Bà nội Marguerite đó. Những người tôn sùng Đế chế đều vậy cả. Bất kỳ lúc nào, bà nội tôi cũng có thể bắt tôi đứng áp bức tường phía Đông trong nhà bếp, lưng quay về hướng Paris, nơi đã ghi số đo chiều cao của tôi, kèm theo ngày đo (1m 10, ngày mùng 1 tháng Sáu năm 1890; 1m 12 ngày 13 tháng Ba năm 1891).
- Thằng cháu này chẳng thấy cao lớn gì cả thế này?
Và thế là bà nội lại thay thầy thuốc, do đó hai bà cháu lại đành phải cuốc xa hơn nữa khỏi Levallois và bắt tôi nuốt những chế độ ăn uống ngày càng lạ lẫm. Khi, cuối cùng, lễ ăn mừng tôi cao một mét hai mươi được tổ chức thì tôi đang ăn theo chế độ, sáng cần tây (cháu Gabriel này, ăn thế sẽ bổ cơ bắp, cốt khung của cơ thể đấy), bữa trưa đậu lăng (có chất sắt, một cốt khung khác, Gabriel, cháu cứ trông tháp Eiffel ấy), khoảng năm giờ chiều, uống nước trà (nó tránh không gây béo vô tích sự, Gabriel ạ, nhưng cẩn thận đấy, pha loãng thôi), khoảng hai mươi giờ, uống dầu cá (cháu Gabriel này, thành thật mà nói, uống nó khó chịu đấy, nhưng không phải vô lý mà bà đã bảo cháu uống, cơn buồn nôn sẽ làm giãn cơ bắp và góp phần thúc đẩy sự phát triển cơ thể cháu).
Một lát sau, bà nội Marguerite lại đổ lỗi cho các loại thuốc phải chịu trách nhiệm về sự chậm phát triển của tôi. Bà nội có tất cả các loại thước, những thước vải thợ may, những thước đo chiều cao, những thước dây của người đo đạc… Bà nội đem chúng đến Sèvres, giấu không để bố Louis biết. Tôi hết lòng giúp bà nội. Những chiếc thước, đến là nặng.
- Cháu này, nhà ta nóng hết chỗ nói. Bà có cảm giác các thước bị giãn. Chính vì vậy cháu không nhớn được.
Các viên chức của Viện Trọng lượng và Đo lường đã đón tiếp hai bà cháu tôi rất thân ái.
- Những người như hai bà cháu bà thật là đẹp, những kẻ si mê chân lý. Hơn nữa đây là một bài học tốt về sự chuẩn xác dành cho chú bé.
Họ đưa các thước đi đo với mẫu chuẩn, một lát sau họ quay lại.
- Ổn cả, có lẽ trừ cái này, bằng vải. Quả là nó có hơi dài hơn tí chút. Chắc trong khi bà đi vắng, chú bé đã lôi nó ra nghịch. Phải khuyên chú chấm dứt ngay trò nghịch đó.
- Các vị khuyên tôi nên giữ ở nhiệt độ nào?
- 20o
- Độ ẩm bao nhiêu?
- 60%
- Cháu thấy đấy, - bà nội Marguerite bảo lúc quay về nhà, - chúng ta đã xử sự đúng khi đưa thước đi kiểm tra.
Chúng ta chẳng nên mắc chứng hoang tưởng tự đại. Gabriel không phải là lý do độc nhất gây thất vọng cho bà Marguerite. Mọi thứ đều gợi lên cho bà nỗi thương xót đến sự bé nhỏ của nước Pháp: bề rộng của sông Seine (cháu Gabriel này, cháu có thể hình dung được rằng người ta chẳng bao giờ nhìn thấy bờ bên kia sông Amazone), lượng nước mưa (ít hơn 100 mm một giờ, đừng nói với bà đấy là một trận mưa), độ lớn của trứng (cháu Gabriel này, rõ ràng là mấy ả gà vùng ôn đới không biết đẻ rồi).
Nhưng nỗi đau buồn lớn nhất của bà nội là tấm bản đồ thế giới vẽ hai bán cầu. Đang hân hoan vui vẻ sau bữa tiệc mừng, ấy thế mà chỉ cần thoáng trông thấy tấm bản đồ này là bà nội lại đắm mình trong nỗi đắng cay.
- Cháu Gabriel này, cháu ngó thử coi, cái chấm màu hồng này chẳng là gì nếu đem so với nước Mỹ hoặc nước Nga. Vả chăng, bấy lâu nay Đế quốc của chúng ta chững lại. Rõ ràng là, cháu Gabriel tội nghiệp của bà, cháu phải giữ gìn nước Pháp đấy.
Một quyền kế thừa như vậy đè kể cũng hơi trĩu nặng đôi vai.
Còn những lý do khác về vóc dáng bé nhỏ của tôi. Bố Louis và bà nội Marguerite còn phải tốn nhiều công sức, tôi cảm thấy chỗ thiếu kém ở trên đầu mình, một khoảng trống, một sự lạnh lẽo, ở ngay trên đầu tôi, ngay tại vị trí trong nhánh phả hệ của tôi, lẽ ra sản phụ trẻ đã ngự chiếm, ngay cả sản phụ này cũng đã bỏ trốn khỏi bệnh viện để mặc chúng tôi giữa đám bà xơ từ thiện đội mũ vành vểnh và những sản phụ khác om sòm kêu thét. Một loại khoảng trắng, một ngày nào đấy, sẽ ngốn nuốt tôi. Thôi, thôi, khoảng trắng sẽ bảo, chấm dứt cái trò làm ra vẻ như đang sống đi. Gabriel, một chú bé không mẹ, chẳng bao giờ lìa khỏi cõi hư vô.
Trong những điều kiện như vậy, tốt hơn hết không nên lớn phổng và nên ở tầng bên dưới.
Sau này, mãi sau này, chỉ mới cách đây dăm năm, ngoài thềm chan hòa ánh nắng, trên đường Saint-Germain, nơi hai bố con tôi ngồi uống rượu buagơi để chào mừng ngày một trăm năm giải phóng Paris, bố Louis mới bảo tôi:
- Con ạ, bố đã làm hết tất cả để thay mẹ con. (Bố nói chậm rãi. Rượu buagơi khơi gợi câu chuyện, nhưng không tạo điều kiện dễ dàng cho cách diễn đạt. Bố cầm tay tôi). Gabriel con, bố đã làm tất, bố đã làm tất cả, tất tần tật. Bố hy vọng rằng con đã nhận thấy?
Gabriel đã nhận thấy.
Gabriel không chỉ nhận thấy mà còn tạo điều kiện, nếu tôi được phép nói ra, làm câu chuyện tình khó tin của bố tôi thêm ly kỳ. Tuy đã mượn các vú nuôi (toàn những kẻ vô nhân đạo), bà nội Marguerite và bố Louis vẫn thay phiên nhau chăm giữ tôi. Nhưng một ông bố, suốt ngày đau khổ với một đứa trẻ nhỏ thì làm được những gì? Các ông bố không thích đi dạo, các ông bố không thích những trò chơi xây đắp. Vì tôi, nhờ tôi mà bố Louis đã bắt đầu thừa nhận.
Hồi đầu, bố Louis khóa cửa nhốt tôi trong phòng. Nhưng tôi không chịu khuất phục mấy chị vú vô nhân đạo để yên nơi lưu đày đó. Tôi òa khóc. Bố Louis liền lập tức xuất hiện, ngang bụng cuốn một chiếc khăn tổ ong kỳ cục. “Ngoan nào, ngoan nào, Gabriel”, - bố tôi nựng, rồi để tôi được ở bên cửa sổ, bên bố và bà nội.
Chú ý, xin đừng tưởng rằng bé Gabriel bị quẳng một cách thiếu thận trọng cho bản chất cay nghiệt và rực rỡ của giới tính. Bước đầu rèn luyện của chú được thực hiện tuần tự, thoạt đầu thông qua tai. Đôi chân nhỏ bé của chú chưa đủ sức mang nổi chú, chú nằm trên lớp đệm bằng lông chim trong nôi, được ngăn bằng một lớp song bằng gỗ liễu gió nâu, điểm những tiếng líu lo tán thành nào là được, được – được đấy, nào là không phải vậy, để đấy ôi! để đấy, ôi! ôi! Để đấy mà! Sau đó là thị giác, khi chú Gabriel đứng dậy được.
Nhưng, vào năm ấy, mùa xuân đến chậm, các nhà lực sĩ thường ở bên dưới chăn bằng lông chim hơn, hãn hữu và chốc lát mới mon men đến bên thành nôi hoặc đứng trên tấm thảm con. Phải đợi tới đang độ mùa hè mới được chứng kiến cảnh tượng đầy đủ hiện còn bị che khuất: những người phụ nữ tóc dài và búi tóc bị xổ; ngay vào đầu, cuộc đấu hơi căng, tuy được kẹp cả đống kẹp tóc, chúng vẫn xổ tung ra. Hơn nữa, cái cảnh kích động này thường bị kẻ khó tính gây gián đoạn:
- Kìa, ai thế? – Nàng khách được mời bỗng gào lên, khi cuối cùng nhận ra sự hiện diện của tôi.
- Con trai anh đấy mà, em yêu.
- Không, em không thể được nữa đâu. Ánh mắt đứa trẻ nhỏ đó, làm em ớn lạnh.
- Thôi mà, em yêu, vào tuổi ấy… - bố Louis đáp.
- Quả thật, anh có một gia đình kỳ cục, - nàng nọ vừa mặc quần áo vừa lẩm bẩm, - Và khi em bảo kỳ cục …
Bằng cách nào, bố Louis đã gặp được tất cả những phụ nữ ấy?
Ngay với câu hỏi đầu tiên này, chú Gabriel hay ghen đã tìm ra ngay được lời giải đáp: nhờ có cửa hiệu sách. Các bà các cô được những vị thị trưởng, các vị tổ chức du lịch, các cơ quan nơi bà nội Marguerite đính mấy tờ quảng cáo, cứ đi để đến lân la nắm tình hình, các bà các cô này sắp phải lên đường
Họ e lệ đẩy cửa:
- Những thuộc địa, nguy hiểm không anh?
Những bà những cô không phải lên đường thì tỏ vẻ tự tin hơn: anh có quyển sách về sự thay đổi của môi trường không? Dần dà câu chuyện chuyển sang hình thức bóng gió. Bố Louis chẳng bị lâm vào cảnh bất công, sự chuyển hướng này, điều kiện cần nhưng còn xa mới đủ, được sự tò mò của mấy bà mấy cô đến thăm tạo điều kiện thuận lợi hơn, bao giờ cũng vẫn là những câu hỏi tương tự:
- Ở đằng đó, thực sự nóng bức à?
- Dân bản xứ thực sự man dại à?
Điều bí mật xuất hiện từ đấy.
Bố Louis đã bằng cách nào để biến hóa, hầu như lần nào cũng vậy, cái hoàn cảnh lập lờ nước đôi ấy thành một câu hỏi trắng trợn: ngày mai chị sẽ tới chỗ tôi chứ? Câu hỏi này, chú Gabriel, người rất ghen với bố, sau bao năm, bao năm điều tra vẫn chịu bó tay không giải đáp được. Chú không tài nào đoán ra.
Ta phải nói thêm một sự thật nữa, đành đắng họng thú nhận rằng nó cũng cứng như miếng bánh phải nuốt vào những tối viêm họng: ông bố tôi, ông thật bảnh trai và cao lớn. Đôi mắt hạt dẻ và đôi má trái ngược hắn với má tôi, bị hóp, đôi má như bị miệng hút vào do đó trông ông có vẻ man dại. Tôi chưa nói hết. Dù phải trả giá thế nào, tôi vẫn mô tả hết. Vẻ man dại và dịu dàng vì trong các hõm ấy, ở mạn dưới, như để kéo trễ môi, mỗi bên có một chiếc lúm đồng tiền. Tóm lại, khuôn mặt của bố tôi dâng hiến cho phụ nữ mọi ước muốn: dữ dội và dịu dàng, hứa hẹn bao ve vuốt, nhưng có thể tàn nhẫn. Phần còn lại trong giải phẫu cơ thể của bố tôi, bạn sẽ chẳng biết tí gì hơn nữa. Phải giữ đạo làm con. Bạn chẳng nên thất vọng, mong bạn coi trọng nỗ lực tôi vừa cố dốc sức thổ lộ khi thừa nhận nỗi ghen của tôi và nên thỏa mãn đến đấy thôi.
Thỉnh thoảng, khi về nhà, bà nội Marguerite chạm trán một vị khách nữ được mời tới đang đứng trước gương chấm lại chút phấn trên mũi lúc sắp rời khỏi nhà hoặc, còn tồi tệ hơn, đang yêu cầu bố Louis siết chặt chiếc corxê.
- Ôi! Xin lỗi bà, - người bạn nữ của bố tôi lắp bắp. - Ôi! Xin lỗi.
Ả nọ vội vã thu dọn các thứ của mình (không sao cả, cô em, - bà nội Marguerite bảo) và chuồn thẳng.
- Mẹ, mong mẹ hiểu cho con, - bố Louis lấp liếm, - ở đằng ấy, tại các nước thuộc địa, con sẽ không có được sự lựa chọn này. Dưới chí tuyến, mọi phụ nữ đều giống nhau. Đại loại như thời tiết. Ở đằng ấy không có các mùa.
- Nhưng mẹ có bảo gì đâu, anh tồ của mẹ.
Bà nội Marguerite đồng tình. Bà nhìn mọi thứ yên vị, mọi sự kiện diễn ra tại số nhà 12 trên đường phố Corneille vừa được xây dựng bằng cặp mắt kiêu hãnh rất hiền hậu của Đấng Sáng Tạo: tự hào một cách thỏa đáng.
Ngày nay, tôi hiểu ra tại sao mẹ tôi chạy trốn: một người đàn bà hợp pháp, dĩ nhiên, thiếu không trung trong bầu Sáng Tạo này.
Tôi vẫn còn nhớ những ngày chủ nhật và trí nhớ của tôi cũng có giá: mọi thứ trôi qua, thời gian, tiền bạc, dòng sông Seine. Sáng tinh mơ, bố Louis bước vào phòng tôi:
- Con chuẩn bị, ta đi nhé!
Tôi tự hỏi hồi lâu không biết bố Louis định đi đâu: vào rừng, đến nhà thờ? Dẫu sao tôi vẫn mặc vội áo xống và hai cha con rời khỏi nhà giữa buổi ban mai, người huýt sáo, kẻ tung tăng. Cho yên tâm, cha con tôi định bụng đi xà lan. Nhưng các xà lan ngựa kéo đầy ứ những người say mê trò cược cá ngựa đã không buồn ghé vào bờ. Chúng tôi đành đi bộ đến Longchamp.
- Rảo cẳng lên, bố Louis giục, - ta bị lỡ cuộc đầu mất.
Bố tôi tự nói với bản thân mình. Đấy là lúc nói về các dự kiến bất động sản của bố tôi:
- Nếu, cuối cùng, ta không đi tới các thuộc địa, bố, bố sẽ chắc chắn dọn đến ở trên đồi Saint-Cloud. Từ các ban công phía Đông, chỉ cần dùng ống nhòm có thể thấy những con ngựa về đích.
Với bố Louis, xã hội ở trường đua là một loại xã hội kiểu mẫu: những gì ta có thể làm được tốt ở dưới trần gian này, trái đất và người có sao thì như vậy. Vừa bước qua cửa bán vé, bố vung tay chỉ đám đông, cây cối, bãi cỏ, nơi cân các dô kê, mũ của phụ nữ, các khán đài…
- Cuộc sống phải như thế này, Gabriel ạ.
Chắc chắn là bố Louis đã có lý. Chúng ta sẽ có những cái tên phóng khoáng hơn: Val d’Amour hoặc Vigne d’Or[1]. Chúng ta sẽ mặc áo quần theo sắc của chủ: luật chơi sẽ rõ ràng hơn. Thế rồi, bất cứ giờ nào, ta cũng có thể đánh cược một cuộc đua mới, bắt đầu lại từ đầu. Mỗi lần bố con tôi nói về ngựa, bố tôi lại trịnh trọng nhìn tôi: có lẽ bố Louis mong đợi tôi giúp bố thay thế thế gian này bằng một trường đua ngựa. Do đó, chúng tôi chẳng bao giờ đề cập đến đề tài này nữa. Chắc bố tôi bị thất vọng. Tôi đã không trợ giúp bố Louis được mấy trong công việc của ông. Trong các cuộc đua, bố tôi cứ mím chặt môi, bỗng chốc trở nên nhợt nhạt tựa hồ ông sắp bật khóc. Bố Louis siết tay tôi mỗi lúc một chặt khi tốp ngựa đua lần lượt dần dần tiến về đích. Gabriel hòa tiếng hò hét của mình với đám đông. Gia đình Orsenna còn thừa thời gian để bị thua hai, ba cuộc trước lúc đến giờ ăn trưa. Vả lại bữa ăn chỉ thích hợp sau cuộc đua cuối cùng, “để dòng người rút đã”. Đám đông từ từ rời bỏ trường đua ngựa, một số đi khuất vào rừng trở về Auteuil hoặc Neuilly, số khác quay ra mạn bờ sông. Hai bố con tôi có thói quen thường tạt vào quán cà phê dựng tạm vào các ngày Chủ nhật, nằm ngay sau cối xay gió.
- Thế nào, ta uống mừng là đã có đường dây mách giúp cách đánh cược chứ? - Các bạn đánh cá cược của hai bố con tôi hỏi.
- Xem ra ông bạn đây đã biết cách kéo dài thời gian, - chủ quán nói.
- Đúng, thời gian, như mấy chú ngựa đua cừ của tôi, lần này, lẽ ra phải rảo vó…
Mấy tay dân ngoại ô Paris, khi sà vào các bàn bên đã tỏ vẻ mừng rỡ như hai bố con tôi là không ở trong nội thành: ít ra bọn ta, bọn ta có thể đợi “để dòng người rút đã”.
Sắp hết giờ chuyến xà lan ngựa kéo cuối cùng. Bố Louis giúp chủ quán tháo dỡ các lọng che, xếp ghế lên chiếc xe ngựa con.
Nước sông Seine có màu đen, chiếc xà lan ngựa kéo lúc cặp bờ bên này, lúc cặp bờ bên kia để đón khách, toàn khách quen, nên ì ạch chẳng thấy tiến được mấy.
- Nước chảy xiết quá, không sao, - bố tôi bảo.
- Nếu họ không mở cửa cống ở Suresnes vào tất cả các tối thứ Bảy thì đâu đến nỗi, - người thu vé nói.
Hai bố con tôi về tới Levallois vào lúc trời tối. Chúng tôi xuống xà lan ngay cạnh xưởng đóng tàu Cavé. Trong bóng đêm tàu bè nằm trên cạn có hình thù thật kỳ dị. Xà lan ngựa kéo đi tiếp về Clichy, Gennevilliers, Nord. Còn lại hai bố con tôi giữa các mùi vị. Bố Louis để tay trên vai tôi. Bố rụt rất nhanh tay lại.
- Bố ngốc thật, bắt con phải gánh thêm một sức nặng nữa. Thế nào, Gabriel, đây đúng là lúc con lựa chọn để nhớn phổng phao chứ?
Bố Louis chưa tới ba chục tuổi. Tôi đã quá tuổi bắt đầu có lý trí[2].
Gabriel có nhiều chú ngựa khác trong ký ức của mình và một trường đua ngựa khác, ngay trên điểm này, bên bờ sông Seine. Sát ngay cạnh xí nghiệp xe đạp Clément Bayard. Hội đồng thị chính đã cho xây dựng nó để tạo cho thị trấn chúng tôi một chút vẻ hào nhoáng. Xin bà con hãy cảm ơn bầy ngựa, các tổ quảng cáo đã thông báo vậy, chúng làm cho đất đai của ta có giá. Bố Louis bỏ ngoài tai: bố chẳng muốn giá cả bất động sản xoay xỏa trên lưng chú ngựa thuần chủng. Một lần nữa, bố đã không nhầm. Tham vọng về trường đua ở Levallois chuyển hướng đột ngột. Một trường đua ngựa rất phù du. Đường đua 2.400 mét chỉ tồn tại trong mười năm. Người ta đã xóa nó, ngay vào năm 1900…
Chính tại đây, “Câu lạc bộ nước kiệu ở Levallois” đã tổ chức một cuộc đua mang tính chất dung tục đến nỗi làm bố Louis lợm giọng buồn nôn: đại tá Cody, biệt hiệu Buffalo Bill, đua với Meyer, nhà vô địch nổi tiếng, người thứ nhất cưỡi ngựa, người thứ hai cưỡi xe đạp (nhãn hiệu Clément). Tiền đặt: 10.000 frăng.
Báo chí phấn khởi đưa tin cuộc thách đố: “Chủ nhật này, tại Levallois, tính truyền thống liệu có cưỡng lại nổi tính hiện đại không? Tờ báo của chúng tôi xin lĩnh trách nhiệm: Chủ nhật tại Levallois, kỹ thuật của con người sẽ hạ thấp con vật.”
Tất nhiên bố Louis đã không bận tâm tới “cái trò lố lăng” này. Hôm đó, bố ru rú tại phố Corneille. Với ai? Chắc hẳn với một cô khách mời hay gây ồn ào, cô Isabelle hay cô Claudine thợ đóng sách, những cô ta có thể yêu mà không gây náo động tới các vị hàng xóm sống gần các sân vận động. Vào những buổi tối dự đấu, lúc gần tới đích, các cô cứ gào tướng lên, bạn rõ rồi đấy…
Trong đời mình, chú Gabriel ít được biết ngày lịch sử.
- Người dân Levallois ủng hộ công nghiệp hiện đại.
- Dân Neuilly, vốn là những người ham thích đua ngựa vượt rào, cổ vũ con vật.
- Những người khác fifty-fifty[3].
Còn chú, Gabriel ghét cay ghét đắng Buffalo Bill do đã từng được nghe các câu chuyện của bà nội Marguerite kể (tay đại tá Cody này là một tên người Mỹ đáng nguyền rủa, một tên sát hại những người da đỏ và người Mêhicô, vv) nên chỉ quan tâm tới chiếc xe đạp, chú sững sờ trước cảnh nhà vô địch Meyer ngốn các vòng đua, lặng lẽ, nhẹ nhàng như lướt, như mơn man mặt đất.
Chú kéo tay áo bà nội.
- Bà ơi, ông Meyer làm thế nào mà cứ như bay nhảy thế, bà?
- Đấy là nhờ chất cao su, cháu ạ. Bánh xe của ông ấy cuốn quanh một lớp cao su…
Khi quay về nhà, chú Gabriel nhìn nhận với con mắt khác quả bóng bằng mút đỏ mà chú đã từng coi khinh.
Nhờ có cuộc họp mặt ấy của Câu lạc bộ ngựa nước kiệu, nên chú Gabriel có thể xác định chính xác ngày tháng mở đầu thiên hướng của chú về cao su: 1893, năm chú được mười tuổi, ta có thể dễ dàng lần tìm ra ngày đó qua báo chí đương thời. Và tôi cho rằng chính bố Louis đã tìm được một cái tên để đặt cho tôi khi ông đến ôm hôn tôi vào buổi tối: Gabriel tròn trĩnh, ngủ say đi con, Gabriel, con nẩy cho chắc từ giấc mơ này sang giấc mơ kia, Gabriel tròn trĩnh của bố.
Nhưng thôi, ta tạm rời chú Gabriel có mặt khắp nơi và quay về với sự việc: tuy nhà vô địch Meyer đã cố hết sức, chiếc xe đạp vẫn bị đánh bại, Buffalo Bill và con ngựa của ông ta đã thắng. Đêm đó, niềm hân hoan của bầy ngựa thật lớn, ngựa trong thị trấn nhiều vô kể. Đúng, đêm đó chúng ăn mừng chiến thắng của chúng. Chúng hí vang, thở mạnh, đá hậu, thoát ra ngoài, lồng chạy trên các đường phố và đái tồ tồ như thác chảy tại các ngã tư, nước đái khai hơn và nhiều hơn ngày thường. Dân Levallois tuy quen với sự hiện diện của những con vật bốn chân này mà họ thu được không những chỉ phần lớn thu nhập của mình, thêm vào đấy còn một số lợi ích phụ nữa, đã không thể chợp mắt được vào cái đêm nhộn nhạo đó và thế là, hôm sau hai mươi bảy người đã đến gặp thị trưởng, đưa đơn phản đối, đòi không được biến Levallois thành một chuồng ngựa hỗn loạn lớn nhất của nước Cộng hòa.
Ít lâu sau, hậu thế phải chịu trách nhiệm phúc đáp nguyện vọng của họ.
Khi ngựa biến mất, nhường chỗ cho các xe “ô tô”, chúng để mặc con người một mình đối mặt với đất đai, không nguồn thu nhập nào khác ngoài tốc độ gây náo động. Để đổi lại, du khách mất một phần cảm xúc và các chuyến đi mất vẻ nồng ấm, nồng ấm do cặp mông bốc khói, còn phía trước là sự lắc lư do con vật đang chạy nước kiệu.
❀ ❀ ❀
[1] Thung Lũng Tình Yêu hoặc Cành Nho Vàng. (N.D.)
[2] Bảy tuổi. (N.D.)
[3] Chia đôi. (Tiếng Anh trong nguyên bản. N.D.)