì buổi hòa nhạc Schubert có Clara dự chưa hết. Và các bậc kỳ tài vẫn còn giữ nhịp chậm.

cắt cổ bà, chia nhau thịt. Đây là suất để phần anh.” Tôi đã sưu tầm lại được câu chuyện đó. Nó nằm trong cuốn Ngữ pháp tiếng Tamachek, do Louis - Joseph Hanoteau biên soạn, ông là một vị tướng và người uyên bác, sinh và mất ở Decize (1814-1
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Erik Orsenna

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.