Hãy hiểu rõ: đây là những năm không đầu không đuôi, một sự đảo lộn thời gian không thể ngờ tới được, tuổi thanh niên với tuổi già lẫn lộn, xáo trộn như đánh bài. Người trẻ thì chết, người già thì sống. Thỉnh thoảng, chị thư ký lại đẩy cửa:
- Thưa ông giám đốc, lại một tin xấu.
- Chị im đi!
- Ông Georges… ông kế toán… hôm kia… khoảng tại Bapaume.
- Ngu!
Cai quản nhân sự không phải là một nghề dễ dàng. Nhất là trong suốt thời kỳ chiến tranh thế giới.
Ông giám đốc đứng lên, cầm cái tẩy, xóa thêm một tên trên biểu đồ cơ quan. Trong số các nhân viên trước năm 14, tôi là một trong những người cuối cùng. Mỗi lần gặp tôi ông giám đốc nắm lấy vai tôi:
- Anh, ít ra là anh biết sống sót. Anh Gabriel này, Anh có những dự tính nào cho thời kỳ hòa bình không? Chúng tôi cần anh trả lời cho biết rõ, anh Gabriel, một ngày nào đó chúng ta sẽ thong thả nói đến chuyện ấy càng sớm càng tốt… ta đi ăn trưa nhé, nếu anh nhận lời…
Anh Michel, ông ta tên là Charton, tôi còn nhớ một con người phục phịch, láu lỉnh, mắt hau háu, dây đeo quần đỏm dáng ngay cả trong thời kỳ để tang, ông ta ở đâu đó gần trường Kỹ nghệ. Ông ta đã mời tôi vào một trong những hiệu ăn của khu phố, ở đấy các bàn ăn san sát và các câu chuyện trò xen lẫn với nhau, các câu chuyện bị đứt đoạn. Chỉ một chút thôi là người ta đã bắt theo câu chuyện về đời sống của người bên cạnh…
- Anh Gabriel này, anh nên cố thật thoải mái nhé! Thôi, chúng ta bỏ qua chuyện ở Brésil.
Ông Charton nhìn thẳng vào mắt tôi. Hai mươi năm cai quản nhân sự đã dạy ông cách thức ăn hết một đĩa rau trộn giấm mà không giây phút nào rời khỏi ánh mắt người đối thoại.
- Tài chính không phải là việc của anh. Thôi được, bây giờ anh đang phụ trách các xe tải quân sự, nhưng việc này sẽ không kéo dài lâu. Như vậy anh sẽ theo nghề nghiệp ở chỗ chúng tôi?
Khi ông ta nói “chúng tôi” là ông đang nghĩ đến ai? Các đội ngũ của ông ta đã tan rã ngay từ đầu thời kỳ chiến tranh. Người ta cảm thấy ông lại hy vọng trong khi ăn, đến một người nào còn sống. Nhưng đôi lúc ông thoáng thấy một điều gì ngờ vực: và nếu người ấy cũng sẽ lại mất? Vì thế không còn nghi ngờ gì nữa, do thích ăn tỏi, ông đã hơi lẫn con ma với con dơi hút máu. Đã nhiều lần ông ta đòi tỏi nguyên củ hay tỏi giã cho món rau, cho bắp cải nhồi thịt, cho pho mát.
- Người ta đề nghị tôi điều gì?
- Không phải là thiếu chỗ làm. Trước tiên là phải chọn: thuộc địa hay chính quốc?
Đời sống nghề nghiệp bao giờ cũng bắt đầu bằng giây phút ưu tiên ấy trong tất cả các trường hợp: có ai đang giở trước mặt anh, quyển danh biểu các cuộc sống có thể được của anh. Người ta có thể tự xem xét mình khá lâu trong nhiều vai trò.
- Có những nghề nào ở thuộc địa?
- Đây, anh có thể chỉ huy ở đây! Một đồn điền hay chỉ huy ngành thương mại của chúng ta hay tổng kiểm soát ngành giao thông, hay đại diện cho chúng ta ở nhà băng Đông Dương. Vậy anh thấy thú việc nào hơn?
Tôi muốn ông ta đi sâu một chút vào các chi tiết; trước hết vấn đề thuộc về số phận có thể liên quan đến Gabriel. Một số phận là có thể xảy đến, cũng đáng để cho người ta có thời gian suy nghĩ.
Vậy thì, bằng lòng hay không, tôi có thể ghi tên anh đi Đông Dương được chăng?
Tôi đã quyết định rồi. Bao giờ tôi cũng ghét Á châu đã ăn cắp những cây cao su của xứ Brésil. Và cao su của tôi là cây cao su hoang dại chứ không phải là cây cao su trồng. Tôi thấy làm một nhà nông là không tốt cho tôi. Ông Charton có hiểu cho những lý do này không?
Khi trả lời ông: không, tôi không muốn đi xa, tôi là cái cọc chống cho gia đình, tôi đã trông rõ con tàu rời đi về Port Sand. Không có Gabriel. Và tôi đã phải tự ngăn lại để không vẫy khăn mùi xoa của tôi, trên món bánh táo nóng mà cả hai chúng tôi đã chọn làm món tráng miệng.
Ông giám đốc không nói gì, không nhăn mặt, môi mím lại giây lát. Rõ ràng là tôi đã làm ông thất vọng.
- Được, tốt lắm, thì ở chính quốc vậy. Tôi có thể đề nghị anh lãnh trách nhiệm ở “Sở nghiên cứu và Thi đua”. Hợp với anh chứ? Hoan hô! Tôi ghi cho anh làm phó, để bắt đầu mà. Nhưng trong việc nghiên cứu thì thủ trưởng không bao giờ sẽ phải lao vào việc tìm tòi. Tôi chắc chắn là anh sẽ làm được những điều kỳ lạ. Theo người ta nói thì giữa cao su và anh có một thứ tình yêu phải không? Ông giám đốc coi về nhân sự đã bắt tay tôi khá lâu và thận trọng và ông còn xoa má tôi. Tôi hiểu ông. Ông ta muốn xác nhận xem lần cuối cùng có phải Gabriel Orsenna đúng là thuộc vào thế giới của những người còn sống. Chắc chắn và hài lòng về sự chiến thắng các con ma, ông ta ra về hoàn toàn vui vẻ, người sặc mùi tỏi.
Một vài tháng đã trôi qua, hòa bình đã được ký kết, các loại súng ống đã câm. Ngày tháng bồng bềnh như trong quần áo quá rộng. Chiến tranh đã chiếm tất cả mọi chỗ. Đình chiến để lại những khoảng trống không và những kho hàng, cả hàng héc ta đất đầy xe vận tải màu xanh lá cây, màu ngụy trang.
Không ai muốn có chúng. Người ta cố tìm nhiều cách, mở những vụ bán đấu giá rẻ mạt nhưng không xong. Phải làm sao tiêu thụ được? Báo chí đặt vấn đề.
Các xăm lốp có nhiều kết quả hơn. Người ta chất đống chúng thành từng núi màu đen lạ lùng, cứ ngày cuối tuần lễ là có nhiều gia đình đến thăm, họ đi đi lại lại hàng giờ giữa đống cao su đó để tìm cho đủ một bộ và buổi chiều lại ra đi, chất những chiến lợi phẩm ấy lên những chiếc xe sử dụng cả bốn mùa.
- Như vậy chúng ta sẽ sẵn sàng, khi chúng ta có một chiếc ô tô, người chồng nói với người vợ.
Người vợ gật đầu đồng ý. Phụ nữ rất phục tùng đối với những chuyện mơ mộng.
Một trong những công việc của Gabriel là trông coi những đồ thừa thãi đó. Mỗi buổi sáng anh phải báo tin giá hàng lên xuống :
Tính theo 100kg:
Lốp xe ô tô nhẵn………………………………... 53f
Lốp xe con nhẵn………………………………… 40f
Lốp xe chạy trên đường sắt…………………….. 23f
Lốp xe đạp mềm………………………………… 13f
Lốp xe đã mòn trụi……………………………… 40f
Săm cao su đỏ mềm cho xe đạp………………… 280f
Săm cao su xám mềm……………………………. 280f
Những quả núi hàng cũ ấy gây lụn bại cho thị trường hàng mới. Đáng nhẽ phải đốt tất cả đi, nhưng không ai dám làm vị sợ các nhà báo. Các trang báo đã từng đăng đầy những tin về các cuộc chiến, nay đã tàm tạm tìm được đề tài khác, những vụ tai tiếng thời hậu chiến, sự lãng phí đến xấu hổ, hơn nữa cao su đem đốt bốc mùi khét lẹt.
Công ty đang chạy ì ạch, đi theo kiểu con ma, ông giám đốc về nhân sự Charton nhắc đi nhắc lại. Tất cả các sở đều có thời giờ nhàn rỗi, nhất là bộ phận tổ chức các cuộc đua, từ khi có thông báo của phòng Nghiệp đoàn các nhà sản xuất ô tô: “Do nhiệm vụ cực kỳ to lớn mà các nhà sản xuất ô tô của Pháp phải đảm đương để lấy lại mức sản xuất bình thường và do nhận rõ thái độ lưỡng lự của họ đang trực diện đối đầu với tương lai, nên chế độ ưu đãi tổ chức hiện tại về thử nghiệm ô tô, như các cuộc đua, các cuộc thi vv… là quá sớm.
“Nay quyết định yêu cầu các Câu lạc bộ ô tô, các hội thể thao, vv… hoãn tổ chức thử ô tô, dưới mọi hình thức”.
- Gabriel, anh nghĩ thế nào? Người phụ trách của Sở hỏi tôi khi có công bố bản thông báo ấy. Tôi, tôi sẽ đợi…
Arnoult, Jean, chính là ông ấy, thượng cấp của tôi, một người béo bệu có ánh mắt rất dịu dàng và u buồn. Mỗi buổi sáng ông phải co bụng lại một phần. Ông thất vọng lớn là đã lấy lại nhanh chóng vòng bụng trước năm mười bốn.
- Đúng, tôi phải đợi. Làm sao có thể chế tạo những săm lốp mà không được biết những chiếc xe sẽ lắp chúng? Nhưng chúng ta phải tranh thủ đầu tư vào giới thể thao. Như vậy, khi các cuộc đua xe lại bắt đầu thì chúng ta mới hòa nhập được. Anh hãy tin tôi, trong cuộc thi, thắng chưa phải là đủ mà còn phải nắm được giới báo chí.
Cứ như thế chúng tôi đã trải qua năm 1919 để “đầu tư vào giới thể thao”
Nơi “đầu tư” đầu tiên của chúng tôi là giải quán quân thế giới về môn vật. Tôi không thấy được rõ mối liên quan đến ô tô.
- Anh Gabriel, anh chẳng hiểu gì về những quan hệ quần chúng, đó là khoa học về mưu kế, có vẻ như cho không… và rồi khi có thời cơ mà mình ít ngờ đến, thế là một tình bạn ở buồng thay áo… một tình đồng đội trong chuồng đua ngựa sẽ cứu cuộc sống của anh. Hãy lấy thí dụ như cuộc tranh giải quán quân này, anh chỉ tới một lần vì là theo mốt. Báo chí khinh anh. Anh lại đến hai lần, có thể là, anh cãi nhau với vợ anh, các nhà báo thương hại anh. Nhưng nếu anh lại đến đấy tất cả các buổi tối thì anh đã là người của họ. Anh đã nổi danh. Gabriel Orsenna? À, phải rồi - nhà - thể - thao. Và thế là, đã thắng rồi đấy, những bài tán dương a tòng thuộc về chúng ta khi mà các cuộc đua xe lại tiếp tục. Chẳng cần phép thuật phù thủy gì đâu.
Suốt mười lăm ngày liền, tối nào chúng tôi cũng tới Folies - Bergère, ở đấy diễn ra những trận đấu (Giải Dubonnet): những vinh quang trước chiến tranh đã trở lại, Constant - le - Marin, một người Bỉ nặng 115 kg hay Joe Polte, quân nhân Mỹ, Louis Lemaire, quán quân miền Bắc. Nhưng những người mới xuất hiện, có những người cổ vũ của họ. Gaumont - le - Frappeur, Raoul Saint - Mars và người Italia phi thường Gianni Raffaelli, người da đen Ellio, người Estonia là Walter Rentel… Những người chuyên môn đánh cá: chiến tranh liệu đã làm thay đổi những thứ bậc không? Cuối cùng, chúng ta sẽ chỉnh lại các đồng hồ cho chúng.
Gabriel rất khó khăn để theo được Jean Arnoult đi ngang đi dọc gian buồng và bắt tay hàng chục hàng trăm người và tạm ngừng bắt tay để vỗ tay.
- Chỉ cần một vài đêm như thế này là tôi thật sự biết tất cả mọi người, - ông ta nhắc lại với tôi trên con đường đi về, phố Faubourg - Montmartre, phố Vivienne.
Đó là mục tiêu trong cuộc sống: một ngày, được biết “tất cả mọi người”. Bắt đầu một ngày là đọc và đọc lại các nhật báo. Tất cả buổi sáng là dùng vào việc đó. Gabriel, anh đừng nghĩ là chúng ta mất thì giờ. Như thế anh sẽ có thể đọc tên các bạn nhà báo của chúng ta, như có vẻ là không có gì. Những người làm việc cho các tờ báo hàng ngày nhớ rất rõ. Gabriel nhớ đến một vài bài chỉ trích:
“Constant - le - Marin! Hiltman! Hai người ấy đã đánh một trận ra trò! Anh chàng Thụy Sĩ hung dữ đã đánh một trận ác liệt nhưng nhà vô địch thế giới đã trả đòn một cách thực mực thước! Và nếu thỉnh thoảng anh ta phản công mãnh liệt để cho đối thủ hiểu rằng có những giới hạn không được vượt qua thì bao giờ anh ta cũng tỏ ra đánh chững chạc!”
Rồi đến mẩu thuật về trận chung kết : “Đột nhiên nhà vô địch Italia dốc sức, người cúi thấp, né tránh nhảy lên, xoay người rồi đá tạt chéo”.
Tất cả chúng tôi đã cùng mở tiệc mừng thắng lợi của anh ta ở nhà hàng Paris, có Henri Desgranges đứng đầu và đầy đủ cả nhóm Ô tô.
Sau thắng lợi bước đầu ấy, chúng tôi phải chọn hiện trường của cuộc tấn công lần thứ hai của chúng tôi.
- Gabriel, đến lượt anh đề xuất, tôi sẽ xem liệu anh có tiến bộ trong các việc giao thiệp với công chúng không.
- Một điều chắc chắn là chúng ta phải thay đổi môn thể thao. Với môn đua xe đạp ít ra chúng ta cũng được thăm đất nước. Và xe đạp, theo tôi biết, phải dùng đến xăm lốp.
- Kết luận?
- Cuộc đua Paris - Roubaix lại bắt đầu. Ngày 20 tháng Tư.
- Tôi có đề xuất hay hơn nhiều: “Cuộc đua vòng quanh các chiến địa”. Có ba điều lợi: 1) Về diện ái quốc. Cuộc đua bắt đầu đi từ Strasbourg vừa mới thu hồi lại được. Rồi Luxembourg, Bruxelles, Amiens, Paris, Bar - le - Duc để lại trở về Strasbourg. Phải để cho người ta trông thấy chúng ta, nhất thiết phải để cho người ta trông thấy chúng ta trong cuộc hành hương ấy. 2) Về diện tích của ảnh hưởng. Nếu anh được thông tin, anh sẽ biết chính từ báo Le Petit Journal đã tổ chức cuộc thi đó. Anh có muốn một bức vẽ không? Giải quán quân về quyền thuật với hãng ô tô, cuộc đua xe đạp với Le Petit Journal, chúng ta mở rộng mạng lưới của chúng ta. 3) Sự gần gũi nhau. Trong bảy ngày, nhất là buổi tối ở tỉnh nhỏ, nơi mà những sự cám dỗ khá hiếm thì chúng ta sẽ là những sợi dây liên lạc.
Thế là Gabriel đã đi thăm các di tích hoang tàn, các làng mạc xơ xác, các nhà thờ đổ nát, những tàn tích của chiến trận, chẳng chỗ nào phủ màu xanh, mặc dầu giữa tháng Sáu. Đất trần trụi, đồi màu nâu chập chùng trải dài ngút mắt, lố nhố các cọc đen xì, đó là một cánh rừng đấy, Gabriel ạ, chỉ có cỏ che phủ tất cả, cần phải trồng lại cả một cánh đồng cỏ, từ biển đến vùng Lorraine. Đúng, Jean ạ, phải trồng lại.
Cả đoàn đi len lỏi giữa các hố, các nồi, các phễu, thỉnh thoảng thấy dựng đứng một mảng tường nguyên vẹn với một chiếc cửa sổ mở toang. Qua cửa sổ ta thấy trời ở phía bên kia, một mẩu trời màu xám, mặc dầu có những rèm che. Nhân dân đã trở về và họ vỗ tay hoan nghênh các tay đua, nhưng họ trú ở đâu chứ? Trời vẫn trút mưa trên bùn lầy.
- Trời mưa thì tốt cho cỏ, - Jean nhắc lại.
Mỗi đoạn lại có một cái biển chỉ rõ Querrain, Bapaume, Albert, ở giữa các hòn đá, bằng chứng là cuộc đua đang tiến.
Mùa xuân không có màu xanh làm se con tim.
Không có ai nói trong các xe ô tô. Từng chiếc xe một, không nói lời nào, các bác lái xe lao nhanh. Và chỉ có xe là chiến đấu với quá khứ.
Ở Amiens, mọi người chờ đợi, nện gót giày trên Đại lộ Beauvillé. Ở quán cà phê gần đấy quán Le Palais, điện thoại của Paris không ngừng đổ chuông. Đó là các ban biên tập.
- Trong nửa giờ nữa chúng tôi sẽ in. Thế nào?
- Không có gì.
Với trời tối, các con ma đã đến. Trước cả các xe. Đám đông để mắt vào đầu đại lộ là nơi phải xuất hiện các tay đua. Nhưng trời mưa, đêm tối, các nhà đổ lại lợi cho các con ma. Một khán giả đã kêu lên. Rồi một người khác…
- Nhìn, nhìn kìa, đây rồi Marcel, hay Ferdinand, hay Georges. Tôi biết anh ta sẽ đến…
Những con ma không tiến lên. Chúng đứng lại ở nơi kia, trong bóng đêm, giữa Đại lộ Beauvillé, đầu đường cuối cùng bên phải.
- Suỵt, ông im đi!
Không nên làm họ sợ hãi. Người ta không nghe thấy gì, không có một tiếng rì rầm nào, chỉ có tiếng chuông điện thoại. Nhưng người ta đã đóng cửa quán cà phê Le Palais. Chuông réo mãi. Có lẽ có một cái cửa nhỏ hé mở, ở đâu đây… có thể là tiếng động ấy đã ngăn họ không đến gần…
Gabriel cảm thấy khó chịu, anh chưa bao giờ biết con ma nào trong đời mình mà chỉ là những người phụ nữ lang thang.
Bây giờ Jean Arnoult lầm rầm hát, lúc là lời lúc là nhạc, năm vần, vẫn năm vần ấy, Marcalainwilly, những vần của ba đứa con trai của ông đã mất cho nước Pháp. Ông đã trông thấy chúng (anh Gabriel, tôi đã trông thấy chúng kia kìa, tôi thề với anh như vậy), chúng ở giữa hàng lan can, anh hãy nhìn vào cái đèn ở hơi xa một chút, Marcalainwilly…
Gabriel ôm ông ta trong vòng tay. Jean Arnoult răng lập cập. Ông bị lạnh, cái lạnh của những người cha không có con trai. Người thắng cuộc, Deruyter, đã đến sau mười tám giờ chạy, đúng trước lúc nửa đêm. Anh khóc, anh cũng khóc như tất cả mọi người.
Những tiếng vỗ tay yếu ớt, đầy cay đắng. Người ta không muốn anh ta. Người ta thích những con ma. Đáng nhẽ Deruyter phải đợi họ và thuyết phục họ tiến lên.
- Và ít ra là có những người khác, những bạn đua của anh, họ ở đâu, anh đã để họ lại trong chiến tranh, anh đã để lại nơi ấy à?
Deruyter không trả lời, run lên vì nước mắt.
Cuộc “đua vòng quanh các chiến địa” không có bản sao nào khác. Các giới đua xe đạp không lấy làm hãnh diện lắm về sáng kiến này. Bây giờ khi người ta hỏi họ thì họ trả lời: ông chắc chắn là như vậy ư? Chưa bao giờ tôi nghe thấy nói đến. Nhưng trí nhớ của Gabriel lại đảm bảo như vậy. Và bạn đồng minh của trí nhớ của anh là tờ Ô tô vô giá lại khẳng định là có quyển tuyển tập đồ sộ có mép đỏ, các trang vàng khè, mùa xuân 1919. Nếu không tin tôi, hãy kiểm tra lại.
Mấy tháng sau, vào tháng Mười Một, tôi mất Jean Arnoult sau cuộc đua “Targa Florio”. Đây là sự lặp lại cuộc đua ô tô lớn, cuộc đua không được để lỡ.
Sau khi từ Sicile về, chúng tôi, tôi với ông ấy, phải co mình lại, người như trong suốt. Chúng tôi đến rất sớm, biến vào trong làn sóng của các người làm công. Ăn trưa với miếng bánh mì cặp chả trong buồng giấy. Chúng tôi lại ra đi khá muộn, vào lúc trời chập tối. Không ai có thể thề rằng chúng tôi đã ở Palermô về.
Trừ có ông Charton, giám đốc về nhân sự và giám đốc tạm thời về khu vực thương mại. Ông ấy đợi, đợi mãi. Chúng tôi bắt đầu lấy lại can đảm, ngẩng đầu lên, đến hơi muộn, đúng trưa ngày 4 tháng Chạp, ông ta triệu chúng tôi đến.
- Ông Jean, ông có xem báo không?
- Thưa ông giám đốc có ạ. Đây là nghề của chúng tôi.
Ông ta không hỏi tôi. Tôi ở đấy chỉ với tính cách là người ghi chép, người làm chứng.
- Và sáng nay không có điều gì làm ông đau lòng hả, ông Arnoult?
- Không, tôi không thấy, - Jean nói lẩm bẩm.
- Thật không chứ?
Ông giám đốc bèn đưa cho chúng tôi trang thứ 3 của tờ Ô tô từ trên xuống dưới, trên bốn cột :
A. Boillet
trên
Săm Pirolli
đã giật giải
lần thứ X Targa Florio.
- Những săm Pirelli, săm của I-ta-li-a. Đấy đúng là điều tôi nghĩ đến. Ông đã không để ý gì đến số phận của Xí nghiệp M. Nhưng điều đó đã xảy ra. Chúng ta ly dị với nhau một cách êm ả thôi. Đây, tiền lương đã tính của ông, ông Arnoult ạ. Chúc cho đời sống mới của ông được may mắn. Tôi mong rằng có sự may mắn, thật tình là tôi mong, ông Arnoult.
Ông ta đưa ông Arnoult đến cửa mà không để cho ông ấy có thể nói lời tạm biệt với tôi được. Chúng tôi đã trông thấy ông ấy ra đi, dọc theo các buồng giấy, xuống cầu thang, đi ngang qua sân, đi ra không quay đầu lại. Arnoult đã biến đi, không bắt tay ai, ông là người chuyên viên về công việc đối ngoại ông cũng không bắt cả tay tôi nữa.
- Đối với chúng ta, ông Charton nói, ban giám đốc đồng ý tha thứ cho việc này. Tôi và ban giám đốc sẽ tìm cách hiểu ông hơn nữa. Việc đưa ông vào công tác mới không phải là căn cứ và tính cách của ông, cũng không phải là do sự chào hàng. Ông có lẽ thuộc về loại nghiên cứu, tôi có nhầm không, ông Orsenna? Rất tốt! Ông sẽ quay về với cây cao su quý của ông. Tôi muốn có những chiếc xe dính vào đường dù tốc độ thế nào. Đã hết những ngày nghỉ, ông Gabriel ạ, và chấm dứt xăm Pirelli. Chúng ta đồng ý chứ? Gabriel đã trả lời hàng chục tiếng vâng nối tiếp nhau, khá nhiều tiếng vâng để không còn nghĩ đến Jean Arnoult nữa trong nhiều năm cho đến thời kỳ huy hoàng của Tháp Eiffel.
Tôi đã không để mất dấu vết của ông. Vả chăng làm sao có thể làm được, ít ra là phải rời Paris hay là sống mà mặt phải cúi xuống?
Một nhà chế tạo xe đã nhận ông ấy ngay vào trong bộ phận nâng cấp. Nhà chế tạo đó chắc chắn là đã sử dụng cái ý nghĩ thần kỳ của ông ấy: CITROËN bằng chữ hoa, bằng chữ lửa trên bốn mặt của tháp Eiffel. Nhưng sự nhỏ hẹp của nghề quảng cáo và của những sự giao tiếp công cộng đã không do dự nhìn thấy ở đấy dấu ấn của Jean Arnoult, sự khéo léo của ông.
Ông đã kết thúc con đường sự nghiệp của ông ở trên cao ấy.
Ông đã đặt một cái giường ở tầng ba trong một gian phụ của thang máy với lý do để kiểm tra tình trạng các bóng đèn bất cứ giờ giấc nào.